LEST WE FORGET

Bùi Đức Tính

Rừng phủ trùm núi. Núi rừng trùng trùng. Cánh chim tìm mồi lặng im sải cánh lượn vòng, cao bên trên đỉnh cây. Thỉnh thoảng có tiếng kêu rúc vang dậy, phá tan tĩnh mịch rồi dội vọng lại và truyền lan mãi vào cõi xa hút như phút cuối thảng thốt của sự sống cùng hồn hoang huyền bí gọi đáp nhau.

Từ trong bóng tối rậm rạp của rừng già những hình dạng con người nối nhau bước ra. Chân trần cùng những chiểc giày rách nát như không còn cảm giác, dẫm dập lên sõi đất để tạo thành lối đi. Lối đi đưa đoàn người tù đi xuống hố thẫm của kẻ thất trận. Những thương binh ráng sức bước với nạng gỗ hay nương tựa vào đồng đội. Đoàn người tù lê chân mệt nhọc, ánh mắt đau xót, lẳng lặng nhẫn nhục; thân người di động như những thể xác mất hồn đang bước theo bọn âm binh hằn học ghìm súng gắn lưỡi lê. Tù binh như bị kéo từ nơi sâu thẫm của oan nghiệt để đẩy vào địa ngục u uất. Họ bước nặng nề, di động xiêu vẹo….

Dọc theo bên lối đi, đây đó lố nhố những thanh tre rừng chấp thành chữ thập cấm bên nhúm đất, để đánh dấu nơi xác thân của đoạn đời bạc mệnh đã bị vùi thây.

Rồi rừng cây san sát âm u chợt mở rộng.

Phía trước, bên dưới đồi là một vùng trống không còn thân cây cao, chỉ có doanh trại; một trại giam gồm chục gian nhà dài quanh sân rộng trơ đất. Toán người đi trước dừng lại. Họ biết mình sẽ đi vào chốn tù đày, nhưng không khỏi khựng lại ngỡ ngàng khi sắp bước vào địa ngục của trần gian.

Tên cai tù, tay ghì vũ khí dọa nạt, tay vung vẫy bực dọc la hét thúc dục:

– Đi! Đi tiếp! Mau lên!

 

Gần bên ngoài lối vào trại, hai người tù đang chôn một chiến hữu vừa chết đêm qua. Thêm một vun đất nằm cạnh những ngôi mộ hãy còn màu đất mới. Cấm mạnh đoạn vạt nhọn của chân thập tự bằng tre cho đứng thẳng trên đầu nấm đất mới đấp trên xác bạn, anh vói lấy cái xẻng từ tay bạn mình, lầm bầm lời nguyện:

– Cầu cho anh ấy được yên nghỉ trong yên bình…

 

Bang!

Lưỡi xẻng đập mạnh lên đầu cọc tre.

 

Tiếng thép vang chát chúa, lạnh rợn dọc trong xương. Âm thanh của miếng kim loại va vào vật cứng làm vỡ nát vết thương quá khứ; đánh gục những thân người rơi nhào xuống hố. Những hố chôn do chính nạn nhân mới vừa đào lấy trước mũi súng đe doạ của kẻ nhân danh “cách mạng”. Hố chôn cùng những kiểu cách giết người man rợ của cộng sản trãi dài từ các cuộc đấu tố, trong Cải Cách Ruộng Đất 1949, Thảm sát Tết Mậu Thân 1968, đến các trại tù gọi là “cải tạo”….

 

Cọc tre lún ngập vào vun đất mới đấp hãy còn xôm xốp.

Chống xẻng, nhìn thập tự trước mộ phần, anh nói tiếp với bạn mình, như nói với chính mình:

– … yên bình!… thứ mà… lúc còn sống anh ta đã chẳng được bao nhiêu!

 

Chiến tranh nào cũng lắm bạo tàn! Nhưng chủ nghĩa cộng sản tàn bạo hơn. Tuổi trẻ bị vùi dập trong hận thù. Con người với tình người, nghĩa đồng bào bị đảng biến thành những loại người mất nhân tính để điên cuồng phục vụ cho lý tưởng chiếm đoạt thống trị; như cái chết thật thương tâm của Thiếu tá Huỳnh Túy Viên, Quận Trưởng quận Đầm Dơi, đã bị cộng sản tử hình bằng cách móc mắt ngay tại quận lỵ, tháng 5 năm 1975.

 

 

Rập!

Rập!

Rập!

Rập!

Nhịp chân của đoàn tù binh rầm rập theo tiếng huýt gió mỗi lúc một gần hơn.

Nắng nhiệt đới gay gắt. Cây rừng đã bị đốn ngả để dựng trại, làm nơi giam giữ tù binh. Mặc cho cái nóng cháy trên mảng da trần, chiến binh Anh với quân phục tơi tả, nhưng vẫn nghiêm chỉnh bước theo chân Đại tá Nicholson. Họ không còn đi rời rạc mà xếp vào đội hình ba hàng dọc, ngẩng cao gương mặt, cố chịu đựng, bước đồng nhịp. Đoàn quân chiến bại, không ban quân nhạc, không trống kèn, dù chân không hay giày đã rách nát, nhịp chân dậm vẫn mạnh theo tiếng huýt gió. Trong đôi mắt của kẻ chiến bại, hãy còn ánh kiên cường bất khuất.

Đoạn phim trong phần khởi đầu The Bridge On The River Kwai bây giờ dồn dập với nhịp quân hành. Đẹp hào hùng. Thật xúc động.

 

Hai phút mặc niệm đã qua, nhưng ưu tư còn lắng đọng trong lòng người, để rồi thảng thốt vỡ tan khi tiếng đạn đại bác của nghi lễ chào tiển biệt từ đơn vị pháo binh ở Portside Park dội về. Hàng cờ lộng gió; tiếng gió rít, phập phùn bên trên nghe như mang theo âm vang từ trận địa trở về. Trời tháng Mười Một, vào ngày Lễ Remembrance Day thường có mưa rơi. Lòng trời như đồng cảm xúc với những giòng nước mắt trên lớp da nhăn xếp phong trần chinh chiến, trên bờ mi của thiếu phụ trẻ cùng con thơ đã sớm phải tiển biệt linh cữu phủ cờ. Mưa cuối thu giá buốt và làm lòng người trùn xuống, xót xa tưởng nhớ đến những người đã hy sinh hay đang còn xả thân chiến đấu cho Tự Do; như lời thơ In Flanders Fields của Trung tá Y sĩ John McCrae, và chính ông cũng ngã gục trên chiến trận ở nước Pháp, nơi đơn vị của Canada cùng quân đội Đồng Minh tham chiến để dành lại tự do cho nhân loại.

 

In Flanders fields the poppies blow

Between the crosses, row on row,

That mark our place; and in the sky

The larks, still bravely singing, fly

Scarce heard amid the guns below.

 

We are the Dead. Short days ago

We lived, felt dawn, saw sunset glow,

Loved, and were loved, and now we lie

In Flanders fields.

 

Take up our quarrel with the foe:

To you from failing hands we throw

The torch; be yours to hold it high.

If ye break faith with us who die

We shall not sleep, though poppies grow

In Flanders fields.

 

 

– Khối Diễn Hành!

– Đàng Trước!

– Bước!

 

Tùng!…. Tùng! Tùng!

Trống khởi nhịp bước cho các chiến binh trong hàng. Tiếng kèn đồng của Ban Quân Nhạc theo nhịp trống bắt đầu nghi thức diễn hành với Colonel Bogey March. Khúc quân hành hào hùng trong The Bridge On The River Kwai. Đây cũng là khúc nhạc diễn binh chính của The King’s Own Calgary Regiment (KOCR), một đơn vị kỵ binh thuộc Lữ Đoàn 41 Bộ binh miền Tây Canada.

Tiếng trống gợi nhắc, thôi thúc nhịp chân, bừng dậy bầu nhiệt huyết của một thời trai trẻ vững bước trên Vũ Đình Trường. Một thời của thao trường đổ mồ hôi, của bầu nhiệt huyết Xuất Quân, của “một đường kiếm thép oai hùng đưa”.

Tuổi trẻ quỳ xuống thề hy sinh bảo vệ tổ quốc và tự do của dân tộc.

Tuổi trẻ đứng lên, trưởng thành trong chiến trận; rồi gục ngã cho thân xác thấp sáng đuốc tự do….

 

“The torch; be yours to hold it high!”

Vâng!

Đuốc tự do vẫn được giữ lửa và vươn cao bên trên bạo lực!

Vẫn còn đây: Quốc kỳ Việt Nam!

Vẫn còn đây ánh cờ vàng tự do tung bay trong khối Quốc & Quân Kỳ của các quốc gia tự do. Quốc Kỳ và Quân Kỳ Việt Nam hiên ngang vươn cao, diễn hành trên thành phố Vancouver. Cờ lộng gió tung bay thật oai dũng. Đây, chiến tích dựng nước và giữ nước của tiền nhân. Còn thế hệ tuổi trẻ tiếp nối ngọn đuốc đấu tranh cho Tự Do của Việt Nam, điều tất thắng chắc chắn sẽ vẫn là Tự Do, Nhân Quyền!

Sẽ có một ngày, cờ lại bay tung trời, ta về với quê hương:

“Hồi sinh rồi này mẹ này em

Vui hôm nay qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời

Đi lên. Đi lên trên hoang tàn ta xây dựng ngày mai

Nhà vươn lên người vươn lên

Quân bên dân xây tin yêu đời mới

Đón nhau về, anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà

Sạch bóng thù, đồng hân hoan quân dân vui

Vang câu hát tự do…”

 

 

 

Bùi Đức Tính

Tin tức khác...