Mang Theo Quê Hương

Dĩ vãng như những lốiđi quen thuộc đưa mình về với tháng ngày đã qua, nơi còn đậm dấu nhớ thương.Niềm thương nhớ những mảnh quê hương đã mang theo. Câu chuyện “Mang theo quê hương” như là những hạt chuỗi dĩ vãng của người ly hương!
. .
.

Mưa lất phất từ tờ mờ sáng. Đã hết mùa hè nắng ấm rồi,nhưng mới cuối tháng 9 nên tiết trời nơi đây chưa lạnh lắm, chỉ khoảng 12 độ C. Trời đang có chút mưa, vàdự báo mưa sẽ nhiều hơn cho đến chiều tối. Màn trời mờ nước thêm chút se lạnh, đang vẻ nên khung cảnh mùa thu nơi đây thêm ảm đạm trong lòng người ly hương.
Ít nhiều gì, mình đều có mang theokỷ niệm với nơi mình đã phải ra đi. Khi ra đi, tôi cũng mang theonhững mảnh quê hương dấu yêu của mình, quê hương Việt Nam,và đã có có lần kể lại;những câu chuyện để nhớ và không thể quên.
Chuyện non nước mình thì… buồn nhiều hơn vui!
Non nước mình có lắm buồn đau bởi chiến tranh,và càng lắm thương tâm khi quân cộng sản cưỡng chiếm miền Nam tự do. Chuyện quê hương mà tôi mang theo cũng vậy, cũng buồn nhiều hơn vui. Có chuyện buồn ít, có chuyện buồn nhiều… Có chuyện quá buồn, như câu chuyện Áo Trắng.

Hôm Tết vừa qua; Tết thì mình thấy nhớ quê nhà. Tết đến, người dân miền Namthấy Tết thì lại nhớ đến thảm sát Tết Mậu Thân năm 68. Thế nhưng, hàng năm, nhàcầm quyền cộng sản đã vẫn tự hào với tội ác thảm sát đồng bào, ngay từ phút Giao Thừa. Quân bạo tàn tiếp tục nhẫn tâm dẫm đạp lên trên những vết thương chưa lành của hàng triệu nạn nhân, không chỉ ở Huế, mà ở khắp miền Nam; đểnhảy nhót ăn mừng, đểtung hô là “Đại thắng mùa Xuân”.
Thật là đau xót! Tôi kể lại câu chuyện Áo Trắng…

Anh Lê Toàn, một người bạn cùng Khóa, có tâm tình trong Diễn Đàn của chúng tôi về câu chuyện Áo Trắng như sau:
“Tuổi học trò chúng ta, ai cũng từng trải qua nhiều kỷ niệm với màu áo trắng… em áo trắng sao hồn tôi tím thẫm;cũng vì em, tôi bỏ học quên ăn…
Áo trắng có nhiều ma lực, mà tuổi học trò chúng ta đã từng điên đảo! Nguyễn tất Nhiên…ngẩn ngơ với tà áo trắng của đàn chị trường luật:“Người từ trăm năm về ngang trường luật”. Đến nỗi bỏ học để rồi: “Ta hỏng tú tài ta đợi ngày đi… “
Hay… đại sư Phạm Thiên Thư cũng phải bỏ chùa, để hàng ngày theo đuôi một tà áo trắng là nữ sinh Hoàng thị Ngọ.
Em tan trường về… đường mưa nho nhỏ.
Anh theo Ngọ về… gót giày lặng lẽ đường quê.”

Lắm người cũng đã từng tương tư người em áo trắng… cũng một lần ấp ủ tình yêu với người em áo trắng.
Rồi có một ngày… bọn lòng lang dạ thú đã biến áo trắng thành màu áo tang….
Câu chuyện Áo Trắng đã gợi lại và để chúng ta cảm thông được nỗi đau thương đó… của cầu Trường Tiền, của dòng sông Hương,…”

Bạn tôi đã viết rất đúng:
“bọn lòng lang dạ thú đã biến áo trắng thành màu áo tang….”
Đau xót thật!
Thê thảm thật!
Thê thảm như những thi thể dân lành từ trẻ thơ đến tuổi già, bị vùi dập cong quẹo trong các hố chôn người của quân cộng sản man rợ; xác người còn bị trói cột bằng dây điện thoại thành từng xâu, đã bị tàn sát bằng nhiều cách, kể cả cách… chôn sống!
Bài Áo Trắng kể chuyện… Tết. Nhưng rồi chuyện cho ngày Tết ấy đã phải thay bằng bài khác, bài Gửi Nơi Cuối Trời; Áo Trắng phải đợi cho qua Tết!
Trong lời nói đầu của câu chuyện Áo Trắng, tôi có thưa rằng:
“Bài Áo Trắng đã được viết tiếp theo bài Còn Nhớ Mùa Xuân; nhưng câu chuyện quá buồn, nên phải giữ lại cho đến sau ngày Tết mình. Tuy vậy, Áo Trắng cũng vẫn còn trong thời điểm tang thương, trong những tháng ngày Tết Mậu Thân 1968.Nhất là ở Huế. Huế đã chìm ngập trong tang tóc suốt 25 ngày, từ phút Giao Thừa. Mặc dù câu chuyện đã được cắt bớt nhiều cảnh tượng tang thương, nhưng sự thật thảm thương tang tóc vẫn còn đó; vì đó là sự thật cần được ghi lại, cho dù ngôn ngữ đã vẫn không thể ghi lại trọn vẹn nổi niềm … ”
Trong lời nói đầu ấy, tôi có nhắc đến câu chuyện “Còn Nhớ Mùa Xuân”.
“Còn Nhớ Mùa Xuân” là mảnh quê hương của thời thơ ấu, nơi có ruộng đồng, vườn cây… Nơi đây, hàng năm vào mùa Hè và ngày Tết, anh em chúng tôi được theo cha mẹ về thăm viếng thôn xóm và mộ phần ông bà nội. Nhưng vài năm sau đó, khi đêm xuống, thì cái đám giặc cộng len lỏi chui bò vào làng.Từ đó, lâu lâu,Ba tôi mới lénđạp xechở tôi về làng;chỉ vào ban ngày, và trong chốc lát mà thôi. Chuyến đi sau cùng; đó là một chuyến đi, đi mà không đến!
Tôi đã thấy cảnh tượng đoàn ghe xuồng của dân làng chạy trốn giặc cộng,thật là thương tâm. Dân làng chở theo trẻ con nheo nhóc, cùng heo, chó, gà, vịt… bất cứ thứ gì họ quơ quào kịp. Họ chèo chống ghe xuồng ra ngoài chợ xã, nơi có đồn bót lính quốc gia mình che chở; chờ cho giặc cộng rút đi, thì mới dám quay về.Đứng bên ba tôi;tôi lo lắng nhìn những gương mặt thân quen đầy mệt mỏi, sợ hãi. Tôi nhìncon đường mòn phía trước, cỏmọc um tùm, cao khỏi đầu mình,…cỏ hoang che khuất lối đi. Con đường về làng bây giờ trôngâm u và đầy đe dọa…
Ba tôi nghe lời khuyên dặn của bác Một mà trở về tỉnh thành.
Đấy là kỷ niệm tuổi thơ với khoảnh nhỏ của quê hương.Nó nhỏ nhoi, nhưng chan chứa nỗi niềm vàin khắc sâutrong ký ức tôi. Mãi về sau này, Tết đến và hè về, tôi lại nhớ hình ảnh ba tôi buồn hiu, quay chiếc xe, và lặng im đạp xe chở tôi về. Ba tôi trông thật buồn… Buồn chưa từng thấy!
Mất quê hương cùng niềm vui của tuổi thơ và hình ảnh quê hương tang tóc trong thảm sát Tết Mậu Thân; là hai nỗi niềm ghi khắc sâu đậm nhất trong tôi… Tôi nhớ mãi không quên!
Quê hương mà tôi ra đi và mang theo thì nhiều lắm; và lắm chuyện buồn.Buồn như… quê hương mình!
Buồn như … chuyện non nước mình!
. . .

Hôm nay là ngày tưởng nhớ Đức Trần Hưng Đạo!
Nhà Trần, nhất là dưới đời Thánh Tông và Nhân Tông, được xem như triều đại chính sự chu toàn, quốc gia thịnh trị. Vua Trần Nhân Tông được vua cha là Thượng Hoàng Trần Thánh Tông phụ giúp việc triều đình.Nước Đại Việt mình dưới thời Thánh Tông và Nhân Tông, còn lưu danh sử sách với Hội Nghị Diên Hồng, và chiến tích 3 lần đánh đuổi giặc xâm lăng từ phương Bắc.
Hai ca khúc, Hội Nghị Diên Hồngvà Bạch Đằng Giang, vẫn còn là tiếng loa vang vang trong lòng người dân Việt; “lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương”, và ghi nhớ “thời liệt oanh của bao người xưa trung chánh”!
Hội nghị Diên Hồng: chính là hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Đây chính là sức mạnh của dân chủ và đoàn kết dân tộc từ thế kỷ 13.
Bạch Đằng Giang:sông Bạch Đằng chảy qua địa phận Hải Phòng; nơi đãghi dấu 3 trận thủy chiến lẫy lừng, ở 3 giai đoạn lịch sử khác nhau, với 3 danh tướng: Ngô Quyền, Lê Đại Hành và Trần Quốc Tuấn. Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn là vị tướng với hai lần chiến thắng giặc Nguyên Mông, lừng danh với trận phục kích đánh tan quân xâm lược trên sông Bạch Đằng,năm 1288.

Đến ngày hôm nay, trên đất nước Việt Nam đã có khoảng 30 nơi có tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo.Tượng anh hùng dân tộc ở Việt Nam qua các triều đại thì nhiều lắm. Cùng vị anh hùng, mỗi nơi có hình tượng khác nhau. Riêng tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở ba thành phố lớn: Sài Gòn, Vũng Tàu và Qui Nhơn đều giống nhau; có chung một mẫu của điêu khắc gia Phạm Thông.
Không riêng những người ra đi từ thành phố trước đây mang tên Sài Gòn, rất nhiều người lớn lên từ các tỉnh thành khác ở miền Nam tự do, cũng đã có dịp được chiêm ngưỡngvà nhớ tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở Quận 1, tại công trường Mê Linh.
Tượng đúc bằng bê-tông cốt thép, cao 4 mét; được đặt trên đế hình ba cạnh, cao 12 mét. Ba mặt đế tượng có sáu bức hình,khắc lại các trận đánh diệt giặc ngoại xâm.Tượng đài này hoàn tất năm 1967. Điêu khắc gia Phạm Thông đã tạc dựng lại hình ảnh Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo mặc giáp phục, một tay đặt lên đốc kiếm, một tay chỉ về hướng sông Sài Gòn;ghi lại sự tích: Trước khi xuất quân đánh quân Nguyên Mông, ngài đã chỉ tay xuống sông và thề rằng:
“Nếu trận này không thắng giặc, ta thề không trở lại bến sông này nữa!”.

Như hầu hết các tượng đài, kể cả cái tượng lãnh tụ của đảng cộng sản, tượng đài Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại Công trường Mê Linh, có một đỉnh lư hương lớn đặt trước chân đế tượng, về hướng Bến Bạch Đằng, trên sông Sài Gòn; cho người đến thấp nhang và chiêm bái.
Trước sự kiện quân Trung cộng ngang ngược tấn công vùng biên giới phía Bắc, thường xuyên giết hại ngư dân trong lãnh hải Việt Nam,mà Nhà Nướcthì lại cắt đất, dâng biển cho quan thầy phương Bắc để cầu vinh;những năm sau này, tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng, còn là địa điểm của người dân Sài Gòntụ họp để tưởng niệm và bày tỏ lòng yêu nước, chống giặc Trung cộng.
Đến năm 2019, để làm vui lòng quan thầy Trung cộng, Phó bí thư thường trực, tên Nguyễn Duy Vũ ký công văn số 695;ra lệnh cấmdân chúng đếntượng đài Trần Hưng Đạo tại Bến Bạch Đằng,để làm lễ tưởng niệm 40 năm quân Trung cộng xua quân sang biên giới Bắc Việt,vào năm 1979. Vậy là, sáng ngày 17 tháng 2, nhà cầm quyền quận 1 cho xe cẩu mấtđỉnh lư hương và dùng các thứ công cụ như công an, cảnh sát, xe vận tải, xe chở rác v.v… làm hàng rào ngăn chặn các lối vào tượng đài!

Thế nhưng, vàongày lễ giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo năm nay, cũng là kỷ niệm 733 năm chiến thắng hiển hách trên sông Bạch Đằng;bỗng dưng Phó trưởng Ban chỉ đạo phòng chống dịch Thành phố, tên Phạm Đức Hải họp báo kêu gọi dân chúng “phản ảnh”, về việc trả lại lư hương của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, trên Bến Bạch Đằng.
Lạ thật!
Chẳng biết cái Ban dịch cúm của ông Hải có mắc mớ chi đến việc chỉnh trang công viên, và lại còn huênh hoangkêu gọi người dân…“phản ảnh”?
Trời ạ!
Hai chữ “phản ảnh” của cái đảng cộng sản nó khiếplắm!
Chúng nó vẫn còn ám ảnh nhiều đời nạn nhân, và từ cái năm 1954 cho mãi đến bây giờ!
Hãy xem… chiến dịch “Trăm hoa đua nở”của họ Mao, năm 1956, có hàng trăm ngànngười tài trí,văn nghệ sĩ,… đã nhẹ dạ tin đảng mà “phản ảnh”. Họ đã bịNhà nước bắt đem đi hành huyết,tù đày…
Còn… cái “Trăm hoa đua nở” của họ Hồ,năm 1954, còn gọi là“Vụ ánNhân Văn-Giai Phẩm”. Cũng vì hưởng ứng lời kêu gọi “phản ảnh”của đảng, màhàng trămtrí thức yêu nước,có liên hệ với2 tờ báo Nhân Văn và Giai Phẩm,cùng gia đình họ,đã bị đảng trừng trị đến hơn 30 năm sau …
Cũng vì vậy,người dândưới chế độhiện nay đã cay xót mà bảo nhau rằng:“Phản ảnh” là nửa đường của “phản động”!
Và… “phản động”là cái tội mà “đảng không dung, nhà nước không tha!”… còn sống thì cũng khó nuôi!

Trong bài Đỉnh Lư Hương và Thói Đối Trá, tác giả Hoàng Dũng có viết:
Chính quyền Thành phố cẩu mất đỉnh lư hương trước tượng đài Đức Thánh Trần đúng ngày 17 tháng 2. Trước sự phẫn nộ của đông đảo cư dân, sáng nay bà Trần Kim Yến – bí thư Quận ủy quận 1 – nói rằng: “Công viên không phải là nơi thờ phụng, mà việc thờ phụng này nên được đặt ở đình, đền, chùa sẽ đúng hơn. Đó là việc hết sức bình thường.Mình đưa việc thờ phụng về đúng vị trí”.
Bà Trần Kim Yến nói như thế …Không lẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh thì được phép có lư hương, mà Đức Thánh Trần Hưng Đạo lại không?...”

Tác giả Hoàng Dũng viết rất đúng!
Rất nhiều nơi dựng tượng chủ tịch họ Hồ của bà Yến ấy, đều có đặt lư hương;chẳng hạn như cái tượng tại sân Nhà máy thủy điện Hòa Bình, tại Tổng công ty điện lực Thành phố Hà Nội, tại Công an tỉnh Ninh Bình, tại Kho 205 Bộ quốc phòng, tại quảng trường thành phố Cam Ranh v.v…

Ông hay bà nào nói thì… cũng thế thôi!
Ai cũng biết: Bà Yến thực ra chỉ là… cái loa của Nhà Nước!
Nhà Nước mà phát ngôn lếu láo đến như thế, thì… quả làquá tồi tệ!
Nó tồi tệ hơn cả cái phường xưng danh là trí thức,mànữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã từng đề bài thơ có tựa là “Bọn Đồ Dốt”,để mắng rằng:
“Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng đòi học nói, nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn sống, đem vôi quét trả đền”

Thế đấy!
Ai về nhắn bảo phường “Bán Nước”:
Muốn sống, đem lư hương trả đền!

Phải trả lại tên gọi Sài Gòn, Tự Do, Công Lý cho Sài Gòn…
Trả lại Công Lý cho Việt Nam!
Trả lại Tự Docho Việt Nam!

Để nhớ ngày 20 tháng 8 Âm lịch.
Bùi Đức Tính

Tin tức khác...