Lạc lối thiên đường

Nguyễn Đình Phùng

Duệ bật đèn pha khi thấy cơn mưa mỗi lúc một nặng hạt và cơn lo ngại trong chàng tăng dần. Chàng đưa người vợ mới cưới lên Yellowstone hưởng tuần trăng mật và trên đường về, Duệ nổi hứng thay vì đường quốc lộ liên bang, chàng đi đường chéo liên tỉnh nhỏ, hy vọng cắt ngắn được một khúc. Khi vào đến Nebraska, trời đã sẩm tối và mây đen bắt đầu kéo phủ kín bầu trời. Duệ nhìn cánh đồng mênh mông hai bên đường ngút ngàn, không một bóng nhà cửa và bắt đầu thấy hối, đáng ngại nhất là chàng làm biếng, không chịu đổ xăng ngay khi bắt đầu rời đường quốc lộ, và đèn báo hiệu xăng gần hết đã bắt đầu bật sáng.
Cơn mưa đổ xuống như thác, xe chàng gạt nước không xuể, Duệ phải lái chậm lại, chàng chong mắt nhìn phía trước cố tìm một trạm xăng hay một đám nhà cửa, thỉnh thoảng sốt ruột nhìn sang vợ chàng nằm ngả người bên cạnh. Nàng nằm thiếp hai tay ôm lấy đầu, cơn nhức nửa đầu của nàng lại bắt đầu tái phát khi chàng bắt đầu đi vào con đường nhỏ này. Duệ tự rủa thầm mình trong bụng, chàng suýt nữa băng ngang qua một con đường nhỏ nếu không nhờ ánh sáng của lằn chớp làm chàng chú ý đến tấm bảng trước mặt. Bảng chỉ đường quẹo nằm trên cột gỗ xiêu vẹo như sắp sửa bị gió thổi bay trên có ghi mấy hàng chữ: Paradise, dân số 850. Đang lo lắng, Duệ cũng phải nhếch mép cười, dân Mỹ có tục đặt những tên kỳ lạ cho các thành phố nhỏ. Mỗi tiểu bang nước Mỹ ít ra cũng có dăm bảy thành phố mang tên thiên đàng và mỗi thiên đàng cũng chỉ có vài trăm đến một ngàn dân, hài lòng với cuộc sống thôn quê của mình.
Duệ quẹo vào con đường nhỏ chạy giữa cánh đồng và một lúc sau chàng bắt đầu thấy bóng những tháp cao ngất ngưởng bằng tôn chứa lúa mạch hai bên đường và gần đó vài căn nhà rải rác. Duệ ngừng lại ở trạm xăng đầu tiên và có lẽ duy nhất của thành phố, chàng hỏi thăm chú thanh niên mặt đầy mụn đổ xăng:
– Ở gần đây có motel nào không em?
– Ông đi xuống thêm hai blocks đường nữa sẽ thấy, ở đây chỉ có chỗ đó thôi.
Hắn trả lời giọng cấm cẳn như muốn chàng đi cho nhanh để còn vào tiếp tục xem trận football trên TV. Duệ hơi bực mình nhưng chàng thấy kiếm được chỗ đổ xăng và chỗ ngủ cho qua cơn mưa lớn cũng là may mắn lắm rồi. Motel duy nhất ở đây cũng mang tên Paradise Motel và Duệ một lần nữa lại mỉm cười vì sự tương phản của cái tên và sự nghèo nàn của dẫy phòng ngủ. Chàng tặc lưỡi tiến vào trong office để thuê phòng. Ngoài cửa office gần bảng điện chữ đỏ vacancy làm chàng thấy buồn cười, có lẽ chưa bao giờ motel này được dịp bật lên chữ “No vacancy”.
Duệ đẩy cửa bước vào và được một bà Mỹ già to béo phục phịch, mặt đầy vẻ hiền lành tiếp đón. Duệ điền tên vào giấy thuê phòng và hỏi:
– Bà làm ơn cho biết gần đây có quán ăn nào không?
Bà Mỹ chủ motel nhìn tên chàng ghi trên mẫu thuê phòng và hỏi lại giọng có vẻ ngạc nhiên:
– Ông họ Trần thật sao? Ở đây chúng tôi có một tiệm ăn Tran’s Chinese Foods ngon lắm. Ông Trần này về đây khoảng vài năm nay; thành phố này không có Chinese restaurant bao giờ nên ai cũng thích lắm. Ông có họ gì với ông Trần này không?
Duệ lắc đầu, chàng ngạc nhiên thấy thành phố khỉ ho cò gáy này cũng có người Việt Nam, chàng đoán anh chàng họ Trần này là Việt Nam, từ năm 75 đến giờ, đi đến chỗ nào trên đất Hoa Kỳ này cũng có thể gặp được người đồng hương định cư tại đó. Duệ ra xe đưa vợ vào phòng, chàng nhìn nàng, mặt xanh nhợt, hai tay tiếp tục ôm đầu. Duệ hỏi, ái ngại:
– Em mệt lắm phải không? Để anh đi mua đồ ăn về cho, em chịu khó nằm nghỉ chút cho khỏe lại.
Khi Duệ ra khỏi quán trọ, cơn mưa cũng đã bắt đầu nhẹ hạt, chàng lái xe tìm quán ăn theo lời chỉ dẫn của bà chủ motel. Đi một quãng ngắn, chàng thấy ngay Tran’s Chinese Foods ở bên đường. Tiệm ăn trông nhỏ và tồi tàn, nằm dưới gốc một cây sồi lớn với cành lá xum xuê như chụp lên quán. Đèn bảng hiệu màu đỏ đục nhờ cho Duệ một cảm giác bẩn bẩn, và trong đêm đen tối ẩm ướt với những lằn sáng của cơn chớp ngoài trời tạo nên khung cảnh mang một vẻ kỳ dị, tội lỗi nào đó. Duệ tắt máy xe, bước vào quán và chàng thấy ngay người đàn ông họ Trần chủ quán. Điều làm chàng chú ý đầu tiên là cánh tay trái bị cụt lên gần khuỷu tay, chiếc áo sơ mi dài tay được bọc trám lại ở chỗ cụt trông như một chiếc nơ thắt điểm trang cho sự tàn tật, gần như mang một vẻ hãnh diện ngầm cho sự thiếu sót của mình, pha lẫn một chút thách đố, ngạo mạn.
Người đàn ông nhìn Duệ chằm chằm, soi mói, ánh mắt sắc, dữ dội như muốn tóe lửa làm Duệ cảm thấy khó chịu. Chàng bỗng thấy ngại ngùng, như một cảm giác bất an nào đó thúc giục chàng dời xa chỗ này, tuy nhiên Duệ trấn áp ngay cảm nghĩ đó, hơi ngượng cho sự vơ vẩn của mình. Người chủ quán mời Duệ vào bàn ngồi, lấy thực đơn đưa cho chàng và một lần nữa ánh mắt sắc lạnh của hắn lại chiếu về chàng chăm chú, dò xét. Hắn cất tiếng nói, giọng khàn đục, hơi có vẻ xấc xược:
– Ông có phải Việt Nam không?
Duệ mỉm cười gật đầu. Ánh mắt và khuôn mặt của gã đàn ông chợt dịu lại và hắn bắt tay chàng, bàn tay thô, sần sùi và mạnh bạo.
– Tôi tên Vũ. Mời ông chọn món ăn. Ông có muốn dùng chút rượu mạnh không?
Duệ lắc đầu. Chàng chọn qua loa vài món ăn cho người bồi bàn ghi, gã chủ quán tên Vũ đã đi vào bếp để sửa soạn. Cả quán bây giờ chỉ còn bàn chàng và một bàn khác với mấy người Mỹ làm nông trại đầu đội những chiếc mũ lưỡi trai mầu xanh trên để chữ Deere, tên của một hãng sản xuất máy cầy. Họ ăn cũng vừa xong và lục tục đứng lên ra quày trả tiền. Người bồi bàn kiêm luôn việc thu tiền và có lẽ là người làm duy nhất trong quán ngoài anh chàng chủ quán, là một người đàn bà còn trẻ có lẽ chỉ độ hai mươi mấy nhưng cũng giống như phần đông đàn bà Mỹ thiếu sắc đẹp và thiếu sửa soạn Duệ thường thấy, trông như khoảng đã ba mươi, bốn mươi, phục phịch, to béo một cách thiếu vệ sinh và đầy vẻ đần độn.
Vũ, người chủ quán, mang món ăn đầu tiên ra và tự tay mang lại cho Duệ. Hắn nhìn theo ánh mắt của Duệ về phía người đàn bà, mỉm cười nói, giọng hơi chua chát:
– Nó là vợ tôi đấy, cũng được việc, vừa trông coi tiệm vừa làm việc nhà. Hơi mập nhưng cũng không sao. Càng êm và ấm. Xứ này mùa đông cũng lạnh lắm.
Duệ cũng cười lại, vô thưởng vô phạt. Vũ nói tiếp:
– Để ông dùng bữa tối. Nếu cần gì thêm ông cứ nói cho biết.
Duệ cám ơn và sau khi dặn người chủ quán làm ít món để mang về cho vợ, chàng bắt đầu ăn. Thức ăn dở như những tiệm Tàu chuyên môn làm đồ Tàu cho khách Mỹ ăn nhưng vì đói chàng thấy cũng vừa miệng. Khi ăn gần xong, gã chủ quán đến gần kéo ghế ngồi và để nguyên một chai rượu Johnny Walker trên bàn. Hắn nói:
– Xin phép để ngồi đây nói chuyện với ông một lúc. Đã mấy năm nay tôi không gặp người Việt Nam nào.
Duệ mời hắn ngồi, tự giới thiệu tên mình và hỏi:
– Ông ở đây từ năm nào? Tôi không ngờ thành phố nhỏ như vầy cũng có người Việt. Nếu không lạc đường, chắc không bao giờ có dịp ghé ngang đây.
Vũ trả lời:
– Tôi về đây từ năm 84. Ông nói đúng nếu không lạc đường chắc cũng chẳng ai đi ngang cái quán khốn nạn này.
Hắn rót rượu ra ly, mắt nhìn chăm chú vào ly rượu và Duệ bắt đầu thấy những đường gân máu đỏ nổi lên trên lòng trắng của mắt người đàn ông.
– Tôi đến đây cũng vì lạc đường.
Hắn nói tiếp:
– Đi lang thang mãi trên đất Mỹ này rồi cũng đến vậy thôi, vả lại đã lạc vào Paradise rồi còn đi đâu nữa làm gì?
Hắn nhếch mép cười, vẻ tự chế nhạo mình.
– Tôi chết chắc sẽ phải xuống đáy Địa Ngục rồi nên bây giờ còn sống phải ở Thiên Đường cho nó sướng.
Duệ ậm ừ đưa đẩy vài câu, chàng không thấy hứng thú gì lắm nói chuyện với người đàn ông lạ này nhưng không nỡ cắt ngang. Chàng thấy hắn có vẻ tội nghiệp mặc dù khuôn mặt và cặp mắt của hắn tỏ lộ sự hung dữ của một người phải vật lộn nhiều với đời, sẵn sàng đạp lên mọi chướng vật để đạt được ý muốn. Duệ không hiểu tạo sao chàng có cảm giác bất an như vậy khi ngồi đối diện với người đàn ông. Chàng nhìn kỹ lại một lần nữa, quan sát những đặc điểm của người đối diện. Hắn dong dỏng cao, Duệ áng chừng chiều cao của hắn đối với mình và đoán cỡ khoảng thước bảy.
Vóc hắn vừa người, không vạm vỡ quá nhưng bắp thịt đầy vẻ cứng rắn, vai rộng vừa phải. Cổ hơi bạnh ra tương đối không được cân xứng lắm so với thân người, không hiểu tạo sao nhưng mỗi lần Duệ thấy một người cổ rộng và bạnh, chàng cảm thấy một sự hung tợn và đe dọa nào đó. Khuôn mặt của Vũ tương đối đều đặn, một sự đều đặn bình thường không đẹp không xấu nhưng lại càng làm cho sự tương phản giữa khuôn mặt và cặp mắt trở nên rõ rệt hơn. Cặp mắt của Vũ là một pha trộn giữa vẻ lạnh, sắc và tàn nhẫn, không phải hòa lẫn, nhưng thay đổi theo từng lúc với vẻ cuồng bạo, đam mê và giận dữ. Cặp lông mày đen, dày và rậm ở phía ngoài mắt trái với một vết sẹo trơn, nhạt chạy lên gần thái dương, càng làm cho Duệ cảm thấy nỗi bất an, khó chịu khi ngồi đối diện với người đàn ông đang uống rượu trước mặt mình.
Duệ ăn đã gần xong nhưng càng cảm thấy khó lòng đứng dậy để trả tiền rời khỏi quán. Vũ nhìn chàng chăm chú và khi thấy Duệ đưa mắt nhìn tay áo thắt hình chiếc nơ ở chỗ khuỷu tay trái cụt của mình, hắn cất tiếng:
– Tôi cụt tay này vì một người đàn bà.
Duệ hơi sửng sốt nhìn lên. Vũ nhếch mép cười, hắn nâng ly rượu lên uống cạn một hơi, nhấc chai Johnny Walker đổ đầy vào ly và nói tiếp:

– Mất một tay này đã nghĩa lý gì, tôi có cụt cả hai tay hai chân vì nàng cũng còn được cơ mà.
Vũ bắt đầu kể, cặp mắt hắn nhìn thẳng vào Duệ nhưng chàng cảm thấy như hắn nhìn xuyên qua chàng, về phía một hình bóng mơ hồ nào đó sau lưng. Duệ ngồi yên như chôn chân nghe hắn kể, chịu đựng luồng ánh mắt của hắn như một cặp đinh dài ghim cứng chàng vào thành ghế gỗ đằng sau.
– Nàng là con bà dì ruột tôi. Tôi không hề được biết trên đời mình có một bà dì cho đến năm tôi 18 tuổi. Mẹ tôi chết ngay sau khi sinh tôi ra và tôi lớn lên với gia đình bên nội, hoàn toàn không biết một chút gì về bên ngoại cả. Bố tôi chắc có chuyện bất hòa với gia đình nhà vợ nên không hề giao thiệp, đi lại với bên ngoại tôi cho đến ngày tôi bắt đầu trưởng thành. Một ngày mùa hè năm ấy khi vừa hết niên học, bố tôi gọi tôi vào phòng đọc sách của ông, thảy cho tôi một bì thơ dầy cộm và nói bằng giọng ơ hờ:
“Thư của dì Tâm đây. Dì Tâm là em ruột má mày. Năm nay có muốn lên Đà Lạt chơi, tao mày lên ở với dì mày một hai tháng!”

Nói xong, ông khoác tay đuổi tôi ra, như thể nhắc đến tên dì Tâm nào đó làm bẩn miệng ông và làm ông khó chịu không tả được. Đọc thơ, tôi mới được biết tôi có gia đình bên ngoại, hiện nay đang sống cả ở Đà Lạt. Tôi có hai người bác và một bà dì là dì Tâm vừa gửi thư cho tôi. Trong thư dì nói thương mẹ tôi vô cùng và muốn gặp mặt tôi, đứa con độc nhất của mẹ tôi để xem tôi có giống bà không? Dì hỏi tôi mùa hè này có định đi đâu chơi không và nếu rảnh lên Đà Lạt ở nhà dì ít lâu. Tôi chưa được lên Đà Lạt chơi bao giờ, những mùa hè trước, tôi được ra Cấp chơi một hai tuần lễ đã sướng rồi, nói gì đến chuyện đi xa hơn, nên có dịp được đi Đà Lạt, tôi bắt lấy ngay sợ mất cơ hội. Quả tình, chuyện móc nối lại với gia đình bên ngoại, tôi cũng chẳng quan tâm lắm; liên lạc họ hàng ngay cả bên nội tôi không tha thiết đến, huống gì một bà dì chưa bao giờ nghe đến, chưa bao giờ gặp mặt. Tôi ra đánh điện tín cho dì Tâm ngay ngày hôm đó và sáng sớm hôm sau đã có mặt trên chuyến xe đò Minh Trung đầu tiên từ Sài Gòn lên Đà Lạt.
Nhà dì Tâm ở trong một khu khá sang trọng trên dốc Hải Thượng, tôi đi xe lambretta lôi từ bến xe đò gần chợ về đến khu nhà dì, quãng dốc còn lại phải ì ạch xách chiếc va li cồng kềnh và nặng leo lên dốc, tên tài xế xe lôi nhất định không chịu chạy tới đầu dốc. Đường phố Đà Lạt sạch và thơ mộng với những hàng thông cao vút dọc đường đi, chỉ tội nhiều dốc quá cao, đi bộ hay lái xe đạp là cả một cực hình. Nhà dì Tâm ở trên đầu dốc, mái ngói đỏ, gạch tường màu nhạt với những cây leo bò lên tận gần đầu tường. Tôi bấm chuông cửa, lòng hơi hồi hộp. Quả tình tôi đi hơi vội, mới đánh điện hôm qua, chiều nay đã lên đến nơi. Nhỡ dì Tâm không có nhà, chưa ai nhận được điện tín, không ai biết tôi là ai cả thì sao?
Tôi đợi khá lâu, sau cùng cánh cửa từ từ hé mở và khuôn mặt một cô gái hiện ra, tóc thắt bím, chừng độ 15 tuổi. Nàng nhìn tôi từ đầu đến chân, cặp mắt đen, to tròn và lay láy:
– Anh Vũ, phải không?
Tôi thở phào nhẹ nhõm. Vậy là điện tín đến kịp.
– Em là Mai.
Nàng nói tiếp:
– Mẹ đang đợi anh.
Nàng chỉ tay cho tôi vào lối nhà trong. Căn nhà rộng mênh mông với sàn gỗ đánh xi bóng loáng, tôi đi chỉ sợ ngã. Dì Tâm ngồi trong một chiếc ghế bành rộng phòng khách phía trong và bà đứng dậy nắm lấy tay tôi:
– Cháu Vũ. Cháu giống mẹ cháu như hệt.
Bà ôm lấy tôi và khóc. Tôi đứng im như khúc gỗ, không biết nói năng gì, cảm thấy hơi phiền. Càng phiền hơn nữa khi nhìn lên tôi thấy Mai đang bụm môi cười, cặp mắt đầy vẻ tinh nghịch nhìn tôi diễu cợt. Sau cùng dì Tâm cũng buông tôi ra, bà lùi lại, ngắm nghía tôi từ đầu đến chân và gật đầu:
– Cháu giống bên ngoại như vậy là tốt lắm.
Giọng bà có vẻ nhẹ nhõm như chỉ sợ tôi giống bên nội nhiều hơn. Quay lại nhìn Mai, bà bảo:
– Con chào anh Vũ chưa? Đứng đó cười cái gì. Xuống bếp phụ vú Hiền làm cơm nhanh lên đi. Anh Vũ chắc cũng đói bụng rồi đấy.
Bà nhìn sang tôi:
– Dì chỉ có mình Mai là con, nó còn con nít lắm. Cháu lên phòng cất đồ đi, rồi sửa soạn xuống dùng cơm.
Tôi lên cầu thang theo chân dì Tâm lên lầu trên. Những bực thang cũng đánh xi bóng loáng màu gụ, đầy vẻ sạch sẽ nhưng trông hơi ảm đạm. Tôi bước từng bước cẩn thận chỉ sợ trượt chân ngã. Dì Tâm vừa bước vừa nói:
– Trên lầu là phòng ngủ cả, có 3 phòng: phòng của dì, phòng của Mai, phòng của cháu phía bên này; Mai bỏ cả buổi chiều để dọn phòng cho cháu đấy! Cháu rửa mặt, thay đồ rồi xuống dùng cơm tối.
Tôi đặt chiếc va-li xuống sàn khép cửa và ngả người xuống chiếc giường to choán gần hết phòng, phủ một tấm chăn bông dày cộm. Buổi tối đầu tiên ở Đà Lạt gây gây lạnh, nhìn chăn dày xếp cẩn thận, chắc do Mai sửa soạn làm tôi cảm thấy ấm hẳn lại, chỉ muốn chui ngay vào chăn. Dì Tâm tiếp đón tôi thật nồng hậu, dì hiền từ biết bao, mẹ tôi còn chắc cũng hiền từ như vậy. Còn Mai nữa, cô em họ của tôi mới gặp lần đầu nhưng sao cho tôi những cảm giác lạ lùng. Dì Tâm tôi cảm thấy thân cận như thể bà là mẹ tôi, nhưng với Mai, tôi cảm thấy khác, như thể không phải ruột thịt, họ hàng gì cả với Mai cả. Đồng thời nhớ lại lúc nhìn Mai bụm môi cười khi nãy, tôi chợt khám phá ra cảm giác kỳ lạ, lâng lâng, khó tả quấn quít tôi nãy giờ bắt đầu từ lúc ấy. Và tôi bỗng thấy hơi ngượng, như thể mình đang làm một chuyện gì xấu xa, bị cấm đoán và bị bắt gặp.
Vũ ngừng kể, cặp mắt đang nhìn như thấu qua người Duệ bỗng tụ lại với tiêu điểm trên khuôn mặt chàng, hắn ngừng lại một lúc và nói:
– Tại sao tôi lại kể chuyện này với ông nhỉ? Những chuyện này là những chuyện tôi chưa bao giờ kể với ai, cũng không thể để cho ai biết. Tại sao tôi lại cho ông biết?
Hắn nheo mắt nhìn chàng, ngắm nghía:
– Cũng không sao! Chúng ta gặp nhau một lần rồi chẳng bao giờ gặp lại nữa. Ông muốn biết tại sao tôi cụt tay. Không can gì! Tôi sẽ cho ông biết hết.
Hắn nhìn xuống bàn, chai Johnny Walker đã cạn. Vũ cười khẩy:
– Ông chê rượu này không uống. Được rồi!
Hắn đứng lên lại quầy lấy một chai Martell Cordon Bleu còn nguyên và một bịch Perrier lại bàn.
– Nào, mời ông uống chút rượu với tôi. Tôi không bao giờ say cả, nhưng phải có người cùng uống mới được.
– Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? À! Tôi đang kể cho ông nghe lúc gặp Mai lần đầu. Cảm giác lúc ấy có phải tình yêu hay không, tôi không biết, nhưng nếu quả thật có những cảm xúc khác thường do tình yêu lần đầu mang đến như trong tiểu thuyết vẽ vời; chắc cũng không thể nào khác hơn được những cảm nhận của tôi lúc ấy. Mai đẹp lắm, năm ấy nàng mới 15 tuổi, thua tôi hơn ba năm, nhưng nàng đã trở thành một thiếu nữ đẹp, đẹp lắm rồi. Tôi chưa hề gặp một cô gái nào ở Sài Gòn đẹp như nàng cả. Có lẽ trời Đà Lạt và cái lạnh của Đà Lạt làm tăng thêm vẻ đẹp nàng, nhưng cặp má hồng, khuôn mặt trái soan thanh tú trắng ngần của nàng và đôi mắt trong, to tròn tinh nghịch ấy đã thu hút hồn tôi ngay. Chắn hẳn phải là tình yêu vì đầu óc tôi không còn gì khác hơn là hình ảnh nàng, chiếm ngự hoàn toàn làm tôi ngộp thở. Chuyện nàng là em họ tôi, tôi không quan tâm cho lắm vì tôi có biết nàng là họ hàng bao giờ đâu, cho đến buổi chiều hôm nay.
Nếu đời sống có thể ép lại được để cuộc đời có ý nghĩa, để đời sống đáng được sống, có lẽ tôi đã sống trọn cuộc đời tôi rồi, trong một tháng trời đó ở Đà Lạt. Tôi sống tràn trề, dạt dào, từng giây từng phút, trong bầu trời Đà Lạt, trong ngôi nhà đầu dốc Hải Thượng đó, với nàng. Cả trong giấc ngủ tôi vẫn sống với hình ảnh nàng, chờ đợi cho đến buổi sáng để gặp lại nàng bằng xương bằng thịt, cùng nàng và dì Tâm ăn sáng. Cuộc đời sao có thể đẹp và sung sướng đến như vậy!
Mỗi ngày đối với tôi như một ngày hội, Mai dẫn tôi đi chơi khắp nơi ở Đà Lạt: Than Thở, Prenn, Suối Vàng, hoặc đôi khi chỉ là những đồi thông vắng người, không tên tuổi. Buổi chiều đôi khi tôi với Mai ra ngồi ở Thủy Tạ trên hồ Xuân Hương nghe nhạc uống nước. Có lúc trời mưa chúng tôi kéo nhau lên trên phòng đợi của khách sạn Palace, ngồi trong những chiếc ghế bành vĩ đại nhìn xuống mặt hồ, nhìn mưa qua khung cửa kính, uống từng ngụm cà phê do những người bồi mặc đồ trắng kính cẩn đem lại. Nếu ngày nào cũng như vậy, đời sẽ đẹp biết bao, ước gì cả một đời còn lại của tôi ở thành phố Thiên Đường khốn nạn này được đổi lấy một ngày xưa cũ trên Đà Lạt với Mai, tôi sẽ đổi ngay, không chút ngại ngùng!

Một tháng trời hạnh phúc nhất của đời tôi trôi qua như một khoảnh khắc, rồi tôi cũng phải về Sài Gòn, nhưng tôi đã quyết định ngay, mau chóng và dứt khoát; xa Mai một ngày thôi là điều tôi không thể nào chấp nhận được. Cuối mùa hè năm đó, tôi vào trường Võ Bị Đà Lạt, mặc kệ những lời chửi rủa của bố tôi, ông đã sắp đặt sẵn sàng để cho tôi sang Pháp du học. Làm sao ông hiểu được tôi cần gì tương lai sáng lạng ông vẽ ra trước mắt tôi, nếu tôi không có Mai, không được thở hít cùng một bầu trời với nàng, không được cùng nàng đi chơi trong ánh nắng chan hòa của Đà Lạt đầy thơ mộng.

Và như thế tôi chọn cuộc đời binh nghiệp để được gần Mai trong mấy năm trời thụ huấn tại trường Võ Bị, mỗi chiều thứ bẩy ra phép với tôi là hạnh phúc, giản dị như cuộc đời hiện tại, chỉ có tôi, Mai và tình yêu. Tình yêu đây là tình yêu của tôi đối với Mai, tôi biết rõ Mai vẫn chỉ coi tôi là người anh họ, không hơn không kém. Mọi sự trước mắt, quá khứ, hiện tại, đối với tôi đều là vô nghĩa, tôi quên hết mọi sự, chỉ để tâm và chờ đợi chiều thứ bẩy, những chiều thứ bẩy thần diệu, huy hoàng và sung sướng.
Nếu cuộc đời cứ phẳng lặng như thế thì giản dị biết bao nhiêu, nhưng giòng sông nào êm trôi cũng có lúc rẽ khúc, đến năm thứ ba ở Võ Bị tôi bắt đầu thân thiện nhiều với Hoàng, một người bạn khóa sau, và chuyện không tránh được cũng sẽ phải xẩy ra. Một buổi chiều thứ bẩy tôi đưa Mai đi ăn kem ở dốc Hòa Bình gặp Hoàng, tôi bắt buộc phải giới thiệu hai người với nhau, và đời tôi, như đã từng lo sợ và tiên đoán trước một ngày như vậy sẽ xẩy ra, bắt đầu đi vào con đường của thê thảm.

Những ngã rẽ của cuộc đời có lẽ đều bắt đầu như thế, khi đời đang tươi sáng đến mức cực điểm, tưởng chừng như không gì có thể làm u ám, hủy hoại được. Và có lẽ những khúc quanh của đời đều bắt đầu vào những ngày thứ bảy đẹp trời như vậy. Tôi ngồi nhìn Mai ăn kem, nhìn Hoàng chăm chú nhìn Mai, cười với nàng và nàng ngượng nghịu cười lại, niềm thắt nghẹn chợt ùa đến như giông bão bóp chặt lấy quả tim và tôi ngừng thở, ý thức rõ rệt được sự xấu xa, một sự xấu xa tuyệt đối đang bủa vây tôi và xâm chiếm lấy hồn tôi.

Vì tôi nhận thấy rõ ràng tình yêu tôi đối với Mai là tình yêu một chiều, nàng sẽ chẳng bao giờ yêu tôi. Mai có thể yêu Hoàng, người đang ngồi đối diện với nàng trong tiệm kem này, những dấu hiệu của tình yêu đang và sẽ xẩy ra giữa hai người tôi nhận thức được ngay. Mai có thể sau này không yêu Hoàng và yêu người khác hay nhiều người khác, nhưng tôi chắc chắn một điều, khẳng định một cách tuyệt đối trong buổi chiều ngày thứ bảy đẹp trời hôm đó, nàng sẽ không bao giờ yêu tôi, và tôi suốt đời sẽ chỉ là một người anh họ, được chú ý đến như một con chiên lạc loài được đón nhận trở lại vào bầy, nhưng chỉ thế thôi, không hơn không kém.

Từ trước tới giờ tôi không bao giờ để ý đến chuyện tốt, xấu. Có lẽ cho đến lúc đó tôi là người tốt, nếu hiểu tốt như là chưa bao giờ làm chuyện gì xấu, như những điều mấy ông thầy dòng đã cố gắng nhồi vào đầu óc tôi suốt những năm học tiểu học, trung học. Tôi sống bình thường, không làm điều gì hại đến ai, không hề có ý tưởng làm những chuyện phiền lòng cho người khác. Mặc dù tôi không làm điều tốt, nhân nghĩa nào cả nhưng có lẽ so với chán vạn người khác, tôi vẫn tốt hơn nhiều người. Chuyện tốt xấu cũng như cuộc đời có lẽ tùy thuộc nhiều vào hoàn cảnh.

Giả sử như tôi không gặp Mai, không biết Mai là ai cả, với sự nhồi sọ của mấy ông thày dòng, có lẽ tôi sẽ trở thành một người tốt, tương lai sẽ là một người chồng, cha tốt, một công dân gương mẫu, hoặc giả tôi xiêu lòng vì những lời khuyến khích, dụ dỗ của mấy thầy dòng, đi tu, biết đâu tôi lại trở thành người thánh thiện là đằng khác. Nhưng ngày hôm đó, chiều thứ bảy hôm đó, ngồi nhìn tình yêu đang nảy nở giữa Mai và Hoàng, tôi biết sự xấu đã đến với tôi, xâm chiếm lấy tôi một cách tuyệt đối, vào từng đường da, thớ thịt, vào từng ngõ ngách của tâm linh tôi. Cái xấu chợt ùa đến, chụp lấy tôi như lưới cá của người ngư phủ, càng vùng vẫy càng thắt chặt. Sự xấu không đến từ từ, có lẽ ông không hiểu được điều này và chắc cũng ít người ý thức được; sự xấu đến với tôi ngày hôm đó, mãnh liệt và cuồng bạo, dứt khoát và hoàn toàn, là sự xấu tuyệt đối, không thương hại, không mặc cả.

Điều làm tôi ngạc nhiên là nhận biết sự xấu đang đến với mình, bủa vây mình không làm cho tôi sợ hãi chút nào cả, như thể tôi đã biết được chuyện sẽ xẩy ra như vậy. Đồng thời tôi bắt đầu ý thức được một cảm giác lạ thường, phải gọi là khoái cảm mới đúng hơn, làm tôi tê dại hẳn đi. Tình yêu tuyệt vời của tôi đối với Mai mang lại cho tôi nhiều hạnh phúc nhưng những cảm giác sung sướng, hoan lạc nhận được có lẽ không thể so sách với mức cường độ của niềm khoái cảm kỳ lạ do sự xấu phủ chụp lấy hồn tôi, đời tôi, lúc đó đem lại. Phải chăng điều gì cũng có giá của nó và sự xấu muốn tồn tại phải đem lại cho nạn nhân của nó một cái gì đó, xứng đáng, để trao đổi.

Tình yêu của tôi đối với Mai là tình yêu tuyệt đối nên khi móng vuốt của sự xấu xa chụp lấy hồn tôi lúc đó không thể nào là khác hơn, và chỉ có thể là một sự xấu tuyệt đối. Cánh cửa của định mệnh đã hé mở và tôi nhìn thấy rõ định mệnh của mình, mấy ai trên đời này có thể biết được định mệnh của mình. Tình yêu của tôi và sự xấu xa, quyện tròn, phủ kín lấy nhau, trộn lẫn như hai mặt của tuyệt đối, không thể rời nhau ra cho đến tận cùng của đời tôi. Ngày phân cách sẽ là ngày tôi chết. Vì còn gì có thể tuyệt đối hơn sự chết?

Như thế, ngày thứ bảy đẹp trời hôm đó, anh bạn Hoàng đáng thương đã tự đưa mình vào chỗ hủy diệt, Mai cũng không thể ngờ được chính nàng là bồi thẩm đoàn quyết định sự sống còn của Hoàng, ánh mắt long lanh và nụ cười của nàng với Hoàng là lời phán quyết tối hậu, tôi còn có thể làm gì khác hơn việc thi hành bản án.
(Còn tiếp)
Nguyễn Đình Phùng

Tin tức khác...