Mall của một thời

Huy Lâm

Danh từ “mall” hay “shopping mall” trong tiếng Anh được người Việt mình dịch là “trung tâm mua sắm”. Dịch vậy thì cũng đúng, nhưng chỉ đúng một phần và mang ý nghĩa chung chung chứ chưa hẳn là chính xác. Mall thì đúng là một trung tâm mua sắm, cũng với nhiều cửa hàng tập trung lại nhưng tất cả nằm trong quần thể của một toà nhà, có mái che, có nhiều cửa ra vào, và có máy điều hoà không khí. Diện tích của mall có nhiều kích cỡ khác nhau: nho nhỏ thì cũng cỡ diện tích vài ba sân vận động, còn lớn cỡ Mall of America nằm ở thành phố Bloomington, Minnesota, nghe nói phải đi một tuần mới thăm được hết các tầng lầu.

Lý do phải giải thích dài dòng như trên là vì bài viết này xin được bàn tới loại “trung tâm mua sắm” này như là cơ hội để nhắc lại một thời huy hoàng của nó trước kia mà nay đang dần dần biến mất ở Mỹ, và không lâu nữa có thể người ta sẽ không còn nhớ tới nó, hoặc có nhớ thì chỉ nhớ tới như một thứ phế tich.

Victor Gruen là một kiến trúc sư người Áo, ông di cư sang Mỹ năm 1938 sau khi nước Áo bị ép sáp nhập vào với nước Đức. Năm 1954 ông thiết kế một khu mua sắm lộ thiên đầu tiên nằm ở vùng ngoại ô gần Detroit. Hai năm sau, năm 1956, Trung tâm Southdale do Gruen thiết kế được khánh thành tại Edina, Minnesota. Đây là loại trung tâm mua sắm nằm hoàn toàn trong nhà đầu tiên ở nước Mỹ. Trong sáu thập niên kể từ đó, có tới 1,500 trung tâm mua sắm loại này được khánh thành khắp nước Mỹ. Để rồi sau đó người ta ngừng xây dựng chúng, và tệ hơn nữa, người mua sắm không còn tới đông đúc như trước kia nữa.

Năm 1992, tờ New York Tìmes làm một phóng sự điều tra và đếm được 48 malls trong đoạn đường 90 phút lái xe từ Quảng trường Thời gian ở trung tâm thành phố New York. Cùng năm đó, trung tâm Mall of America bắt đầu mở cửa đón khách ở Bloomington, với một công viên giải trí là tâm điểm của một quần thể rộng 5.6 triệu bộ vuông (square feet) và chứa tới hơn 500 cửa tiệm.

Nhưng cũng như mọi thứ xuất hiện trên cõi đời này, mall cũng không thoát khỏi luật thăng trầm của tạo hoá. Sự suy giảm bắt đầu chầm chậm đến vào khoảng giữa thập niên 2000. Dịch vụ mua sắm trên mạng và nạn kinh tế suy trầm đã làm cho số hàng bán ra bị giảm và số khách viếng thăm cũng sụt giảm ở các cửa hàng lớn như JCPenney và Macy’s, từng là những cửa hàng chính của nhiều hệ thống mall trên toàn quốc.
Trong suốt một thập niên qua người ta chỉ còn xây thêm một số rất ít có thể đếm trên đầu ngón tay, nhưng ngược lại thì có vô số đã bị đóng cửa, và rất có thể có tới một nửa số còn lại sẽ bị đóng cửa trong 10 năm tới.

Người ta có thể tìm thấy trên mạng internet hiện nay có không biết bao nhiêu hình ảnh của những khu trung tâm thương mại này từng một thời đầy nghẹt người, mua bán tấp nập, và được xem như một phần biểu tượng của chủ nghĩa tư bản – mà nay bị bỏ trống và đang trở thành những nơi hoang phế.

Thực ra Gruen có ý tưởng tốt khi cho thiết kế những trung tâm mua sắm kiểu mới này. Ông muốn đưa vào nội địa nước Mỹ, nơi xe hơi và các loại xe máy khác được dân chúng ưa chuộng hơn hết, một thói quen đáng quý của người bộ hành ở những thành phố hiện đại của châu Âu như Vienne hay Paris: siêng năng đi bộ. Xây dựng những trung tâm mua sắm trong nhà dành cho cộng đồng của những khu ngoại ô đất rộng người thưa, Gruen hy vọng có thể dụ được người ta rời chiếc xe của họ và bước vào thế giới của mall, nơi người ta đi bộ nhiều và có cơ hội gặp người này người kia. Những trung tâm mua sắm trong nhà này hẳn nhiên sẽ là nơi để mua sắm, nhưng đồng thời còn là nơi có hàng quán ăn uống, thư giãn, và một không gian xanh thoáng đãng. Trong mô hình thiết kế nguyên thủy của Gruen, mall được nối liền với khu dân cư và những khu thương mại, bệnh viện, thư viện, và những khu vực công cộng khác.

Về sau này, Gruen từng lên tiếng phàn nàn rằng người ta đã làm khác đi ý tưởng ban đầu của ông, không những không giúp ích mà còn làm hại cho sự phát triển đô thị – đó là chưa kể người ta còn xuất cảng ý tưởng của ông ra khắp thế giới, làm thiệt hại không ít cho môi trường thiên nhiên: chặt cây, đốn rừng, khai quang và dựng lên những toà nhà bốn bề là tường xi măng.

Có thể mall không mang lại kết quả đúng như ý của Gruen trong kế hoạch phát triển đô thị, nhưng nó cũng không hẳn là một ý tưởng dở cho việc mua sắm. Nó cho những ai cần mua sắm một nơi để đi, là vì mỗi khi người ta cần mua một món đồ gì đó thì họ không cần phải suy nghĩ mà biết ngay nơi họ cần đến. Mall đã tách rời ngành thương mại thành một khu vực của riêng nó, và làm được điều này vào lúc mà cỗ máy thương mại hoá và chủ nghĩa tiêu thụ đang xả hết tốc lực đến độ tưởng như không gì có thể kiềm hãm nổi.

Thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 là thời hoàng kim của mall, và nghiễm nhiên được coi như một biểu tượng văn hoá và là sức mạnh của thương mại. Thời đó, mall thật sự có mang lại một vài lợi ích mang tính cách tập thể xã hội như Gruen hình dung ra lúc đầu. Những khu vực ngoại ô ở Mỹ thời đó sống rời rạc, thiếu cái khoảng cách gần gũi như lối sống của người dân ở những thành phố hiện đại Âu châu, và mall đã mang lại một không gian mà người ta có thể chen vai nhau trong khi đi bộ, cảm giác được sự tiếp cận gần gũi với đồng loại của mình, chứ không như khi phải hui húi ở trong nhà, hoạ hoằn lắm mới bước ra vườn một lúc rồi lại bước vô nhà và khép cửa lại. Thậm chí có người cả năm không nói chuyện với người hàng xóm kế bên đến nửa câu.

Một điều nữa là loại trung tâm mua sắm kiểu như mall tập trung các mặt hàng tiêu thụ vào một chỗ để người mua dễ tìm được đúng món đồ họ cần chứ nếu không sẽ mất nhiều thời gian để đi từ hết cửa tiệm này đến cửa tiệm khác.
Nước Mỹ quá rộng lớn và điều này đã trở thành một vấn đề khó khăn cho việc phân phối và cho người tiêu thụ có thể tiếp cận các sản phẩm. Vào lúc khi mà việc sản xuất hàng loạt và số lượng người tiêu thụ cùng phát triển song hành thì nước Mỹ cần phải có sáng kiến mới để làm thế nào để giải quyết cho ổn thoả cả cung lẫn cầu. Các cửa hàng bách hoá ở trung tâm thành phố và các cửa hàng tổng hợp ở địa phương là những nơi duy nhất mà người tiêu thụ có thể đến mua hàng và các dịch vụ. Các cửa hàng bán lẻ khác thì chưa xuất hiện – cửa hàng đầu tiên của Walmart khai trương ở Arkansas năm 1962, và Target cũng khai trương ở Minnesota cùng năm, nhưng cả hai hệ thống cửa hàng này mãi đến thập niên 1990 mới mở rộng ra khắp nước Mỹ. Trong ngữ cảnh đó, có thể nói mô hình một trung tâm mua sắm như mall đã đi trước thời đại. Nó cho người tiêu thụ cơ hội tiếp cận với những sản phẩm nội hoá và quốc tế, ngoài nó ra thì không có cách nào khác.
Mall cũng là nơi các sản phẩm được phân loại và chia ra thành từng phần . Nếu để ý kỹ một chút và thử nhìn xung quanh thì ta có ngay cảm tưởng nó giống như một bảng phân loại thành phần sản phẩm của thị trường. Cửa tiệm Pandora thì bán những nữ trang, vòng xuyến thật quyến rũ. Tiệm Payless thì bán giày dép bình dân. Sephora bán mỹ phẩm. Victoria’s Secret chuyên về đồ lót, trong khi American Eagle bán những loại quần áo khác. Tất cả các cửa hàng này trông giống như một khu chung cư đa dạng của thương mại. Nằm san sát nhau nhưng tách rời từng cửa tiệm riêng biệt, khác hẳn với những cửa hàng trên mạng với đủ thứ hầm bà lằng gom chung vào nhau như tại Amazon.com hay Walmart.com. Mua sắm trên mạng, ta thật sự không biết món hàng đó ra sao, kích cỡ thế nào, hay hình ảnh được trình bày trên màn ảnh có đúng với món hàng ta sẽ nhận được hay không.

Thời thế thay đổi và sở thích của người mua sắm cũng thay đổi, nhất là những người trẻ thời nay. Nếu không mua sắm trên mạng thì những người trẻ này thích dành thời gian lang thang ở những trung mua sắm với những cửa hàng hỗn hợp cả bên trong nhà lẫn bên ngoài, được thiết kế như là trung tâm của một thị trấn ngoại ô, bao bọc xung quanh là những khu chung cư và văn phòng – không khác gì mấy so với viễn ảnh mà Victor Gruen phác hoạ cách đây hơn nửa thế kỷ.

Mặc dù mall đã qua thời kỳ vàng son nhưng nó vẫn là nơi có thể mang người ta lại với nhau, trong thời đại mà trên tay mỗi người là một điện thoại thông minh và mắt chăm chú vào màn ảnh đến không còn biết có ai ở xung quanh, thì dù sao đó vẫn là một điều an ủi cho Gruen: người già cả cũng như người tuổi vị thành niên, người đi mua sắm cũng có mà người tản bộ ngắm nghía các mặt hàng cũng có, người bước đi vội vã bên cạnh người nhàn tản dường như không chút bận tâm đến thời gian – trên những hành lang tuy có vắng bóng người hơn trước kia.

Huy Lâm

Tin tức khác...