Ngan ngát hương sen

Nhã Lan lớn lên ở miền Ðông Canada, nơi mùa Ðông rất lạnh và mùa Thu đầy lá vàng. Cô vừa tốt nghiệp khoa văn chương và bắt đầu đi dạy học ở vùng ngoại ô yên ả. Nhã Lan sống với bà ngoại từ bé, và ít nghe nhắc đến cha mẹ. Ngày Tết hàng năm, bà cháu ngồi bên nhau trước lò sưởi trong gian phòng nhỏ. Bên ngoài tuyết rơi dầy đến nửa thước. Ngoại thường kể về những kỷ niệm quê nhà, nơi có nắng ấm chan hòa trên áo mới, người người tấp nập lên Chùa lễ Phật, hái lộc đầu năm, có hoa cúc, hoa mai, có pháo nổ dòn, có bánh chưng xanh, có tiền lì xì trong phong bì đỏ… Bà mong sớm gã chồng cho Nhã Lan, để về sống những ngày còn lại với bà con, vườn ruộng, xóm làng. Năm nào cũng là câu chuyện tương tự. Nhã Lan cứ muốn nghe hoài, cô thường lơ mơ ngủ trong lời kể ngọt ngào, có khi mơ thấy cảnh ngày Tết ở quê nhà như lời bà. “Tết” vẫn trừu tượng với cô gái lớn lên ở một nơi rất xa quê ngoại.

Khoa biết như thế. Anh muốn có tuần trăng mật với Nhã Lan ở ngôi nhà của bố mẹ, vào ngày Tết Nguyên Ðán. Nhã Lan đã hồi hộp khi về ăn Tết bên chồng, với những người thân của Khoa mà cô chỉ gặp một lần trong ngày cưới.

Khoa có thông lệ đoàn tụ vào ngày Tết Nguyên Ðán. Năm nay có đặc biệt hơn, vì là sinh nhật thứ 50 của mẹ anh, và cũng là lần ra mắt của cô con dâu thứ hai.

Ngôi nhà ở phía Tây thành phố Vancouver, giữa bờ biển Kitsilano và trường đại học UBC, nơi ấm áp nhất Bắc Mỹ. Ngày hai mươi tám Tết, Khoa và Nhã Lan bay từ miền Ðông về sớm, để có thời gian riêng với bố mẹ. Sáng Ba mươi, vợ chồng người anh lớn, Hiển, Thu Mai và con trai; cô út Kim Thùy và Minh, vị hôn phu cũng về đến. Lúc đầu, Nhã Lan bỡ ngỡ thu mình lại, nhưng ánh mắt cương nghị và bao dung của bố chồng, nụ cười hiền từ của bà mẹ làm cô yên tâm. Cô có nhiều thời gian với bà trong gian nhà bếp, khi chuẩn bị mấy món bánh mứt cho ngày Tết. Dáng bà thon thả, khuôn mặt trái soan, mắt môi vừa phải nhưng có duyên. Nhã Lan nhận thấy bà mẹ chồng rất ít nói, giọng dịu dàng, thái độ trìu mến, và bà có nụ cười trong ánh mắt.

Khi những người đàn ông trang trí nhà cửa, bàn thờ Chúa, bàn thờ Phật và bàn thờ Ông Bà, chưng những nhánh mai rừng, săm soi cành đào, mấy chậu cúc vàng và vạn thọï; phụ nữ quay quần trong bếp, nấu những món ăn chay dành cho chiều Ba Mươi và ngày Mồng Một. Trong gia đình, thông lệ nấu bánh tét, bánh chưng (trong chiếc nồi thật to, đặt trên chiếc lò sưởi đốt bằng than và củi) vẫn còn duy trì. Thật đầm ấm khi ông bà, các con và cháu thức khuya nhắc chuyện xưa, chờ bánh chín, và đón Giao Thừa bên nhau.

Tựa đầu trên vai Khoa, Nhã Lan chìm vào câu chuyện qua giọng nói trầm ấm của bố chồng….

“….Ðầu năm 1971, Huy được bổ nhiệm về làm bác sĩ quân y tại quận Chợ Gạo, nằm trên tuyến đường quan trọng nối liền Sài Gòn và Gò Công. Là một thanh niên lớn lên giữa ánh đèn của thành phố Sài Gòn, trong một gia đình trí thức giàu sang, nhiều bạn bè vui nhộn, lại vừa du học ở Mỹ về, Huy đã bỡ ngỡ khi bắt đầu sống đời quân ngũ ở một quận lỵ buồn tênh, đầy tiếng đạn bom. Sau những ca trực, Huy lang thang tìm hiểu cuộc sống của dân chúng quanh vùng. Từ dinh quận ra bến phà, có trạm y tế và nhà thông tin. Bên trái là con đường trải đá dẫn đến trường trung học và chợ huyện. Bên phải là con kinh Chợ Gạo, có chiếc phà nhỏ được kéo bằng tay bởi một sợi dây cáp. Bên kia bờ kinh, sát bờ sông, là đồn lính có nhiều vòng dây kẻm gai bao bọc; đối diện là trại gia binh lao xao tiếng trẻ chơi đùa. Kế là bến xe lam đi Mỹ Tho, những người tài xế thường ngồi chòm hỏm, hút thuốc rê, đợi khách bên lề đường. Những chiếc xe đò chở khách từ Sài Gòn về Chợ Gạo, Gò Công đậu chờ qua phà, khách qua lại ăn uống, làm khu phố quê thêm nhộn nhịp. Ngay bến xe là trường tiểu học Tân Thuận Bình, có nhiều thầy cô giáo trẻ ở Mỹ Tho xuống dạy, thường đi trể, về sớm; lũ học trò đến lớp chân còn lem bùn, đầu hôi khét nắng. Ðối diện trường học là ngôi nhà kiểu xưa của bà giáo, dưới tàng cây me tây cổ thụ thường trổ hoa vào mùa Xuân, có xe đậu đỏ, lũ học trò nhỏ thường bu quanh ăn nước đá nhận sau giờ tan trường. Khu chợ xã nhỏ xíu, người dân quê bày bán nhiều loại rau xanh, khoai, bắp, bánh tầm lá dứa thơm phức. Chợ thường họp lúc tờ mờ sáng và tan trước buổi trưa. Ði thêm vài bước qua khỏi chợ, một khuôn viên có lối đi lát sỏi trắng, có hoa bằng lăng tím và sen đang nở hoa trong hồ: Tịnh Giác Viên. Huy cảm thấy yêu thích sự yên tỉnh và tao nhả ở nơi này.

Là một người đạo Thiên Chúa, đã được rửa tội, thoạt đầu, Huy đến viếng Tu Viện vì hiếu kỳ trước khung cảnh xinh đẹp nơi thôn dã. Sư Cụ đón tiếp Huy thật thân tình, làm anh cứ muốn đến thường xuyên. Huy được mời ở lại dùng cơm cùng Sư Cụ. Những món ăn trong Chùa thanh đạm, Huy ăn rất ngon miệng. Lúc dùng trà, hai người thường bàn luận hàng giờ về văn chương, xã hội và những ước mơ từ thiện, giúp dân và xây dựng thế hệ mầm non. Sư Cụ Tịnh Giác đã đưa ra những tư tưởng canh tân giáo dục và y tế, nhằm cải thiện nếp sống của người dân quê nghèo. Huy ngạc nhiên về kiến thức uyên bác của Sư Cụ (mà phút đầu, anh đã nghĩ, người chỉ là một nhà sư ít học ở miền quê). Sư Cụ và Huy đã cùng thực hiện chương trình chửa bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân trong vùng vào cuối tuần tại Tu Viện. Trở thành quý khách của Tịnh Giác Viên, anh được mời những tách trà thơm ngát hương sen do bà cụ làm công quả ở nhà bếp và đứa cháu gái nhỏ ướp, với phương pháp đặc biệt, lúc sen còn tươi. Một hôm, khi các chú Ðiệu trong chùa đang bận rộn, Sư Cụ gọi vọng ra sau nhà bếp:

– Tịnh Liên à, con chịu khó ra hồ, cắt vài bông sen. Luôn tiện, coi gương sen nào vừa chín thì hái tặng bác sĩ vài cái nghe con!

Huy nghe tiếng “Dạ!” nhẹ và một chiếc bóng nho nhỏ thoáng qua cửa sau. Ðộ chừng một khắc trôi qua, Huy thấy một cô bé chừng mười ba, mười bốn tuổi, gầy gò, tóc ngang vai, mặc áo nâu, quần xắn lên đến gối, chân lấm tấm bùn, ôm một bó sen bước vào.

Trong những ngày làm việc ở đây, Huy để ý thấy cô nhỏ Tịnh Liên rất quan tâm đến các trẻ mồ côi, tật nguyền, được Sư Cụ nhận nuôi trong chùa. Cô thường vừa bồng, vừa dắt các em ra gian nhà bếp chăm sóc, đút ăn, đùa giỡn rất mực thương yêu… Nhìn những hình ảnh ấy, Huy cảm thấy niềm vui khó tả và trong lòng dâng lên niềm cảm phục đối với từng người trong Tịnh Giác Viên.

Lần ấy, người bạn gái vừa đính hôn với Huy từ Sài Gòn xuống thăm, cũng để  ăn Tết với anh. Huy đưa Diễm Hương đến Tịnh Giác Viên, để chia xẻ với nàng những việc thiện nguyện đang thực hiện. Diễm Hương tỏ ra thích thú và sẵn lòng giúp một tay vì nàng vừa tốt nghiệp dược sĩ.

Cuối năm, làn gió mát rượi từ phía bờ sông thổi vào thật dễ chịu. Mọi người  nôn nao chuẩn bị ăn Tết. Sư Cụ và Huy vui vẻ nhận những quà tặng, nào bắp, nào khoai sắn, chuối dừa, của người được chữa bệnh mang đến tạ ơn. Ai cũng tấm tắc khen “bà bác sĩ” cao sang, tuyệt đẹp, Diễm Hương rất vui lòng. Nghĩ tay, Huy âu yếm đưa Diễm Hương xuống nhà bếp tìm nước uống. Nhìn người vợ sắp cưới đang dũa lại chiếc móng tay sơn hồng bị gẫy, vừa ngồi chờ bà cụ pha trà. Tự dưng, Huy cảm thấy có một chút không ổn trong anh nhưng không nhận ra là điều gì. Trên sàn nhà, hai em bé khuyết tật đang bò chơiø. Một em đưa bàn tay dơ bẩn định nắm cái tà áo dài lụa màu thiên thanh của Diễm Hương để đứng lên, nàng hoảng hốt bước qua một bên. Có thể do màu áo xanh nổi bật hay mùi nước hoa thơm dễ chịu làm cho em bé bò theo nàng . Diễm Hương nhíu đôi mày xinh đẹp, thấy không ai để ý, nàng dùng chân hất nhẹ đứa bé ra. Không may, do đột ngột bị mất thăng bằng, em bé va đầu xuống nền, khóc ngất. Tịnh Liên buông vội cái thúng ngó sen xuống sàn nước, chạy tới ôm đứa bé vào lòng vỗ về: “Nín đi cưng! Ðể chị xức dầu cho em nghe!”. Huy sững sờ trong giây lát, anh quay lại xem xét chỗ đau của em bé. Thấy không nghiêm trọng lắm, Huy lặng lẽ trở lên chánh điện. Anh chợt hiểu rõ điều không ổn trong anh là gì.

Hai tuần ăn Tết bên nhau, Huy và Diễm Hương có dịp bàn luận về trách nhiệm, quyền lợi của mỗi người trong gia đình tương lai. Anh giải thích cho Diễm Hương về những ước mơ của mình từ lúc theo học Y khoa. Nàng không chấp nhận để Huy tiếp tục công việc phát chẩn ở Tịnh Giác Viên vì  e rằng anh mất nhiều thời gian, tốn tiền bạc, để làm chuyện “bao đồng”, thay vì mở phòng mạch tư sau giờ trực, sẽ có nhiều lợi nhuận. Huy đồng ý suy nghĩ của Diễm Hương đúng. Nàng cũng như những người phụ nữ bình thường khác mà anh đã từng gặp gỡ, say mê, theo đuổi, hẹn hò, và… chia tay.

Những năm sau đó, Huy có thêm vài mối tình. Những bóng dáng đi qua đời anh như những cơn gió thoảng, không để lại chút ấn tượng nào đáng ghi nhớ. Nhan sắc và tài năng của họ không thỏa đáp được một nhu cầu rất riêng trong anh mà chính Huy cũng chưa hiểu được mình đang muốn gì.

Mặc dù lui tới làm việc cùng với Sư Cụ nhưng Huy ít khi tiếp xúc với Tịnh Liên. Có khi anh bắt gặp cô bé ngủ gật trên trang sách, dưới gốc bằng lăng tím trong khuôn viên chùa. Thỉnh thoảng trên chuyến phà Chợ Gạo, Huy gặp Tịnh Liên trong chiếc áo dài trắng, tóc dài, hồn nhiên, cùng với các bạn gái trên đường đến trường. Cô gọi Huy bằng Chú và xưng con rất tự nhiên, vì anh là “bạn” của Sư Cụ ở Chùa (dù Huy chỉ hơn cô mười hai tuổi).

Cuối năm 1973, Huy được lệnh thuyên chuyển về đơn vị mới. Thơ thẩn dạo quanh hồ sen, nhìn những chú chuồn chuồn rời đóa hoa sen này, đáp xuống nụ sen khác, anh cảm thán cho chính mình. Chỉ còn hai tuần nữa anh sẽ từ giã nơi đây; về làm việc ở Bệnh viện 3 Dã Chiến, Mỹ Tho. Ðời lính rày đây mai đó là chuyện bình thường. Hơn thế nữa, được trở về thành phố là điều đáng mừng. Nhưng có điều gì làm Huy cảm thấy ray rứt khi phải xa rời cái quận lỵ bé nhỏ, buồn tênh này. Có phải đây là nơi có những đồng đội thân thương; có dòng kênh Chợ Gạo màu nước vàng phù sa với những người dân quê chất phát, có Sư Cụ Tịnh Giác nhân từ, trí tuệ… Ðang mơ màng suy tư, Huy chợt nghe một âm thanh nhỏ nhẹ sau lưng:

– Thưa chú, Thầy mời chú vô ăn cơm trưa.

Huy quay lại nhìn, tình cờ để ý thấy Tịnh Liên dạo này bắt đầu ra dáng thiếu nữ, mắt long lanh, môi thắm, da mịn màng, tươi mát như một đoá sen chớm nở trong hồ. Lòng anh bất chợt nao nao.

Trên đoạn đường trở vào nhà bếp, Tịnh Liên không dám bước ngang hàng với Huy. Huy cố bước chậm lại. Anh thấy Tịnh Liên cũng chậm bước lại ở phía sau.

– Năm nay Tịnh Liên đang học lớp mấy? Huy thân thiện hỏi.

– Dạ. Con đang học lớp 12.

Huy nhủ thầm: “À! Cô bé ít gì cũng đã 17 tuổi, đang vào năm cuối trung học”. Gần 3 năm làm việc ở Tu Viện, anh nhận thấy người con gái này thông minh, bình dị, chịu khó, ít nói, hay cười, vừa có một tâm hồn cao quý, biết nghĩ và thương những người bất hạnh. Cô dịu hiền như một đóa hoa sen, ở chốn bùn lầy vẫn tỏa hương ngan ngát. Với cô, hình như không có sự cách biệt giữa hương thơm và mùi hôi, giữa sạch và dơ. Trong một thoáng, Huy chợt nhận ra nỗi lưu luyến nhiều nhất trong anh là đây… cô bé xinh xắn hay làm công quả trong nhà bếp sau Chùa.

Trước khi từ giã, Huy thưa thật lòng mình với Sư Cụ. Anh được biết tên thật của cô là Thu Hiền (Huy vẫn quen gọi Tịnh Liên mãi về sau), mồ côi cha mẹ trong chiến tranh, sống với bà nội và người chú làm rẫy, ở cách Tu Viện chừng hai cây số. Khi anh hỏi về việc hôn nhân, Sư Cụ chỉ trả lời bằng một tràng cười thật thoải mái. Huy quyết định cầu hôn, Tịnh Liên đã thẹn thùng gật đầu sau khi được bà nội cô chấp thuận.

Nhận được tin, gia đình và bạn bè Huy vô cùng ngạc nhiên và lo lắng. Họ cho rằng anh và Tịnh Liên khác nhau mọi mặt: xuất thân, tôn giáo, tuổi tác, trình độ….Cô gái nhỏ quê mùa hoàn toàn ngược lại với hình ảnh của một người con dâu trí thức và đài các mà gia đình mong đợi. Chỉ có mẹ Huy sẵn lòng đón nhận. Bà hiểu rằng con mình đã biết suy nghĩ chín chắn khi quyết định. Và đúng như thế, vừa gặp mặt Tịnh Liên, bà đã thấy lòng rung động yêu thương. Sự dịu dàng và vững chải của cô tỏa ra như hương thơm của đóa hoa sen, ngan ngát, dập tắt tất cả những đốm lửa nghi ngại cuối cùng trong bà.

Tình yêu của Huy dành cho Tịnh Liên sâu thẳm và êm ái; không nồng nhiệt, vội vã như với những người con gái tuyệt đẹp từng đi qua đời anh. Bên anh, có khi cô như một dòng suối mát hiền hòa, cho anh gội rửa hết mọi ưu phiền trong công việc; có lúc thì như mùa thu bát ngát, cho anh luôn thấy thảnh thơi trong lòng.

Niềm hạnh phúc tràn đầy, vững bền tưởng như không có gì có thể phá vỡ, đột ngột bị thiêu hủy cùng chung số phận của mấy chục triệu đồng bào, bởi biến cố tháng Tư năm 1975. Khi Hiển, đứa con trai đầu lòng vừa ra đời, thì đất nước miền Nam lọt vào tay cộng sản. Thời gian đầu, đa số các bác sĩ quân y đều được lưu dụng. Riêng Huy bị đưa đi học tập cải tạo vì anh đã từng đi du học ở Mỹ và bị nghi làm tình báo cho CIA. Gia đình anh ở Sài Gòn kẻ mất người còn, tài sản tiêu tan sau nhiều đợt đổi tiền và bị đánh tư sản. Tịnh Liên thay Huy chăm sóc mẹ chồng và nuôi nấng con thơ rất chu đáo. Khi có khó khăn, cô mới thể hiện hết tính cách nhạy bén và tháo vác của mình. Ban ngày, vừa tảo tần buôn bán, tối đến, cô đi làm ca đêm ở hợp tác xã dệt. Chỉ việc chuẩn bị thăm nuôi chồng trong trại tù cải tạo, đủ thấy rõ sự tinh tế và thủy chung của cô. Khi may quần áo gởi cho Huy, Liên may cho mình mặc cùng lúc để biết bao giờ quần áo của chồng bị rách, và may đồ mới cho anh. Tình yêu tuyệt vời của người vợ trẻ đã giúp Huy gượng dậy để sống còn giửa những khổ đau dằn dặt trong nhà tù trại cải tạo.

Năm 1978, Huy trở về. Anh mang vợ con vượt biển. Trên suốt cuộc hành trình, qua những cơn sóng gió nguy hiểm chết người, anh đã không cảm thấy sợ hãi nhờ sự bình an của Tịnh Liên mang đến. Những lúc ấy, Huy nhìn thấy khuôn mặt vợ thật bình thản và trong sáng. Mặc dù mệt mỏi vì say sóng, mỗi khi bắt gặp ánh mắt lo âu của anh, cô luôn mỉm cười động viên, tin tưởng và chia sẻ chung một số phận với chồng.

Sau khi được định cư ở Canada, thêm hai đứa con ra đời. Tịnh Liên làm việc ở nhà trẻ, để có thể vừa chăm con nhỏ, cho chồng tiếp tục học, lấy bằng chuyên viên kỹ thuật trong phòng thí nghiệm ngành Y khoa. Mặc dù cuộc sống mới thật vất vả, khó khăn, nhưng Liên vẫn điềm nhiên và lạc quan. Cô nuôi dạy các con lớn lên bằng tình yêu vô bờ bến, cùng sự tận tuỵ hy sinh, không nghĩ đến bản thân mình. Tịnh Liên thường đưa các con lên Chùa tụng kinh, lễ Phật, làm công quả, làm việc phước thiện, như ngày cô còn thơ ở quê nhà….”

Ông Huy nâng tách trà, trầm ngâm nhìn vợ, mái tóc Tịnh Liên vừa nhuốm bạc:

– Ngày bố mới tốt nghiệp Y khoa, vừa có địa vị trong xã hội, vừa được sao hào hoa chiếu mạng. Nếu có ông thầy bói nào nói “Vợ anh sẽ là cô gái nhỏ đang làm công quả trong bếp nhà chùa ở miền quê”, chắc bố sẽ cười ngất. Bố nhiều tuổi hơn mẹ, học thức hơn mẹ, gan dạ hơn mẹ, thành công hơn mẹ, nhưng, các con không thể tưởng tưởng là bố luôn nương tựa vào mẹ. Mẹ nhỏ bé, hiền lành như thế, nhưngï sống vững vàng và vị tha. Mẹ rất bình tỉnh trước những biến cố và có khả năng giải quyết việc phức tạp thành đơn giản. Tấm tình của mẹ giống như một không gian yêu thương bao la, mà những khốn khó trong cuộc đời như những cơn mưa qua, nhưng không làm ướt được. Gần bên mẹ, người ta cảm thấy bình yên. Các con có biết hình ảnh mẹ là gì không?

Hiển trả lời:

– “Ðây là lần đầu tiên tụi con được nghe đầy đủ câu chuyện về mẹ. Mẹ là “Vị Bồ Tát nhỏ” của con!

Khoa nói thêm, giọng cảm động:

– “ Lâu nay, chúng con chỉ biết hưởng thụ tình yêu của mẹ một cách tự nhiên nhưng không hiểu hết. Nó nhiều như một cơn mưa. Chỉ tại chiếc bình của chúng con quá nhỏ, không chứa được bao nhiêu ….”

Nước mắt Nhã Lan chảy thành dòng trên má. Cô đến bên mẹ chồng, vòng tay ôm lấy bà, cảm nhận tình yêu thương như một dòng suối ngọt chảy qua tim mình, khi được bà vuốt tóc.

Nghe câu chuyện của Bố chồng vừa kể, Nhã Lan chợt nhận ra điều làm Khoa chú ý và chọn cô trong đám đông sinh viên, khi anh đang là phụ giảng ngành Y khoa trong trường Ðại học. Không phải vì Nhã Lan đã là hoa khôi, không phải vì cô thông minh, xuất sắc. Chỉ vì cô mang dáng dấp và phong cách của người mẹ nhân hậu mà anh yêu thương. Cô là hình ảnh của bà trong lòng Khoa và cô cảm thấy hạnh phúc khi nhận ra điều đó.

***

Mồng Một Tết năm nay rơi vào ngày cuối tuần. Không khí Vancouver lành lạnh. Mấy nhánh đào và mai rừng vừa nở đúng lúc, làm không gian rực rỡ hương vị ngày Xuân. Bánh tét, bánh chưng, mứt gừng, mứt hạnh, bánh bò, bánh khoai mì nướng, chả lụa, chả giò thơm ngát. Cả nhà quây quần mừng tuổi bố mẹ; anh chị em chúc Tết nhau, nhận tiền lì xì đầu năm, lắc bầu cua ầm ĩ, vừa cắn hạt dưa lóc cóc. Nhã Lan mặc chiếc áo dài màu hoa cúc để cùng mẹ chồng đi lễ Phật đầu năm. Cô cảm nhận không khí ngày Tết thực sự đang ở quanh mình.

Dương Phương Ý

More Stories...