Năm mới đọc lại thơ xuân cũ

Nói đến thơ ngày Tết là phải nhắc đến Tú Xương. Cuộc sống của Ông Tú Vị Xuyên về vật chất rất thiếu thốn, ông luôn ở trong cảnh túng bấn, vất vả khiến cho lời thơ của ông lúc nào cũng mang chút gì đó cay cú, phẫn nộ, buồn phiền…

Tết đến với Trần Tế Xương vẫn đầy đủ như mọi nhà nhưng chỉ hiện hữu qua những vần thơ trào phúng, chẳng hạn như bài Cảm Tết. Xem ra nhà ông có đủ các thứ ăn chơi trong ba ngày Tết nhưng rốt cuộc… lại chẳng có gì:

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo,

Tiền của trong kho chửa lĩnh tiêu,

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy,

Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu.

Bánh đường sắp gói, e nồm chảy;

Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu.

Thôi thế thì thôi, đành Tết khác.

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo.

Trần Tế Xương đã lớn tiếng nhạo báng cả một xã hội đương thời với những lời Chúc Tết sáo mòn như “sống lâu trăm tuổi”, “giàu sang phú quý”… Nhà thơ mỉa mai gọi những người xung quanh là “nó”, một loại từ ngữ mang đầy tính cách miệt thị. Tú Xương lại còn lớn lối xưng “ông” một cách ngạo mạn để nói lên tâm sự ngao ngán của kẻ “bất đắc chí”:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:

Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.

Phen này ông quyết đi buôn cối

Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:

Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?

Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc

Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:

Đứa thì mua tước; đứa mua quan.

Phen này ông quyết đi buôn lọng,

Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Nó lại mừng nhau sự lắm con,

Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.

Phố phường chật hẹp người đông đúc,

Bồng bế nhau lên nó ở non.

Đối với Ông Tú Vị Xuyên, năm mới hay năm cũ chỉ là hình thức ước lệ, hay nói khác đi là điều mà thiên hạ bày đặt để phô trương giàu sang phú quý, khăn áo lụa là… thậm chí đến nỗi Sư đi có lọng che và chú Mán vắt vẻo ngồi trên xe! Thế cho nên mới có bài thơ Năm Mới:

Khéo bảo nhau rằng: mới với me

Bảo nhau rằng cũ chẳng ai nghe

Khăn là bác nọ to tày rế

Váy lĩnh cô kia quét sạch hè.

Công đức tu hành Sư có lọng

Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe

Phong lưu rất mực ba ngày tết

Kiết cú như ta cũng rượu chè.

Khác hẳn với Tú Xương với giọng điệu trào phúng chua chát, thơ Hàn Mặc Tử được Hoài Thanh mệnh danh là “…Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng…” và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…”. Trong bài Xuân Đầu Tiên nhà thơ đưa người đọc đến một cảnh sắc xuân mới lạ với những tứ thơ bay bổng thoát trần:

Mai sáng mai, trời cao rộng quá

Gió căng hơi và nhạc lên mây

Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm

Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay.

Bài thơ Mùa Xuân Chín là cả một bức tranh quê mộc mạc với mái tranh “lấm tấm vàng” và trên giàn thiên lý có “bóng xuân sang”. Hàn Mạc Tử đưa người thưởng thức thơ của ông trở về thực tế qua hai câu cuối thật bất ngờ:

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lý bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.

Bao cô thôn nữ hát trên đồi.

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,

Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.

Theo tôi, Nguyễn Bính có những bài thơ xuân, thơ Tết tuyệt vời nhất. Thơ Nguyễn Bính đến với người đọc thật bình dị nhưng đằm thắm. Ngôn ngữ bình dân trong thơ ông đi thẳng vào trong tim óc người đọc một cách tự nhiên, không màu mè, bí hiểm như nhiều nhà thơ khác. Chẳng hạn như bài Xuân tha hương, ông sử dụng ngôn ngữ nói chuyện nhưng vẫn thành thơ:

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Ôi, chị một em, em một chị

Trời làm xa cách mấy con sông

Cột nhà hàng xóm lên câu đối

Em đọc tương tư giữa giấy hồng

Gạo nếp nơi đây sao trắng quá

Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông

Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết

Một mình em vẫn cứ tay không

Vườn nhà Tết đến hoa còn nở

Chị gửi cho em một cánh hồng

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Tết này, ô thế mà vui chán

Nhưng một mình em uống rượu nồng.

Chị ơi, Tết đến em mua rượu

Em uống cho say đến não lòng

Uống say cười vỡ ba gian gác

Ném cái chung tình xuống đáy sông.

Tình chị em máu mủ ruột thịt khiến người đọc rung cảm và Xuân tha hương kết thúc bằng những lời chúc Tết mộc mạc nhưng thắm đượm tình cảm của người em ở xa gửi hết thương yêu cho người chị ở nhà…

Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Cầu mong cho chị vui như Tết

Tóc chị bền xanh, má chị hồng

Trong mùa nắng mới sầu không đến

Giữa hội hoa tươi ấm lại lòng

Chắc chị đời nào quên nhắc nhở:

– Xa nhà, rượu uống có say không?

… Nguyễn Bính đã vẽ cảnh Tết “nhà quê” bằng những lời thơ mộc mạc nhưng chứa chan hạnh phúc của người mẹ bên đàn con với những món quà Tết như “pháo chuột”, “tranh gà”:

Nay là hăm tám Tết rồi đây

(Tháng thiếu cho nên hụt một ngày)

Sắm sửa đồ lề về việc Tết

Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay.

Không như mọi bận người mua quà

Chỉ mua pháo chuột và tranh gà

Cho các em tôi đứa mỗi chiếc

Dán lên khắp cột, đốt inh nhà.

Đến sáng mồng một Tết các con mỗi đứa được mừng tuổi “năm xu rưỡi”. Nhưng tại sao lại “năm xu rưỡi” mà không phải là 5 xu hay 6 xu? Ý của mẹ là “cái rưỡi” nói lên sự thừa thãi, dồi dào sẽ đem lại may mắn cho các con. Nguyễn Bính quả thật là ý nhị:

Sáng nay mồng một sớm tinh sương

Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường

Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi

Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương

Về tình yêu, những dòng lục bát của Nguyễn Bính có sức lan tỏa mãnh liệt trong lòng người đọc qua bài Rượu xuân, vừa vui lại vừa buồn. Thơ lục bát vốn là thế mạnh của Nguyễn Bính với lối gieo vần chân phương, kỹ thuật láy chữ tuyệt vời nhưng vẫn không phá cách:

Cao tay nâng chén rượu hồng,

Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay.

Uống đi! Em uống cho say!

Để trong mơ, sống những ngày xuân qua.

Thấy tình duyên của đôi ta,

Đến đây là… đến đây là… là thôi!

Em đi dệt mộng cùng người,

Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh.

Không như Nguyễn Bính “chân quê” từ lời đến ý, Xuân Diệu lại khác hẳn: lời thơ của ông “màu mè” và có đôi chút “làm dáng”, ý thơ của ông cũng mang nhiều bất ngờ, khó đoán trước. Chẳng hạn như bài Xuân Không Mùa:

Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,

Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;

Xuân là lúc gió về không định trước.

… Nói về thơ xuân không thể nào bỏ qua bài Ông Đồ của Nguyễn Đình Liên. Bài thơ Ông Đồ được giới phê bình văn học xem là một trong mười bài thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới nhưng Nguyễn Đình Liên lại chưa hề xuất bản một tập thơ nào.

Đầu năm 1941, trong một bức thư gửi Hoài Thanh khi đang viết cuốn Thi nhân Việt Nam, Vũ Đình Liên viết “Tôi bao giờ cũng có cái cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin thơ tôi có chút giá trị gì nên đã lâu tôi không làm thơ nữa”. Hoài Thanh nhận xét Vũ Đình Liên đã hạ mình quá đáng.

Vũ Đình Liên là một trường hợp hiếm hoi trong làng thơ khiến nhiều người gọi ông là “nhà thơ một bài” dù con ông còn giữ được khoảng 4.000 bài thơ ông viết. Chỉ cần một bài Ông Đồ cũng khiến người ta nhớ mãi:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

“Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay”.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng.

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường không ai hay.

Lá vàng rơi trên giấy:

Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Trong dịp khai bút đầu xuân Nhâm Tuất 1982, Vũ Đình Liên có viết bài Bóng Ông Đồ, như là muốn họa lại bài thơ cũ Ông Đồ:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bút nghiên và giấy đỏ

Ngồi đúng chỗ ngồi xưa.

Ôi ! Cái nghiệp nghiên bút

Tô điểm cho cuộc đời

Người chết nghiệp không chết

Nợ tiền kiếp luân hồi.

Trải trăm ngàn dâu bể

Giấy mực màu không thay

Chữ Nhân và chữ Nghĩa

Vẫn những nét thẳng ngay.

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Khăn áo bạc màu dưa

Nhắc cho người qua thấy

Lẽ Nhân đạo, Thiên cơ.

Cách Mạng là nhân nghĩa

Ông Đồ là thi thư

Chữ tuôn dòng Thiện Mỹ

Từ ngón tay ông Đồ.

Bài thơ Ông Đồ vẫn có sức lan tỏa đến tận thời đại ngày nay. Một “thi sĩ bất đắc dĩ” nào đó cũng mượn ý của Nguyễn Đình Liên để nói lên tính thời sự của xã hội hiện tại khi vật giá leo thang chẳng khác nào thời “kiệm ước” trước năm 1975:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông chủ nhà

Miệng tươi cười hớn hở

“Tăng giá rồi đó nha!”

Nói đến ông đồ khiến tôi liên tưởng đến một phong tục đẹp trong văn hóa Việt Nam với những câu đối Tết chẳng hạn như:

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ.

Cây Nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”

Một ký giả người Pháp đã viết trên Tuần báo Đông Dương năm 1942 về truyền thống văn hóa này: “… Những ông đồ nghèo đã thuê mướn từ 10 ngày trước tết, một dãy vỉa hè hay mặt tiền của một căn nhà, một góc phố – viết trên những tờ giấy màu đỏ những nét chữ vàng hay bạc… để nhận lấy một số tiền nhỏ nhoi…

Cái tác dụng thần bí ấy đã thúc đẩy người ta phải chi phí một số tiền để mua sắm, trang hoàng ở cửa, ở cột, ở sàn nhà… hoặc trên tường, trên vách… những loại xuân liễn, những câu đối. Mặc dù nền nho học đã cáo chung, nhưng những thầy đồ vẫn xuất hiện trong lớp áo xơ bông, ngồi run lập cập trên manh chiếu để nắn nót những con chữ Nho cuối cùng và câm lặng ấy”.

Nguyễn Công Trứ có câu đối Tết:

Tối ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông phúc vào nhà

Trong số hàng trăm câu đối Tết, tôi thích nhất câu này:

Không có nhưng giàu, giàu nghĩa, giàu tình, giàu trí tuệ

Không giàu nhưng có, có làng, có xóm, có anh em“.

Ông đồ ngồi viết câu đối Tết

Thơ xuân ngày Tết còn nhiều, rất nhiều. Đề tài này gợi hứng cho giới làm thơ, từ các thi sĩ thời tiền chiến như Hồ Dzếnh (Xuân Ở Quê Em, Xuân Đôi Ta, Xuân Ý…), Huy Cận (Sang Xuân…) cho đến các nhà thơ Sài Gòn xưa như Đinh Hùng (Thanh Sắc), Nguyên Sa (Mùa Xuân Buồn Lắm Em Ơi), Kim Tuấn (Anh Cho Em Mùa Xuân), Nguyễn Tất Nhiên (Mùa Xuân Chim Núi), Bùi Chí Vinh (Bài Thơ Lì Xì)…

Nguyễn Ngọc Chính

(Hồi ức một đời người)

Tin tức khác...