Hồi ký Văn Quang : Ngày tháng chưa quên (2)

(Tiếp theo Thời Báo thứ Năm 2423 ngày 20/04/2017)

 

Thưa bạn đọc,

Đây không phải là cuốn hồi ký đúng nghĩa mà chỉ là một số đoạn trong những ngày tháng rời xưa cũ, vào tuổi 85 tôi viết lại cho chính mình. Một góc nào đó cho con cháu giữ lại, một phần nào đó cho các bạn trẻ VN nhìn thấy những thăng trầm biến đổi, những yêu thương hờn giận, những thất bại và thành công, những bất ngờ ập xuống, những kỳ lạ trong cuộc sống mà chính tôi cũng không giải thích được. Đặc biệt là với những năm viết văn, làm báo cùng những cung bậc thăng trầm trong cái thế chênh vênh của tôi. Làm thế nào tôi có thể tự vươn mình đứng dậy. Đó không phải là một bài học kinh nghiệm mà chỉ là những mẩu chuyện để các bạn trẻ xem qua rồi tự chọn lựa con đường của mình nếu thật sự các bạn ấy thích viết văn làm báo. Tôi nghĩ đó cũng là điều không vô ích. Trong mỗi trường hợp tôi chỉ trích một bài viết tượng trưng như một loạt bài tôi đã viết về anh em Thương Binh VNCH, bài về anh Thương Binh tự thiêu, nhiều kỷ niệm về bạn bè đã mất, về Chú Tư Cầu Lê Xuyên, những ngày ở Lộc Ninh, về tính cách đặc biệt của nhà văn Thụy Vũ…

Vào tuổi tôi, có lẽ viết hồi ký là quá muộn bởi khi quên khi nhớ, chuyện lớn không nhớ lại nhớ chuyện nhỏ hơn. Tuy nhiên nhớ gì viết nấy, cố sống lại cho đúng cảm xúc trung thực của mình từng giai đoạn. Có thể có vài sai sót trong những số liệu hoặc năm tháng, đó là thứ bệnh của tuổi già. Mong bạn đọc bổ khuyết hoặc vui lòng thông cảm cho. Viết lại cả cuộc đời không biết nên bắt đầu từ đâu. Có lẽ tôi nên bắt đầu từ thuở ấu thơ với những gì tôi còn nhớ được.

Văn Quang

 

Cần phải liều một tí

Ở đây tôi muốn nói khi còn trẻ gặp tình yêu đầu tiên, đôi khi bạn cần phải “liều” nếu thật sự đó là tình yêu. Bạn hãy nhìn thẳng vào trái tim mình, đứng trốn tránh. Nếu bạn cứ lừng khừng con bướm sẽ bay mất. Và biết đâu đấy, người con gái bạn đang theo cũng sẽ cho bạn là “ngốc” như tôi đã bị cô bạn cũ mắng yêu. Bạn sẽ hối hận. Nhưng nếu bị từ chối thẳng thừng bạn nên “biến ngay” đừng suồng sã quá, sẽ hạ thấp nhân phẩm của bạn. Cuộc đời này còn thiếu gì người đẹp bạn sẽ gặp. Đó không phải là lời tự an ủi mà là sự thật. Một đàn anh tôi “dạy” khi tôi còn trẻ và đang bị một cú gần như thất tình. Đàn anh này nói: “Phương thuốc nhiệm màu nhất cho những anh thất tình là có người yêu khác”. Nghe có vẻ hơi “Sở Khanh”. Hơi thôi vì có được đáp lại đâu mà phản bội. Phản bội mới là đáng tội. Tôi đã thực hành và quả là đúng. Tôi lại tỉnh táo sống bằng tình yêu mới. Tôi không tin là đã làm đúng nhưng không hối hận.

Khi tôi mới bước chân vào nghề làm báo, lúc đó tôi được bạn bè ở Hà Nội như Văn Thế Bảo, Trần Đỗ, Nam Tê  giới thiệu cho tôi làm thông tín viên cho tờ báo Thân Dân của cụ Nguyễn Thế Truyền. Làm thông tín viên có nghĩa là hằng ngày chỉ đến mấy ty cảnh sát và tòa án lấy tin tức lặt vặt gửi theo xe đò lên tòa báo ở Hà Nội. Những thứ tin tức như thế, các đàn anh gọi là tin “xe cán chó”. Vậy mà cũng có chuyện mấy đàn anh ở cùng thành phố chèn ép, vặn vẹo vì cạnh tranh. Nói thẳng ra trong nghề viết văn làm báo cũng có nhiều khi bạn bị chèn ép, bị ganh tị, bị đá móc…

Theo tôi, bạn cần phải tin ở mình, không cần trả lời những gì không đáng, không tranh cãi cho mất thì giờ. Bạn cần phải đứng vững trên đôi chân của mình và hãy tin rằng bạn làm đúng. Khi đó bạn cứ “đường ta ta đi”, có như thế bạn mới sống trong “nghề” được. Tôi đã vượt qua con đường ấy khi mới ra lò. Tôi mạnh dạn viết bài gửi cho tuần báo Cải Tạo của ông Phạm Văn Thụ. Sau đó truyện dài đầu tay của tôi được đăng trên báo Thân Dân. Tiền nhuận bút cả cuốn truyện được hơn một ngàn đồng. Tiền nhuận bút đầu tiên trong cuộc đời tôi đấy.

Cái thân hình 38 ký vào lính

Vào năm 1953, tháng 9, tôi nhận được lệnh “Động viên dưới cờ” của Quốc Trưởng Bảo Đại. Đang dạy học, bỗng có hai anh cảnh sát đứng chặn ngay hai bên cửa ra vào. Tôi chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Hai anh cảnh sát nói “thầy cứ dạy cho xong giờ đi”. Tôi còn hồn vía nào mà giảng bài. Tôi chấm dứt giờ học, hai anh cảnh sát đưa tôi ra xe về đồn. Tống tôi vào nhà tạm giam với mấy tay trộm cướp nhì nhằng. Một thằng dáng chừng là “đầu nậu” hỏi: “Thằng kia, mày làm gì mà vào đây?”.  Tôi nói “Trốn động viên”. Nó chửi: “Mẹ mày làm quan không muốn lại muốn vào nhà đá”. Tôi đành lặng yên.

May có ông hiệu trưởng trường tôi biết tôi chỉ bị động viên thôi, ông này quen với ông thị trưởng Lê Quang Luật nhờ bảo lãnh cho tôi về nhà. Ông Luật đưa xe về tận nhà và nói: “Mai ông theo xe lên Hà Nội trình diện đấy kẻo mang tiếng cho tôi”.

Thế là hôm sau tôi phải khăn gói lên Hà Nội trình diện. Bạn bè tôi nói: “ Ông gầy còm thế này ai bắt ông vào lính mà sợ”. Tôi yên chí đến phòng gọi nhập ngũ trình diện, khi cân đong đo đếm, tôi chỉ có 38 ký, tưởng thoát. Cầm tờ giấy ghi kết quả tôi thấy chỉ vỏn vẹn có hai chữ “SS” còn của mấy anh khác khỏe hơn có hai chữ “SA”. Tôi chẳng biết ký hiệu ấy là gì, bèn đi hỏi. Một ông thiếu úy giải thích “SA” là “Sevice Armer” tức là “lính chiến đấu, còn tôi có chữ “SS” là “Service Sédentaire” là lính văn phòng.

Xin nói rõ đó là thời kỳ chiến tranh Việt Pháp đang mở rộng khắp các chiến trường, nhu cầu quân đội rất cao. Ngoài trường Võ Bị Đà Lạt còn mở thêm trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa tôi là khóa 4 lên đến hơn ngàn người. Công chức, sinh viên động viên hết. Trường Thủ Đức không đủ chỗ phải gửi khóa phụ (sau khóa tôi 3 tháng) lên Trường Võ Bĩ Đà Lạt học.

Thế là tôi bị giữ lại, đưa vào trại Ngọc Hà. Giấy tờ căn cước bị tịch thu hết chẳng khác gì ở tù. Tôi gặp Nguyễn Năng Tế dân Hà Nội ở đây. Hai thằng nằm gần nhau, Tế tâm sự “Tớ có con bồ đi ngoài kia, làm thế nào ra gặp được”. Tôi  nhìn ra đường thấy một tiểu thư đi đi lại lại trên con đường dài. Tôi nói với Tế chuồn sang chỗ thằng lính Tây gác cổng nhà ông quan ba Tây, cho nó tí tiền may ra nó cho ra, cậu không có giấy tờ gì không trốn được đâu. Mà thời đó trốn đi đâu? Ra hậu phương là lãnh đạn rồi cũng đi lính. Tội gì mà trốn.

Tế chuồn ra gặp bồ, sau này tôi mới biết bồ của Tế là Kiều Chinh hồi chưa là diễn viên điện ảnh nổi tiếng. Nhưng là người đẹp Hà Nội thì cũng khá nổi tiếng rồi.

Sáng sớm mai đúng giờ thằng lính Tây gác, Tế lại vào trại Ngọc Hà.

Ngay sáng hôm sau chúng tôi lại được xe chở ngược lại Hải Phòng ra phi trường Cát Bi, đẩy lên máy bay quân sự vào Nam. Đến Sài Gòn vào lúc nhá nhem tối. Đoàn xe GMC chờ sẵn chạy như bay vào Thủ Đức. Đêm về nằm dưới nhà tôn tạm thời chờ phân chia đại đội. Nghe mấy bà ở trại gia binh rao hàng “bánh thầy, guốc thầy” tôi ớ mặt chẳng biết họ bán gì. Một anh bạn vùng Cái Vồn giảng cho tôi “họ bán bánh để ăn và guốc để đi trên sàn nhà cát”.

Hôm sau chúng tôi mới được chia về cho từng đại đội. Tôi chỉ biết mình thuộc Đại Đội 3, Trung Đội 9.

Tôi là lính nhảy dù, là sĩ quan commando!

Đại Đội tôi do một ông Trung Úy người Pháp chỉ huy, tôi còn nhớ tên ông ấy là Bardet, thuộc binh chủng Nhảy Dù Pháp. Lại đúng lúc Quân Đội thành lập Sư Đoàn Nhảy Dù. Thế là toàn trung đội 9 của tôi biến thành Trung Đội học nhảy dù. Khi tôi lên khám sức khỏe, mấy ông bác sĩ quân y trẻ cười ngất, phán: “Anh mà nhảy dù thì anh bay mất tiêu, có 38 ký nhảy ở nhà”. Thế là tôi được phê ngay chữ “Inapte” tức là “sổ toẹt” không được đi lính nhảy dù. Vài hôm sau tôi được chuyển sang trung đội khác cũng trong Đại Đội 3. Tôi tưởng thế là thoát bởi hồi đó chiến dịch Điện Biên Phủ đang gay cấn, ra trường mà làm lính nhảy dù vào thời kỳ này là… dễ chết lắm  Tôi hơi yên tâm sẽ là lính bộ binh may ra được làm văn phòng.

Thế nhưng toàn Đại Đội 3 của tôi lại được lệnh xuống tàu ra miền Bắc, học Stage Commandos ở Vật Cháy. Hai tháng học Comandos ở đây quả là “thần sầu” khiếp đảm đối với một anh loắt choắt như tôi. Đi cầu khỉ, tập leo núi, hành quân trong đường rừng với bản đồ… Viên sĩ quan chỉ huy trường Commandos người Pháp nói thẳng “Ở đây, ăn ít làm nhiều. Mỗi khóa có chỉ tiêu được phép tử vong 6%”. Có nghĩa là sinh viên nào cũng có thể chết khi huấn luyện, nhà trường không chịu trách nhiệm gì. Chúng tôi đều cố gắng theo học. May mà không chết thằng nào.

Hai tháng sau chúng tôi có cái mác lính Commandos Nord VN. Hồi đó lính Commandos nghe dữ dằn lắm, đội mũ béret đen, bên cạnh có cái huy hiệu tròn mang hình con hổ, chuyên đi hành quân ban đêm vào tận xóm làng truy lùng địch. Nghe đến tên commandos là sợ hết vía.

Tôi đã trở thành lính Commandos chính hiệu. Mặc dù trong giấy nhập ngũ của tôi là Service Sédentaire nhưng bất cần hồ sơ, lúc đó chỉ cần nhu cầu phục vụ chiến tranh.

Sau khóa học ở Trường  Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, tôi được đưa về Trường huấn luyện Hạ Sĩ Quan Quân Khu 4, đóng tại Suối Dầu cách thành phố Nha Trang 12 cây số. Tôi được giao nhiệm vụ làm Đại Đội Trưởng một Đại Đội khóa sinh, cũng là lính động viên học lớp này ra hạ sĩ quan. Sau dọn ra Đồng Đế cách TP Nha Trang có 5km.

Nhưng lại một chuyện trớ trêu khác, đúng thời kỳ Hiệp Định Génève chia đôi đất nước, trường Commandos Vật Cháy di chuyển vào Nam và Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế biến thành Ecole Commandos như ở Vật Cháy trước kia.

Tôi lại được phân công làm Huấn Luyện Viên Commandos. Tôi phải gồng mình dạy các đại đội thám báo các sư đoàn về đây học. Cậu HLV nhóc cần có “uy” nên tôi cố làm ra vẻ “dân nhà nghề”, huấn luyện rất kỷ luật. Cuối khóa tôi phải đích thân dẫn một Đại Đội đi học xuyên rừng đúng 3 ngày 3 đêm liền. Ngày hành quân, tối tự kiếm chỗ dựng lều ngủ, lính gác đàng hoàng nếu không có thể bị địch tấn công bất ngờ. Ấy thế mà tôi vẫn hoàn thành nhiệm vụ cùng những HLV trẻ khác.

Nhảy sang ngành khác

Lại một chuyện bất ngờ nữa ập đên. Lúc đó cụ cố vấn Ngô Đình Nhu nhận thấy Quân Đội VNCH cần có một cơ quan Chiến Tranh Chính Trị để tạo lý tưởng cho toàn quân. Nha Tác Động Tinh Thần được thành lập ngay tại Bộ Quốc Phòng. Sau đổi thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Một ban soạn thảo bài học về Chiến Tranh Chính Trị được thành lập. Lúc đó mới chỉ có 3 bài là Binh Vận, Dân Vận và Địch vận. Mỗi bài chỉ vỏn vẹn có 1 trang giấy A4 quay roneo phát cho các Trường Huấn Luyện.

Trường của chúng tôi buộc phải chọn một người làm Tác Động Tinh Thần và huấn luyện mấy bài về chiến tranh tâm lý. Ông chỉ huy trưởng xem hồ sơ rồi gọi tôi lên giao nhiệm vụ với lý do là tôi đã từng dạy học, đã từng học Commandos. Thế là từ anh HLV tác chiến tôi lại nhảy sang làm anh huấn luyện viên về chiến tranh chính trị.

Khổ một nỗi là bài mỗi bài học chỉ có 1 trang giấy mà phải dạy suốt 3 tiếng. Dạy cái gì bây giờ? Đọc toàn bài chỉ mất nhiều lắm là 10 phút. Còn thừa thì giờ để làm gì? Tôi đành phải tán dóc với mấy đại đội lính đang học. Cái gì chứ tán dóc thì mấy anh lính nhà ta khoái lắm. Lựa đúng “chỗ ngứa” của tuổi trẻ tôi tán dóc như:

“Nếu anh làm dân vận anh phải được lòng mọi người trong nhà, anh phải tán từ con chó nhà đó đến cô người làm, tán được cô chủ thì càng tốt, đúng không các cậu?”.

Lính vỗ tay rần rần. Tôi vừa giảng vừa cho tất cả các học viên góp ý kiến để kéo dài thì giờ. Tha hồ nói.

Bất ngờ là hôm đó có ông Giám Đốc Nha Tác Động Tinh Thần từ Sài Gòn ra thăm trường có ông Chỉ Huy Trưởng là bạn cùng quê. Ông Giám Đốc Nha Tác Động Tinh Thần lúc đó là Thiếu Tá Trần Văn Trung. Ông ngồi trên phòng Chỉ Huy Trưởng gần đó nghe lính vỗ tay loạn xạ, ông lắng nghe. Rồi sau đó ông gọi tôi lên văn phòng hỏi về lý lịch của tôi. Biết tôi dạy học và đã có thời kỳ làm anh ký giả mới ra lò, gửi bài đăng báo ở Hà Nội. Ông ngỏ ý muốn đưa tôi về làm ở Nha Tác Động Tinh Thần.

Chỉ một tháng sau tôi có lệnh thuyên chuyển gấp về Bộ Quốc Phòng. Về đến nơi tôi được đưa về Nha Tác Động Tinh Thần sau đổi thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị nằm ngay trên đường Norodom. Tổng cục Trưởng Trần Văn Trung đưa tôi về thẳng Phòng Báo Chí.

(Còn tiếp)

Tin tức khác...