Hoa rơi nước mắt

Hoan im lặng nhìn sóng biển xô bờ, lòng đau đớn nghĩ đến những bất hạnh trời đất đổ xuống trên Hằng, trên Hoan, và trên mọi người. Không có Pháp, không có Hồ Chí Minh, không có Việt Minh, không có cộng sản, không có cuộc chiến tranh quái ác, mọi người Việt chắc chắn được yên vui sau lũy tre làng trong cảnh đất nước thanh bình với nụ cười nở trên môi, trẻ em ca vang câu đồng dao, trai gái liếc mắt đưa tình đưa đẩy câu hò trao duyên. Hồi lâu, ba Hằng chậm rãi nói tiếp:
“Ba mạ con chỉ một mình con, Ba nghĩ con nên lập gia đình cho ba mạ con có cháu vui cửa vui nhà.”
Hoan lắc đầu:
“Nhưng con quên em con sao được?”
Ba Hằng nhìn Hoan trìu mến:
“Ba cũng biết con khó quên em con, nhưng cuộc diện thế này ai làm gì được. Chẳng lẽ con ở vậy suốt đời?”
Hoan khẳng khái:
“Con ở vậy suốt đời chờ em con. Con không muốn có lỗi với em con.”
Ba Hằng và ba Hoan nhìn nhau, chẳng biết phải nói thế nào để thuyết phục được Hoan. Để bớt căng thẳng, cậu Hoan hỏi một câu chẳng ăn nhập đâu vào đâu:
“Tại sao Ông Diệm không chiêu dụ Bảy Viễn về cộng tác?”
Hiểu ý cậu, ba Hoan trả lời:
“Có, Cậu. Ngay sau khi chính thức nhận chức, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã kêu gọi Bảy Viễn đưa quân sát nhập vào Quân đội Quốc gia nhưng Bảy Viễn từ chối.”
“Tại sao?”
“Dễ hiểu thôi. Bảy Viễn biết về với cụ Ngô là mất hết uy phong của một sứ quân hùng cứ vùng Sài Gòn Chợ Lớn. Vốn là một tên du đảng được đàn em kính nể, Bảy Viễn chắc chắn không muốn sống cảnh hàng thần lơ láo của Từ Hải trong truyện Kiều.”
chống lại. Mặt trận Thống nhất gửi tối hậu thư buộc ông Diệm phải giải tán nội các và lập nội các mới trước ngày 26 tháng ba, 1955, với thành phần nội các do mặt trận của họ chỉ định. Cậu Hoan hỏi:
“Cụ Diệm chấp thuận?”
Ba Hằng trả lời:
“Không, chẳng ai có thể chấp nhận một thách thức tồi tệ và vô lễ như vậy.”
Cậu Hoan hỏi tiếp:
“Tại sao Bảy Viễn chẳng những không chịu cộng tác mà còn đòi chia ghế?”
Ba Hoan trả lời:
“Lý do sẽ nhìn thấy được khi phân tích hai thời kỳ với hai tổ chức.”
Hoan hỏi:
“Hai thời kỳ nào và hai tổ chức gì vậy Ba?”
“Thời kỳ 1945 và sau đó với Hồ Chí Minh, và thời kỳ 1955 và sau đó với Bảy Viễn.”
Hoan suy nghĩ rất nhanh:
“Con nghĩ Hồ Chí Minh và Bảy Viễn khác xa nhau mọi phương diện, không thể để ngang hàng so sánh với nhau.”
“Dĩ nhiên, con hoàn toàn đúng, và Ba cũng không có ý định đặt hai người đó ngang nhau để so sánh.”
“Vậy thì ý Ba là thế nào?”
“Hai người đó khác nhau về tuổi tác, học vấn, về lý tưởng, và cách thức hành động nhưng có một điểm giống nhau.”
Ba Hằng nóng lòng hỏi ngay:
“Điểm gì giống nhau?”
“Đó là, cả hai đặt quyền lợi cá nhân và phe nhóm lên trên quyền lợi đất nước.”
Hoan nói:
“Con chưa hiểu.”
Ba Hoan nhìn mọi người rồi nói:
“Thời 1945, sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại, trao traả cho Bảo Đại gần hết quyền hành ngoại trừ quyền ngoại giao, quốc phòng, và kinh tế. Ba quyền này Pháp giữ lại vì họ còn muốn kiềm chế nước ta. Hơn nữa, giả như họ trao trả, Bảo Đại cũng chưa đủ thực lực để đảm đương. Ngoại giao, Bảo Đại chưa tạo được uy tín quốc tế. Quốc phòng, Bảo Đại chưa có một lực lượng quân sự tiên tiến nào. Kinh tế, Bảo Đại không có đủ tài sản quốc gia để làm nền tảng. Nên nhớ nền tài chánh thế giới dựa trên số lượng vàng tồn kho gọi là kim bản vị.”
“Con vẫn chưa hiểu rõ.”
“Về uy tín quốc tế, thế giới không biết Bảo Đại là ai mà chỉ biết nước Pháp vì đã từ lâu vua nước Việt chỉ là một thứ bù nhìn của Pháp. Về quân sự thì quá rõ rồi, cái gọi là Quân đội Quốc gia chỉ là một tốp lính Khố Xanh Khố Đỏ lỗi thời để trang trí cho vua quan hống hách dọa nạt dân quê. Người Pháp quả thực có đào tạo một lớp sĩ quan và binh lính nhưng không phải để bảo vệ đất nước và dân tộc Việt Nam mà để bảo vệ quyền lợi thực dân của họ. Về kinh tế, đồng tiền được chính quyền Bảo Đại in ra chỉ dựa vào đồng franc của Pháp, không có mãi lực như các đồng tiền khác trên thế giới dựa vào kim bản vị.”
Cậu Hoan hỏi:
“Kim bản vị là gì?”
“Là nền tài chánh căn cứ trên số lượng vàng tích trử trong kho để in thành tiền giấy hoặc tiền kim loại. Đồng Mỹ kim chẳng hạn, thời trước ngân hàng Mỹ bảo đảm sẽ trao đổi một số lượng vàng thực tương đương giá trị của đồng tiền giấy nếu có người nào muốn trao đổi như vậy.”
“Bây giờ còn vậy không anh?”
“Trên nguyên tắc vẫn còn vậy nhưng chẳng ai đưa ra đổi, mặt khác ngày nay giá trị đồng tiền không hoàn toàn dựa trên vàng nữa mà còn dựa trên nhiều yếu tố khác mà ngoại tệ là một.”
Hoan nói:
“Con đã hiểu phần nào ý Ba muốn nói. Rồi sao nữa Ba?”
“Chỉ với các quyền được Pháp giao lại, Bảo Đại đã có thể đủ dùng làm bàn đạp để xây dựng đất nước nếu ông ấy là một ông vua biết lo cho đất nước. Một khi vững mạnh hơn, việc đòi ba quyền còn lại không phải là chuyện không thể thực hiện được. Các nước được trao trả độc lập như Ấn độ, Ma rốc cũng đi từ từ từng bước và rồi cũng đến đích.”
Ba Hằng nói:
“Nhưng chuyện đó liên quan gì đến Hồ Chí Minh và Bảy Viễn.”
Ba Hoan đáp lại:
“Liên quan ở chỗ Hồ Chí Minh nhất định chống lại Bảo Đại không nhận lời mời cộng tác. Sở dĩ vậy là vì mục đích của họ Hồ không thực sự vì nước vì dân mà chỉ vì khao khát quyền cai trị đất nước và nới rộng quyền lực của Đảng Cộng sản Quốc tế. Nếu ông ta chịu cộng tác, đất nước đã sớm được thoát khỏi tay người Pháp, dân Việt tránh được một cuộc chiến dai dẵng gây bao nhiêu chết chóc tang thương. Giờ đây chính họ Hồ đặt bút ký kết vào Hiệp định Genève chia đôi đất nước nhưng chắc chắn tham vọng của lão không ngừng lại mà còn kéo dài cuộc chiến cho đến ngày nào lão chiếm được phần đất còn lại.”
Cậu Hoan gật đầu:
.”
Ba Hằng nhắc lại câu hỏi:
“Nhưng chuyện đó liên quan thế nào đến Bảy Viễn?”
“Bảy Viễn đại loại cũng Hồ Chí Minh, không chịu cộng tác với Ngô Đình Diệm chỉ vì sợ mất quyền lợi riêng tư nhưng tội Bảy Viễn nhẹ hơn vì không gây cuộc chiến kéo dài lan rộng cả nước.”
Hoan nói ngay:
“Con hiểu rồi, cả Hồ Chí Minh cả Bảy Viễn đều chỉ đặt quyền lợi đảng phái, phe nhóm, và cá nhân lên trên quyền lợi đất nước và dân tộc.”
Đúng lúc đó, ba người đàn bà quay về. Mẹ Hằng cười tươi:
“Các ông biết không? Tụi này mua được mấy con cá thu ngon lắm, tươi rói.”
Ba Hoan nói:
“Về nấu liền đi, để mai mất ngon.”
Mọi người đứng lên thu dọn quay về. Bãi biển vắng dần. Lác đác nấp sau gốc dương liễu, một vài đôi trai gái ngồi ôm sát nhau như cố kéo dài giây phút yêu đương. Đường Duy Tân im vắng dưới ánh đèn đường vàng vọt, thỉnh thoảng một chiếc Jeep nhà binh hối hả chạy qua như cố trở về đơn vị cho kịp một điều gì quan trọng. Trên đường về, mợ Hoan nói:
“Em thiệt hết biết cái xứ Nha Trang ni.”
Mẹ Hằng nói:
“Chuyện chi rứa Mợ?”
“Xứ chi mà giàu. Em nghe nói trước 1954, trừ cá thu, mọi thứ cá người ta cắt đầu bỏ tại chợ ai muốn cứ lượm.”
Mẹ Hoan nói:
“Đúng đó chị. Từ sau năm 1954 chợ mới bán cá nguyên đầu.”
Mợ Hoan nói thêm:
“Em nghe kể chuyện một bà người Bắc di cư hàng ngày ra chợ gom lá bắp cải bị thải ra vì sâu úa một phần về cắt bỏ chỗ hư, muối chỗ tốt rồi bán dưa bắp cải muối. Chỉ vậy bà kiếm đủ tiền chu cấp con cái học hành đỗ đạt.”
Mẹ Hằng nói:
“Bà ấy chỉ lời không bao giờ lỗ.”
Mẹ Hoan nói:
“Chuyện chịu thương chịu khó buôn bán, chị em mình không bằng các bà người Bắc.”
Mợ Hoan chen vào hỏi:
là ý nói gì hai chị?”
Mẹ Hoan cười:
“Là người ta ghẹo những người nghèo nhưng cố giữ sĩ diện, bữa ăn không có cá đành đẽo một miếng gỗ thành hình lát cá cho vào đĩa nước mắm để lừa người tọc mạch nhìn vào.”
Mợ Hoan phì cười:
“Em nhớ hồi đi học có bài học thuộc lòng hình như của Thạch Lam nói một gia đình không đủ cơm ăn nhưng ngày nào cũng đưa cả rỗ chén bát ra cầu ao rửa.”
Mẹ Hoan nói:
“Phải công nhận người Bắc giỏi trong việc ổn định cuộc sống. Chỉ mấy năm sau ngày di cư vào Nam, nhiều người từ hai bàn tay trắng đã tạo nên sự nghiệp, chẳng như người Trung mình đến nay vẫn còn lận đận.”


Đang đi cùng nhóm đàn ông phía trước, nghe các bà trò chuyện, ba Hoan góp lời:
“Đúng vậy, và đó cũng là một thành tích ghi vào công trạng của Thủ tướng Diệm. Chỉ trong vòng một hai năm, người Bắc di cư vào đã có cuộc sống ổn định, nhiều người có của ăn của để.”
Cậu Hoan nói:
“Đúng là họ giỏi làm ăn hơn người Trung mình. Người làng mình lên La Vang hay An Đôn, vô Lăng Cô, hoặc thậm chí lên cả Phước Long nhưng chẳng mấy người ổn định được cuộc sống.”
Ba Hoan nói:
“Đúng như Cậu nhận xét, người mình còn quá quyến luyến quê cha đất tổ trong khi người Bắc nhìn thấy đất đai màu mỡ của Đắc Lắc Lâm Đồng Cái Sắn nên sẵn sàng đi xa làm ăn.”
Nhắc đến quê hương, mọi người chợt chạnh lòng im lặng. Ba Hằng đột nhiên ngâm nga nho nhỏ:
Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh,
Có sông sâu lơ lững vờn quanh,
Êm xuôi về Nam.
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau,
Bóng tre ru bên mấy hàng cau,
Đồng quê mơ màng.
Nhưng than ôi,
Có một chiều thu lá thu rơi,
Có một chiều thu lá thu rơi,
Ôm súng chiều quê
Tôi thầm mơ bóng ngày về.
:
Nửa đêm mừng Chúa ra đời,
Bức khăn sạch vấn giữa nơi hang lừa.
Hoan cười nói:
“Trời đất, đến lúc ni Ba hát vẫn còn hay.”
Ba Hằng cười theo, khiêm nhượng nói:
“Ba già rồi, hay ho chi nữa, hát cho vui thôi.”
Hoan cười:
“Ba mà già chi mô, phải không Mạ?”
Mẹ Hằng cười theo:
“Đúng đó con, ông còn đòi vợ nhỏ nữa đó.”
Ba Hoan bảo ba Hằng:
“Sao mà nhớ quá thời thơ trẻ, nhiều kỷ niệm đến thế.”
Nhắc tới thời thơ trẻ, Hoan lại nhớ Hằng da diết.
* * *
Mặt trời bắt đầu nghiêng bóng. Nóng càng lúc càng gay gắt. Áo đẫm mồ hôi, Hằng vừa mệt, vừa đói, và nhất là vừa khát. Không như thời còn trong chiến khu lội bộ bao nhiêu ngày trong rừng lúc nào cũng có bóng cây dâm mát, Hằng cảm thấy bao nhiêu sức lực tháo ra vì lội bộ trên đường lồi lỏm bụi bặm chẳng một bóng cây. Sau đêm được chủ căn nhà ven đường cho ăn uống nghỉ ngơi, Hằng bươn bả lên đường ngay hôm sau khi trời chưa hừng sáng cho dẫu chị chủ nhà luôn miệng bảo Hằng:
“O nôn nóng làm chi, cứ ở đây cho đến khi nhà tui kiếm được xe cho o đi.”
.
“Ba cây số, một giờ đi bộ.”
Phe phẩy chiếc nón chủ nhà trọ biếu tối qua, Hằng lo lắng:
“Tới Đông Hà, không biết có kiếm được xe đi Quảng Trị không?”
, Hằng yên tâm bước lên xe vì biết đây là xe chuyên chở hàng hóa từ Huế đi Thanh Hóa và ngược lại. Tìm một chỗ đủ đặt hai chân, Hằng nhìn quanh chờ dịp hỏi thăm cho biết xe đi đâu. Một người đàn bà đang nhai trầu bỏm bẽm vội nhả bã trầu, hỏi Hằng:
“O ni ở chỗ mô mà mới lên xe rứa?”
Suy nghĩ rất nhanh, chẳng biết phải trả lời thế nào cho hợp lý, Hằng hỏi ngược lại:
?”
là bà. Người đàn bà trả lời:
từ Quảng Bình vô.”
là chúng tôi. Hằng nói ngay:
, khi trở ra xe chạy mất.”
là đi vệ sinh. Người đàn bà nhìn Hằng ái ngại:
“Răng O không la lên?”
Có người trả lời thay Hằng:
“Xe chạy mất rồi ai nghe mà la.”
Người đàn bà hỏi tiếp:
“Rứa người nhà O mô?”
con đi trên chuyến nớ.”
là cha mẹ. Ngưới đàn bà chắt lưỡi:
“Tội nghiệp chưa, may mà xe ni ngừng lấy nước chơ không thì làm răng.”
Hằng tự ngạc nhiên chẳng hiểu do đâu xui khiến mà bịa được lý do trơn tru như vậy. Trên đoạn đường sắp tới, nếu bị xét giấy tờ, Hằng có lý do nói đã bỏ lại hết trên xe kia. Hằng nhẫm một lý lịch khác che giấu lịch cũ phòng có người tình cờ nhận biết Hằng đã từng là cán bộ Việt Minh. Suy đi nghĩ lại, chẳng biết giải quyết thế nào khi khai từ Vinh vào mà chẳng biết gì về địa lý ngoài đó, Hằng đánh liều tự nhủ:
“Để tới lúc rồi tính.”
Hằng hỏi người đàn bà đã bắt chuyện Hằng:
“Xe ni chạy tới mô thì ngừng rứa Mụ?”
“Tới Quảng Trị chơ tới mô nữa.”
Người đàn bà hỏi Hằng:
“Rứa chơ O tính đi mô?”
“Con cũng vô Quảng Trị, vô tìm bọ mạ con.”
“Lỡ tìm không ra thì răng?”
Hằng nói chắc nịch:
“Răng mà không ra được, con chắc cũng ở Quảng Trị thôi.”
“Biết mô đó, lỡ xe chạy tuốt vô Huế hay chỗ mô khác thì răng?”
Hằng làm bộ thút thít:
“Có rứa chắc con chết.”
“Bộ không còn ai bà con trong nớ răng?”
“Có, cậu con đi lính ở Quảng Trị.”
Người đàn bà nhìn Hằng, mắt sáng lên như mừng vui cho Hằng:
“Cậu o đi lính ở đồn mô?”
“Dạ, con không biết, chỉ có địa chỉ theo thư cậu gửi về, vô đó con phải đi tìm.”
“Rứa O gặp cậu bao chừ chưa?”
“Dạ chưa, nhỏ lớn con ở làng, cậu con đi lính lúc con mới một hai tuổi. Bọ Mạ con viết tên cậu và địa chỉ phòng hờ lạc nhau thì biết chỗ mô mà tìm tới.”
Người đàn bà cười hiền lành, phô hai hàng răng đen hạt huyền, suy nghĩ rồi gật đầu nói tiếp:
“Chừ ri nì, O cứ theo tui, con gái con lứa đi một mình không tiện. Tới chỗ tạm trú rồi tìm bọ mạ hay cậu O sau.”
Hằng mừng rỡ:
“Rứa thì con cám ơn Mụ.”
Người đàn bà nhìn Hằng:
“Chơ bọ mạ O già trẻ ra răng?”
“Dạ, bọ con bốn tám, mạ con bốn lăm.”
“Rứa thì lớn hơn tui, kêu tui bằng dì cho thân mật. Dì tên Toán, Lê Thị Toán.”
“Dạ, con cám ơn Dì Toán.”
“Thằng con Dì có vợ rồi, nếu chưa Dì hỏi con cho hắn.”
Hằng bẻn lẽn nói:
“Dì nói kỳ quá.”
Người đàn bà cười:
gái mà hiền lành.”
gái tức xinh gái, đẹp gái. Bà quay qua đùa với người cùng chuyến:
tui đây nì.”
là con dâu. Hằng thầm thì tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đã cho gặp may mắn. Vào trại, Hằng khai tên Nguyễn Thị Loan, làng Dương Xá, huyện Lệ Thủy y theo lời khai của bà dì hờ. Để che mắt, Hằng ghi sổ tìm cha mẹ với hai tên do Hằng bịa đặt ra. Một cuộc sống mới mở ra cho Hằng, cho dẫu là một cuộc sống chưa biết tương lai rồi sáng tối sẽ ra sao.
Chương 13
Tình thiên thu
Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thu.
của Félix Arvers)
Nhấc nồi cháo cá thu nóng hổi ra khỏi bếp, mợ Hoan múc ra tô, rắc lên ít hành ngò rồi đặt lên hai mâm bày sẵn. Mẹ Hoan đặt tiếp lên mâm mấy đĩa nước mắm không pha điểm xuyết mấy lát ớt đỏ rồi cùng mẹ Hằng mỗi người bê một mâm đặt lên bàn ăn. Cả nhà xúm lại, đàn ông đầu bàn ngoài, đàn bà đầu bàn trong, tíu tít mời nhau ăn. Ba Hoan nói:
“Ăn cháo cá mà uống bia mau đầy bụng lắm.”
Cậu Hoan nói ngay:
“Anh có thứ chi không đầy bụng thì đem ra đi.”
Hoan cười:
“Cậu khỏi lo, ba con không thiếu mô.”
Ba Hoan cười:
“Tui đem ra nhưng không phải của tui.”
Cậu Hoan hỏi:
“Không của anh thì của ai?”
Ba Hoan chỉ tay vào ba Hằng:
“Của ông ni nì.”
Ba Hằng cười:
“Thì góp phần một chút để khao thằng Hoan lên lon.”
Mẹ Hằng cười:
“Anh ni, con người ta đại úy rồi mà anh còn thằng này thằng nọ.”
Ba Hoan cười lớn:
với ba mạ hắn?”
Cậu Hoan xua tay:
“Anh đem ra mau đi, hy vọng không phải rượu đế.”
Ba Hoan mở tủ, cầm chai rượu đưa lên cao:
đàng hoàng.”
Cậu Hoan lắc đầu:
“Là thứ chi, ngon hay dở?”
Ba Hằng nói:
“Thứ ni dưới với không lên, trên không thèm nhìn xuống.”
Ba Hoan cười ha hả:
thì còn đòi chi nữa?”
Ba Hoan vừa rót rượu vừa quay lại hỏi các bà:
“Có bà nào nhấp chút không?”
Mẹ Hoan nói:
“Mình cho em nửa ly.”
Ba Hoan hỏi mẹ Hằng:
“Chị Hằng?”
Mẹ Hằng cười:
“Cho em một chút, để mừng Hoan lên lon.”
“Còn Mợ?”
Mợ Hoan lắc đầu:
“Em không biết uống rượu.”
Cậu Hoan xúi:
“Em nhấm một chút cho vui, say anh chịu cho.”
Mợ Hoan nhìn chồng, đỏ hồng đôi má:
“Em say, anh chịu chi?”
Cậu Hoan bầy nhây:
“Em say đi rồi biết.”
Mẹ Hoan cười:
“Cậu cứ chọc mợ. Thôi, mời cả nhà dùng, cháo nguội cả rồi.”
Mọi người xì xoạt húp cháo. Cháo ngọt lịm. Cá tươi. Chấm cá vào chút nước mắm ớt rồi cho vào miệng, cá như tan ra trên đầu lưỡi. Cắn thêm tí ớt thật cay để xuýt xoa. Nhấp thêm ngụm rượu để khà một tiếng. Bữa cháo khuya ngon không chỉ do cá tươi nấu khéo mà còn do tình gia đình quyến thuộc chan hòa. Mẹ Hằng hỏi cậu mợ Hoan:
“Cậu mợ sao mấy năm rồi mà chưa có chi cả?”
Mợ Hoan buồn buồn nói:
“Em cũng chẳng biết nữa chị, đâu phải tụi em không muốn.”
“Cậu Mợ đi khám bác sĩ chưa? Bác sĩ nói sao?”
“Dạ, bác sĩ cho thuốc uống, nói không có chi đáng lo, chẳng hiểu sao vẫn chưa thấy động tĩnh.”
Hoan nói tỉnh queo:
bác sĩ thì răng biết có bệnh hay không.”
Cả nhà không hiểu ý Hoan trong khi ba Hằng bật cười lớn:
“Hay, thằng ni hay.”
Mẹ Hằng hỏi chồng:
“Em không hiểu, cái chi hay?”
Ba Hằng cười ha hả:
bác sĩ mô phải bác sĩ khám mợ nớ mà biết bệnh chi.”
Cả nhà cười vang. Ba Hoan trêu cậu mợ Hoan:
“Thôi, tôi biết rồi, tại ông bà không biết làm ăn.”
Cả nhà lại cười. Ngưng cười, mẹ Hoan nhìn Hoan với một cái nhìn dò hỏi đầy ý nghĩa. Hiểu ý, Hoan khỏa lấp bằng cách gắp một miếng cá cho vào miệng, hợp một hớp rượu:
“Rượu ngon thật, cám ơn Ba Mạ Cậu Mợ.”
Ba Hằng cười:
“Cám ơn một ba một mạ thôi răng?”
Hoan cười theo:
“Dạ, cám ơn hai ba hai mạ.”
Ba Hằng nhấp rượu nối lại câu chuyện dở dang trên bãi biển:
“Bộ Bình Xuyên chỉ đánh một trận là tan vỡ răng con?”
Hoan cười:
“Đâu dễ vậy Ba.”
Cậu Hoan nói:
“Vậy bao lâu mới thắng?”
“Dạ, Thủ tướng Diệm ra lệnh tấn công Bình Xuyên ngày 28 tháng tư, 1955, mãi đến tháng mười một mới xong, mất gần bảy tháng.”
“Lâu vậy sao?”
Ba Hoan nói:
“Tại cậu không biết lực lượng Bình Xuyên mạnh lắm, lại còn được sự yểm trợ của các giáo phái, của Pháp, của Bảo Đại, và của cả Việt Minh, thêm sự cố vấn của một số nhà chính trị danh tiếng.”
Cậu Hoan quay qua hỏi ba Hoan:
“Em nghe nói Bình Xuyên là một đảng cướp, sao được Bảo Đại ủng hộ Bảy Viễn trong khi chính ông ấy đưa ông Diệm về làm thủ tướng?”
“Vấn đề ở chỗ đó. Bảo Đại đưa ông Diệm về, nhưng Bảo Đại lại nhận tiền của Bảy Viễn từ hai sòng bạc Kim Chung, Đại Thế giới, và ổ điếm Bình Khang nên không thể loại bỏ Bảy Viễn nếu còn muốn được tiền.”
Cả nhà lâu nay thường nghe đến mấy tên gọi đó nhưng không biết rành rẽ nên Hoan phải giải thích như đã giải thích một lần tại câu lạc bộ đơn vị cho viên trung sĩ và cô gái. Ba Hoan nói thêm:
, gửi tối hậu thư buộc ông Diệm trước ngày 26 tháng ba, 1955 phải giải tán chính phủ để thành lập chính phủ mới với thành phần do Mặt trận của họ chọn lựa.”
Cậu Hoan hỏi:
“Bộ ông Diệm nghe theo?”
Ba Hoan cười:
“Ông Diệm nghe theo thì làm gì có chuyện Hoan đi đánh Bình Xuyên.”
Cậu Hoan cười khỏa lấp:
“Rồi chuyện gì xẩy ra?”
Hoan nói:
“Ngày 26 tháng tư, 1955, một tháng sau thời hạn Mặt trận Thống nhất đề ra, Thủ tướng Diệm bổ nhiệm Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay thế Lại Văn Sang, người của Bình Xuyên mà Bảo Đại đặt vào chức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia nhằm cho Bảy Viễn toàn quyền thao túng đĩ điếm và sòng bài.”
Ba Hằng thắc mắc:
“Bình Xuyên để yên cho Ngô Đình Diệm sao?”
Hoan trả lời:
“Không đâu Ba, Bảy Viễn lập tức liên lạc xin Bảo Đại can thiệp.”
“Bảo Đại giải quyết thế nào?”
“Bảo Đại gửi điện yêu cầu Thủ tướng Diệm qua Paris hội kiến nhằm mục đích giữ Diệm lại không cho về nước để giao chức thủ tướng cho người khác.”
“Cụ Diệm đi không?”
Ba Hoan nói:
“Dĩ nhiên không đi nên Bảo Đại tìm mọi cách cản trở và đó cũng là ngòi nổ sinh ra chuyện lật đổ Bảo Đại, bỏ chế độ quân chủ lập hiến, lập chế độ cộng hòa.”
Cậu Hoan hỏi:
“Thời gian đó Hồ Chí Minh làm gì?”
“Mấy tháng trước, khai thác sự nứt rạn giữa Bảy Viễn và Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh phái cán bộ Việt Minh Bảy Khánh và Chín Đạo liên lạc với Bảy Môn, Mười Lực, và Năm Chàng, ba nhân vật có thế lực của Bảy Viễn, cho biết Việt Minh ủng hộ Bình Xuyên chống Thủ tướng Diệm.”
Cậu Hoan hỏi:
“Rồi chuyện gì xẩy ra?”
“Dạ, rồi theo Việt Minh giật giây, Bình Xuyên bắt đầu tấn công phe Quốc gia.”
. Sau năm 1954, Chính phủ Ngô Đình Diệm đặt tên là Thành Cộng Hòa, có lẽ vì một cạnh nằm trên đường Cộng Hòa và vì cộng hòa là mục tiêu chính phủ muốn cho đất nước đạt đến. Cậu Hoan gật gù khen:
“Hoan lúc này giỏi quá, học trường Tây mà rành lịch sử Việt Nam hơn cả Cậu.”
Hoan nhún nhường:
“Dạ, con giỏi gì đâu, chỉ tại con cái gì cũng muốn tò mò tìm cho biết.”
“Tại sao Bình Xuyên không đánh nơi khác mà đánh thành đó?”
“Vì Thủ tướng đã điều động nhiều đơn vị về đồn trú trong thành sẵn sàng đối phó với Bình Xuyên.”
Hoan vắn tắt thuật lại cuộc chiến ở Sài Gòn và chiến dịch kết thúc ở rừng Sác mà Hoan đã tham dự đánh bại lực lượng Bảy Viễn. Cậu Hoan hỏi:
“Bình Xuyên bị đánh bại, thế Bảy Viễn thế nào?”
Hoan trả lời:
cứu, đưa về Bà Rịa rồi sau đó đưa qua Pháp.”
“Savani là ai?”
“Savani là thiếu tá Trưởng Phòng Nhì tức phòng tình báo của Pháp tại Việt Nam.”
“Chà, mấy thằng Tây quậy thiệt.”
“Pháp không chỉ quậy một lần nầy thôi đâu Cậu, ví như Bảy Môn bị thương, lực lượng Quốc gia tìm bắt hắn không được vì Tây bí mật đưa hắn vào Nhà Thương Grall chữa chạy rồi đưa trả lại cho Bảy Viễn.”
Ba Hằng hỏi:
“Thế mấy người cố vấn cho Bảy Viễn như Hồ Hữu Tường, Trần Văn Ân, và Trịnh Khánh Vàng thì sao?”
“Tất cả đều bị bắt và bị đày đi Côn Đảo.”
“Như vậy thì việc Hồ Hữu Tường bị đày đâu oan ức chi?”
Ba Hoan nói:
“Oan ức là thế nào? Hồ Hữu Tường cũng là cộng sản, chỉ khác hệ phái tam tứ quốc tế chi đó, mà đã là cộng sản thì chống Ngô Đình Diệm.”
Mọi người im lặng uống rượu như chừng đang suy nghĩ về chuyện Hoan vừa lược thuật. Lát sau, ba Hằng hỏi Hoan:
“Con nhận xét thế nào về Hồ Chí Minh và Bảy Viễn?”
“Con đồng ý với nhận xét của ba con hồi tối. Không chỉ Hồ Chí Minh và Bảy Viễn mà các đảng phái giáo phái nhân sĩ tuy khác nhau nhiều điểm nhưng giống nhau ở điểm nuôi tham vọng cá nhân và phe nhóm.”
“Là sao?”
“Tất cả đều không muốn chịu sự lãnh đạo của ai khác không phải là chính họ và phe phái họ, chẳng phục tài năng của bất cứ người nào ngoài người do họ đưa ra. Đảng phái nào chính trị gia nào cũng tự cho là tài nhất, là giỏi nhất, là con đường duy nhất để cứu vãn đất nước.”
“Cụ thể?”
y như ngoài Đảng Cộng sản chẳng đảng phái nào được quyền yêu nước, ngoài Hồ Chí Minh chẳng người nào khác có khả năng điều hành đất nước.”
Ba Hoan góp ý:
“Cũng vì thế, Hồ Chí Minh không ngần ngại cộng tác với Bảy Viễn, một tổ chức mà ngay cả người dân không kiến thức cũng biết là một tổ chức ăn cướp, một tổ chức tội phạm, cờ bạc, gái điếm công khai chẳng chút đạo đức.”
Ba Hằng nói:
, mọi việc làm dẫu tàn ác tội lỗi đến mức nào vẫn có thể cho là đúng nếu đi đến kết quả chính trị mong muốn.”
Cậu Hoan nói:
“Chỉ chừng đó đủ để so sánh hơn thua giữa Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh, một người đạo đức quân tử và một kẻ tàn ác tham quyền.”
Mọi người im lặng. Ba Hằng nhấp một ngụm rượu rồi đặt li xuống bàn, xoay xoay cái li, như chừng đang có điều gì trong tâm trí chưa thể nói ra. Đêm đã khuya. Chung quanh xóm giềng đã ngủ say, lấp ló vài ngọn đèn đêm leo lét lọt qua khe cửa. Mẹ Hoan nói:
“Khuya rồi, các ông ngồi đó nói chuyện mãi, không cho chị em tui dọn răng?”
Hoan nói:
“Cả nhà đi nghỉ, để đó con dọn hết cho.”
Mợ Hoan nói:
“Hoan biết chi mà dọn.”
“Mợ khinh thường con. Nhà binh mà có mấy cái chén cái bát không dọn được thì làm chi mà ăn?”
Mẹ Hoan nói:
“Vậy chị em tui đi nghỉ. Các ông cũng đi nghỉ, có gì mai nói tiếp.”
Ba Hoan rót tiếp rượu ra ly mọi người, bảo vợ:
“Các bà đi nghỉ đi, chén bát để cha con tui lo.”
Mẹ Hoan đưa tay dí dí, giả bộ hăm chồng:
“Nói dọn thì dọn nghe chưa, mai còn trên bàn thì biết tay tui.”
Các bà khuất vào nhà trong, Hoan nói:
“Hai ba và cậu định đi nghỉ hay tiếp tục?”
Cậu Hoan nói:
“Tùy con, con muốn sao?”
Hoan cười to:
“Con nhà binh, thức giờ ngủ và ngủ giờ thức là chuyện thường ngày.”
Hoan nhấp một chút rượu, khà một tiếng:
“Rượu ngon, nhất là do Ba mua cho con.”
Ba Hằng cười:
“Vậy nếu con bỏ tiền ra mua thì rượu không ngon sao?”
“Dạ, cũng ngon, nhưng xót và cay.”
Cậu Hoan không hiểu kịp, hỏi:
“Rượu thì cay, còn xót là thế nào?”
Ba người còn lại òa lên cười. Hoan nói:
“Xót là xót tiền đó cậu.”
Cậu Hoan xẻn lẽn:
“Cái thằng!”
Các bà vào trong rồi, ba Hằng nhắc Hoan:
“Nào, cậu cả còn chuyện gì nữa nói đi.”
Hoan cười:
“Hai Ba và Cậu muốn nghe thì con còn chuyện.”
Cậu Hoan cười theo:
“Cậu muốn nghe, con nói tiếp đi.”
“Dạ, thì đây. Sau cái gọi là Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh lên cầm quyền, Bảo Đại thoái vị. Trong chiếu thoái vị, Bảo Đại tuyên bố đại ý thà rằng làm dân nước Việt tự do hơn làm vua nước bị mất chủ quyền. Sau đó, công dân Vĩnh Thụy tức Bảo Đại nhận lời Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội làm cố vấn.”
“Vấn đề ở chỗ nào?”
.”
“Ý con là sao?”
“Là, tại sao Bảo Đại cộng tác với Hồ Chí Minh khi Hồ nắm quyền cai trị đất nước trong khi Hồ lại không cộng tác với Bảo Đại khi Bảo Đại nắm quyền?”
“Theo con thì tại sao?”
“Điều này con đã nói lúc nãy. Tại Hồ Chí Minh không thực sự lo cho dân cho nước bằng lo cho chính bản thân và cho Đảng Cộng sản của ông ta.”
Ba Hằng ngẫm nghĩ rồi nói:
“Biết đâu Bảo Đại nhận lời không phải vì thật lòng mà chỉ vì sợ Hồ Chí Minh bỏ tù hoặc giết chết.”
Hoan lắc đầu:
“Con không nghĩ vậy. Bảo Đại nhận lời cố vấn cho Hồ Chí Minh chắc chắn không phải vì không còn con đường nào khác mà theo con chỉ vì muốn cho thấy dù sao ông ấy cũng là người yêu dân yêu nước.”
“Sao con nghĩ vậy?”
“Bảo Đại có thể từ chối mà không sợ họ Hồ làm hại vì dẫu sao họ Hồ cũng còn ngại tai tiếng đối với thế giới chưa nói chuyện Bảo Đại vẫn có thể nhờ Pháp hay Nhật đưa ngay lập tức ra nước ngoài.”
Ngừng một lát, Hoan nói tiếp:
“Lúc ban đầu, ngoại trừ Ngô Đình Diệm, không chỉ Bảo Đại mà còn nhiều nhân vật uy tín khác như Huỳnh Thúc Kháng, Nhất Linh, Đức Cha Lê Hữu Từ ủng hộ Hồ Chí Minh vì cho rằng họ Hồ quả thực vì dân vì nước. Nhưng dối trá không che đậy được sự thực. Không lâu sau đó, các danh sĩ đó dần dần rút lui, thậm chí còn chống đối, khi bộ mặt thật của họ Hồ lộ rõ không phải vì dân vì nước mà chỉ vì lợi ích của Đảng Cộng sản và của cá nhân. Tệ hại hơn nữa, chính Hồ tìm mọi cách thủ tiêu người thuộc đảng phái khác nếu chống lại cơ mưu của lão.”
Cậu Hoan hỏi:
“Tại sao Ngô Đình Diệm không giúp Hồ Chí Minh?”
Ba Hằng nói:
“Tôi cho rằng tại cụ Ngô đã nhận biết Việt Minh là cộng sản và Hồ Chí Minh không thực lòng vì dân vì nước.”
Hoan lắc đầu:
“Con nghĩ không đơn thuần chỉ có thế mà còn hơn thế.”
Cậu Hoan nói:
“Hơn thế là thế nào?”
“Cụ Ngô không thể nào cộng tác với Hồ Chí Minh vì họ Hồ đã hạ sát cha và anh của cụ, chẳng như Phạm Tuyên là con của học giả Phạm Quỳnh lại đi bộ đội rồi viết ca khúc ca tụng họ Hồ, kẻ đã giết cha mình.”
Sau một lát im lặng, cậu Hoan hỏi tiếp:
“Nhưng nếu chỉ như thế thì cụ Ngô không cộng tác chỉ vì tư thù, không phải vì biết họ Hồ không thực lòng vì dân vì nước.”
Hoan nhấp một tí rượu rồi nói tiếp, giọng say sưa:
“Đúng như Cậu nói, chưa chứng minh được. Bản chất mưu cầu lợi ích riêng tư của họ Hồ lộ ra rõ ràng trong việc họ Hồ cương quyết không chấp nhận cộng tác với bất cứ ai cầm quyền trị nước ngoại trừ chính ông ta.”
“Nhưng như thế thì trách ông Hồ ở chỗ nào?”
Hoan thở dài:
“Giả như họ Hồ kéo hết lực lượng của ông ta về ủng hộ Bảo Đại, góp tay xây dựng đất nước, có phải lực lượng quốc gia đã vô cùng vững mạnh và Pháp chẳng còn lý do gì để tiếp tục nắm giữ các quyền còn lại. Thêm vào đó, chúng ta tránh được một cuộc chiến tranh dai dẳng vừa tốn biết bao xương máu của cả đôi bên vừa làm cho đất nước thụt lùi hàng thế kỷ so với các nước cùng cảnh ngộ.”
Ba Hoan nói:
“Rõ ràng là thế. Các nước nguyên thuộc địa chung quanh ta đều được trao trả chủ quyền mà không phải đánh nhau sứt đầu vỡ trán.”
Hoan nói tiếp:
“Nhưng không may cho đất nước ta, họ Hồ đã chẳng những không hợp tác xây dựng đất nước mà còn chiến đấu một mất một còn chống lại Bảo Đại lúc trước và Ngô Đình Diệm hiện thời. Đối với họ Hồ, dân tộc và đất nước không quan trọng bằng Đảng Cộng sản Quốc tế và cá nhân ông ta.”
Chai rượu đã cạn. Ba Hoan ngáp dài:
“Đi ngủ đi thôi, gần sáng rồi, có gì mai nói tiếp.”
Mọi người đứng dậy dọn dẹp rồi đi vào phòng riêng. Trước khi vào phòng, ba Hằng than thở:
“Tụi Việt Minh cộng sản làm ăn bậy bạ vậy đó mà dụ con Hằng nhà tui đi đâu mất tiêu, chẳng biết sống chết thế nào, nghĩ tới là tức chết đi được.”
Nghe ba Hằng than thở, Hoan tưởng chừng một tảng đá vừa rơi xuống đè nặng trên tim. Xoay người đi về phòng mình, Hoan cố che giấu dòng nước mắt sắp trào ra.
* * *
Mặt trời chưa ló dạng, Hoan đã mặc đồ tắm chạy một mạch lao mình xuống làn nước biển trong xanh. Biển Nha Trang êm đềm, sóng lao xao vỗ rì rầm lên bờ cát. Hoan sãi tay bơi một mạch ra xa cho đến lúc chỉ còn chóp đầu nhấp nhô trên mặt nước. Hồng và to như một chiếc đĩa bàn lớn nhích chầm chậm lên khỏi chân trời, mặt trời ló dạng trông thật gần tưởng chỉ vài con sào là với tới. Như được chiếu ra từ một ngọn đèn pha cực mạnh, ánh mặt trời bình minh tỏa lên nền trời một chùm tia hình rẽ quạt màu hồng phấn dịu đẹp như tranh vẽ. Một giải mây tía vắt ngang chùm tia như nét điểm xuyết của họa sĩ cho bức tranh thêm phần sinh động. Bơi ngữa ngược vào bờ, Hoan say sưa nhìn bức tranh bình minh Nha Trang mà thiên nhiên đang vẽ ra, lòng tự nhủ:
“Phải chi lúc này có Hằng cùng bơi với mình.”
Bâng khuâng nhớ lại ngày thơ dại hai đứa được hai ba chở xe đạp ra Cửa Tùng lội biển nghịch nước, Hoan ngồi trên bãi cát nhìn mặt trời đang từ từ lên cao. Ánh bình minh hồng đã bị xóa tan, trên không chỉ còn lại mặt trời tròn sáng chói. Bầu trời trong xanh không một gợn mây. Tiếng người tắm biển đùa nghịch gợi Hoan nhớ lại tiếng cười của Hằng trong những ngày hạnh phúc đó, tiếng cười trong trẻo dòn tan như bọt sóng vỡ khi chạm vào bờ.
. Như một sự trùng hợp, quán cà phê đang cho phát bài Tình Ca, một ca khúc Phạm Duy viết năm 1953 về tình yêu tiếng Việt và yêu quê hương đất nước:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi,
Mẹ hiền ru những câu xa vời,
À à ơi! Tiếng ru muôn đời.
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi,
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!
Tôi yêu tiếng ngang trời,
Những câu hò giận hờn không nguôi,
Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi,
Vững tin vào mộng đẹp ngày mai.
Hoan cúi xuống nhìn tách cà phê mỉm cười, nhấp một ngụm rồi quay về với kỷ niệm riêng tư vừa bị phá vỡ. Bỗng, một trong ba cô gái kéo ghế ngồi đối diện Hoan, chăm chú nhìn Hoan một thoáng rồi cất tiếng hỏi:
“Mais c’est toi, Hoan?”
Hoan nhìn lại. Trước mắt Hoan là một cô gái xinh đẹp, người nhiều tuổi nhất trong ba cô vừa bước vào quán. Cô gái cười, tiếng cười quen thuộc làm Hoan đứng bật dậy, reo lên:
“Ah, mon Dieu! Mais c’est toi, Jacqueline. Que fais-tu ici?”
Jacqueline đứng lên nắm lấy bàn tay Hoan vừa đưa ra:
“Em bây giờ không phải là Jacqueline nữa.”
Hoan ngạc nhiên nhìn cô gái:
“Không Jacqueline thì là gì? Bộ cô đổi theo tên chồng rồi sao?”
Cô gái cười dòn:
“Mới gặp em đã hoảng, sợ em có chồng. Không phải vậy đâu, em đổi lại tên Việt thôi. Hú hồn chưa?”
Hoan cười:
“Sao Hoan phải hú hồn? Vậy tên Việt là gì?”
“Đoan Trang. Phan Đoan Trang, không có thị thiếc gì cả.”
“Hay, Đoan Trang. Mà Đoan Trang có đoan trang thật không? Khoan đã, chuyện gì còn đó, Đoan Trang dùng gì nào?”
Đoan Trang không trả lời Hoan, gọi với hai cô gái ở bàn khác bằng tiếng Pháp:
“Qua đây mấy đứa.”
Đoan Trang giới thiệu bằng tiếng Việt:
. Em hiện đang trọ nhà cô dượng em tức ba mẹ hai đứa này.”
:
“Comment çà va?”(Anh khỏe không?)
Hoan bắt tay, trả lời bằng tiếng Việt:
“Chào hai cô, mời hai cô ngồi. Trang và hai cô dùng gì nào.”
Hai cô gái nhìn Đoan Trang, Marguerite điềm đạm trong khi Joséphine xem chừng láu lỉnh hơn, hỏi Đoan Trang chẳng cần đắn đo:
“Mais comment? Il ne peut parler français?”
Đoan Trang cười lớn:
mà đã coi trời bằng vung rồi.”
Làm bộ không hiểu, Joséphine bảo Trang:
.
Đoan Trang cười, nhìn hai cô gái:
. Mấy đứa nói tiếng Pháp không lại anh ấy đâu, đừng tự phụ.”
Hoan chặn lời:
Lạt, không học Nha Trang.”
Quay qua Hoan, Đoan Trang nói:
“Em xin lỗi anh Hoan, mấy đứa nhỏ quậy quá.”
“Không sao cả, tuổi trẻ ai mà chẳng thế. Ba cô uống gì?”
Sau khi gọi thức uống, Hoan nói:
“Mấy chị em đi tắm?”
Marguerite nhanh nhẩu:
“Anh Hoan lạ chưa, không đi tắm thì xuống biển làm gì? Tụi này vừa tắm lên.”
“Vậy thì hay qua, uống cà phê xong tôi mời mọi người đi ăn sáng.”
Hai cô gái trẻ reo lên:
“Très bien, trèx bien!”
Hoan hỏi tiếp:
“Ba người muốn ăn gì? Phở gà Chợ Đầm?”
, trong khi hai cô gái reo lên:
“Parfait!”(Tuyệt!)
Hoan hỏi Đoan Trang:
“Sao Đoan Trang ở đây? Tôi tưởng cô ở Huế.”
Đoan Trang nghịch ngợm hỏi lại:
“Sao anh ở đây? Em cũng tưởng anh còn ở Huế.”
Hoan cười:
“Tại ba mẹ mình ở đây.”
“Vậy sao? Hai bác vào đây từ lúc nào?”
“Cũng đã mấy năm, trước khi mình vào Võ bị.”
Đoan Trang ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
“Em nhớ rồi, anh có cho em biết.”
tiếng Pháp, cách xưng hô dẫu thân mật vẫn không nói lên được sự gần gũi như khi xưng anh em trong tiếng Việt.
“À, em quên, anh vào Võ bị, mang lon gì rồi?”
“Vừa lên đại úy.”
Đoan Trang tinh nghịch đứng lên, đưa tay chào kiểu nhà binh:
“Bonjour mon capitaine!”(Chào đại úy!)
Trang hỏi tiếp:
“Anh đóng quân ở đâu?”
“Ở Sài Gòn?”
“Lính văn phòng?”
Hoan mỉm cười lắc đầu:
“Ở Sài Gòn nhưng không phải lính cậu.”
Đoan Trang trố mắt nhìn Hoan:
là ngành lính gì?”
Hoan cười:
“Lính cậu là tiếng lóng chỉ lính ngồi văn phòng không phải ra tác chiến.”
“Ra thế. Vậy anh là lính gì?”
“Nhảy dù.”
Joséphine hỏi Đoan Trang:
“Nhảy dù là gì chị?”
.”
Joséphine bật người dậy, la lớn:
“O mon Dieu! Parachute? Capitaine?”(Trời đất! Nhảy dù? Đại úy?)
Hoan cười:
“Cô bé, ngồi xuống đi, có gì lạ đâu mà la to vậy?”
như thơ văn thường nói trong khi anh chàng này có dáng thư sinh trói gà không chặt. Đoan Trang hỏi Hoan:
“Lát nữa anh đưa em về chào ba mẹ. Mà anh gọi hai bác bằng gì?”
“Ba mạ.”
Đoan Trang cười:
“Đúng kiểu Huế rồi, em cũng gọi vậy.”
Hoan ghẹo:
thôi.”
Đoan Trang cười:
mà giờ có nói vậy đâu.”
“Trang không nhưng Hoan về nhà vẫn xổ liên thanh mô, tê, răng, rứa với ba mạ Hoan.”
Đoan Trang lấy lại nghiêm chỉnh, nói:
“Ba Mạ khỏe không anh?”
Hoan ngạc nhiên khi nghe Đoan Trang đột nhiên gọi ba mẹ Hoan bằng Ba Mạ thay vì hai bác như trước đây.
“Cám ơn Trang, ba mạ Hoan vẫn khỏe.”
“Ba làm gì ở đâu vậy?”
“Ba Hoan đang là trưởng phòng ở Tòa Hành chánh Nha Trang.”
Đoan Trang cười:
“Vậy mà Trang chẳng biết gì hết.”
Hoan cười theo:
“Không ai cho biết làm sao Trang biết được. À, Đoan Trang vào đây lâu chưa?”
sau anh hai năm, em dạy ở Jeanne d’Arc mấy năm rồi xin vào dạy ở Collège Français cho đến nay.”
“Thế hai bác?”
“Ba Mạ em còn ở Huế, nhưng không ở nhà cũ nữa mả dọn về gần chùa Diệu Đế bên Gia Hội.”
Hoan cười:
“Thế có gần Bún bò Mụ Rớt không?”
Đoan Trang nói ngay:
“Gần, gần xịch. Bữa nào có dịp, anh về ghé nhà em rồi mình đi ăn bún bò.”
“Hai bác khỏe không?”
“Ba mạ em khỏe, vẫn nhắc đến anh.”
“Hai bác còn nhớ Hoan sao?”
Đoan Trang cười:
.”
Hoan cười theo:
“Ngày đi Nha Trang Hoan có đến chào hai bác.”
“Ba Mạ nói anh chẳng hề viết thư cho biết anh ra sao rồi.”
“Cũng có thế thật, Hoan chỉ gửi thiệp chúc Tết hai bác hàng năm thôi. Từ ngày ra trường Võ Bị, Hoan hành quân liên miên nên cũng thiếu sót không thăm hỏi hai bác.”
“Thế anh vừa hành quân ở đâu?”
Hoan ngồi ngay ngắn người lại:
“Vừa đánh Bình Xuyên tại Rừng Sác.”
Đoan Trang trợn mắt:
“Thiệt sao anh? Em nghe nói trận đánh đó dữ dội lắm.”
Hoan vỗ vỗ lên bàn tay Đoan Trang đang đặt trên bàn:
“Chiến trận nào mà không dữ dội khi người ngoài nghe nói đến, nhưng người trong cuộc lại chẳng thấy gì.”
“Sao mà chẳng thấy gì?”
Hoan cười:
“Thì cũng như người uống rượu, mọi người kinh sợ người say nhưng người say lại nói có gì mà ầm ỉ.”
Đoan Trang mỉm cười ngâm nga:

Hoan tỏ vẻ kinh ngạc:
“Ủa, Trang học chương trình Pháp mà cũng biết Chinh phụ Ngâm?’
Đoan Trang nắm tay Hoan:
.
Hoan gật đầu:
“Thật là kỳ cục. Vậy mà hồi đó tụi mình phải học, thầy phải dạy, chẳng thầy nào nói cho nghe cái kỳ cục của bài học đó.”
Nãy giờ ngồi im lặng, Marguerite lên tiếng hỏi Đoan Trang:
“Kỳ cục ở chỗ nào vậy chị?”
Đoan Trang dịu dàng nhìn cô em họ:
“Kỳ cục ở chỗ quê hương chúng mình là nước Việt Nam không phải nước Pháp, tổ tiên chúng mình là người Việt con cháu Rồng Tiên không phải là người xứ Gaule.”
“Vậy mà hồi nào giờ tụi em vẫn học như thế, chẳng để ý đến ý nghĩa.”
Hoan nói thêm:
“Hồi trước tôi cũng vậy, chỉ quan tâm khi đã khôn lớn có chút suy nghĩ. Tôi còn cảm thấy khó chịu vì chỉ học toàn lịch sử và văn chương Pháp, biết nhiều về Louis hơn Gia Long, nhiều về Lamartine, Jean-Jacques Rousseau hơn Nguyễn Du, Nhất Linh, Khái Hưng.”
Đoan Trang tiếp lời:
“Anh nói đúng, mãi sau này em mới nhận ra Pháp nhồi nhét lối giáo dục thực dân vào bọn trẻ chúng mình.”
Nãy giờ ngồi im lặng, Josephine lộ vẻ mất kiên nhẫn:
“Sao đây? Bộ hai người tính ngồi nói chuyện đời xưa để hai đứa này nhịn đói phải không?”
Hoan mỉm cười, gọi tính tiền rồi hỏi:
“Ba người đi bằng gì?”
Đoan Trang nói:
“Tụi em đi xe đạp. Anh sao?”
“Hoan đi bộ. Ba người đi ba xe?”
“Ba đứa ba chiếc.”
“Hay để Hoan chở một người.”
Marguerite hỏi:
“Anh chở nỗi không đó? Đây lên chợ Đầm xa à nha.”
Hoan mỉm cười:
“Em coi thường lính Dù, chạy bộ mấy chục cây số với mấy chục ký trên vai còn chưa sao.”
Joséphine láu táu:
“Vậy anh chở em, em nhẹ nhất.”
Joséphine chỉ xe cho Hoan dắt ra đường. Đạp xe thành hai hàng, Hoan đèo Joséphine chạy trước ngang hàng với Đoan Trang, Marguerite theo sau. Ba chiếc xe bon bon chạy trên đường Duy Tân về phía Tòa Hành Chánh, rẽ vào một con đường nhỏ rồi qua Chợ Đầm. Phở gà Chợ Đầm ngon nổi tiếng, nước phở trong veo thơm phức, thịt gà ngọt lịm không dai không mềm. Một đặc điểm quyến rũ người ăn là nếu tới sớm, mề gan, trứng non, phao câu đầu, cánh, đùi, ức, thứ gì chủ quán cũng có thể chiều miễn là còn. Đoan Trang nói:
“Anh không rành đâu, để em dẫn đến hàng ngon nhất.”
về, hiếm khi đến với bạn bè. Hoan bảo Đoan Trang:
.”
Đoan Trang nói:
“Không biết ở nhà ông ấy ăn uống thế nào chứ người quen Trang cho biết, đến nhà hàng Tây, ông xơi hết một ổ bánh mì dài với bơ trước khi vào bữa chính.”
Hoan hỏi các cô:
“Xem nào, ai ăn gì tùy ý gọi.”
Hoan gọi cho mình mề, gan, trứng non, và đùi, không dám gọi phao câu trước ba cô gái cho dẫu đó vẫn là thứ Hoan thích. Đoan Trang cười:
“Anh gọi như thế chẳng khác trải gan ruột ra.”
Hoan nhìn Trang:
“Trải gan ruột ra thì chết mất còn gì.”
Mấy cô gái cười lớn. Joséphine nói:
“Anh Hoan này, chị Trang nói bóng gió mà anh tưởng thật sao?”
Marguerite hỏi lại:
“Nói bóng gió thế nào, em không hiểu.”
Đoan Trang chưa kịp trả lời thì Hoan giả vờ thơ ngây nói:
“Ôi, ai nói sao tôi hiểu vậy, chẳng hiểu bóng gió lắt léo gì cả.”
Joséphine láu lỉnh:
, người ta gọi thế, phải không anh?”
Hoan nói:
“Nói nhỏ thôi, người ta đang nhìn mình kia kỳa.”
Joséphine nói lớn hơn:
“Nhìn thây kệ họ, em sợ gì. Em hét to cho cả chợ biết có ông đại úy nhảy dù ngồi đây liền bây giờ nè.”
Sợ cô em làm thật, Đoan Trang vội kéo Joséphine:
“Đừng em, em không sợ nhưng chị sợ.”
Joséphine cười:
“Mấy người yếu bóng vía, em mới dọa chút đã hết hồn. Em mà hét lớn người ta đưa em vô Nhà thương Biên Hòa liền.”
Hoan nói:
“Nhà thương Biên Hòa ở Biên Hòa, cô ở Nha Trang làm sao đưa cô vào trong đó?”
Joséphine bướng bỉnh:
“Điên thì xa cũng phải đưa vào Biên Hòa hay Chợ Quán, Nha Trang đâu có nhà thương điên.”
Đoan Trang nói:
“Thôi, đừng quậy nữa, ăn đi kẻo nguội hết rồi.”
Khi Hoan gọi tính tiền, Đoan Trang chận lại:
“Anh Hoan cho em được đãi anh lần gặp gỡ lại này.”
Hoan không chịu:
“Vậy sao được, tôi mời ba cô mà.”
Joséphine chen vào:
“Anh Hoan cứ để chị ấy trả đi.”
“Sao vậy?”
“Để anh còn nợ tụi em, phải trả cho tụi em được ăn lần nữa.”
Đoan Trang cười:
“Tưởng nó thương anh Hoan để anh ấy khỏi mất tiền, hóa ra chỉ nghĩ đến có lợi cho nó.”
Hoan cười theo:
“Tôi chỉ còn ở đây một tuần nữa là hết phép rồi.”
Joséphine reo lên:
“Một tuần là bảy ngày, phải không? Tính từ ngày mai? Vậy là anh đưa tụi em đi ăn bảy lần, ngày mai bắt đầu tính.”
“Được thôi, tôi dẫn các cô đi ăn rồi trả tiền kiểu Mỹ.”
Marguerite trố mắt hỏi:
“Kiểu Mỹ là kiểu gì?”
Đoan Trang cười:
“Là ai ăn nấy trả.”
Joséphine la lên:
“A, vậy là anh Hoan ăn gian.”
Hoan cười theo:
“Ăn gian là thế nào? Tôi nợ các cô hôm nay thì trả nợ một lần, sao lại phải trả bảy lần?”
Joséphine đuối lý, cù nhây:
“Cái này là em theo Kinh thánh, Chúa nói tha tội bảy mươi lần bảy.”
Đoan Trang cười, nói một câu tiếng Anh:
.”
Joséphine nhìn chị:
“Chị nói gì em không hiểu.”
Hoan cười, nói một câu nửa Việt nửa Pháp:
.”
Joséphine cãi chày:
? Chúa nói bảy mươi lần bảy mà giờ em nói chỉ bảy lần thôi.”
Quay qua Đoan Trang, Hoan hỏi:
vậy?”
Đoan Trang cúi mặt cười bẻn lẽn:
“Em tự học qua đĩa. Đã đến lúc cần tiếng Anh rồi đó anh.”
“Sao cô nghĩ vậy?”
“Anh nhà binh biết rõ hơn em. Mỹ nhòm ngó Việt Nam mình rồi, phải không anh?”
Hoan gật đầu:
“Không phải mới đây đâu Trang, họ nhòm ngó lâu rồi, từ ngày Pháp chiếm nước mình.”
Cả nhóm im lặng. Các cô gái tuy đơn sơ nhí nhảnh tưởng chừng không quan tâm gì đến hiện tình đất nước nhưng trong thâm tâm dòng máu Việt vẫn chảy, ít nhiều các cô cũng không thể làm ngơ. Bầu không khí đột nhiên trở nên nặng nề. Để phá tan bầu khí không vui, Đoan Trang nói:
“Bây giờ anh Hoan đưa bọn em đến nhà thăm Ba Mạ.”
Marguerite điềm đạm nói:
“Chị Đoan Trang đến thăm Ba Mạ, vơ bọn em vào làm gì.”
Đoan Trang phát cáu:
“Hai đứa bay để yên được không, cái gì cũng nhẩy xổ vào.”
Joséphine cười hinh hích:
“Chị Marguerite ngồi yên trên ghế, có nhảy nhót gì đâu.”
Biết không thể nào chày cối được với hai cô em họ, Đoan Trang bảo Hoan:
“Mình về đi anh. Anh dẫn đường.”
Mẹ Hoan vui mừng khi thấy Hoan về cùng với ba cô gái. Đoan Trang đon đả chào:
“Mạ không nhớ ra con răng?”
Mẹ Hoan nheo mắt nhìn:
“Ai rứa tê, có phải Jacqueline không?”
Đoan Trang nắm tay mẹ Hoan, cười tươi:
“Dạ, đúng rồi Mạ, Mạ còn nhớ con, chỉ có điều con bây chừ không phải là Jacqueline nữa.”
Mẹ Hoan lộ vẻ ngạc nhiên:
“Không Jacqueline thì là chi?”
Hoan cười:
“Cô ấy đổi tên Việt rồi Mạ, chừ cô nớ tên là Đoan Trang.”
“À, ra rứa, người Việt mang tên Việt là đúng rồi.”
Sợ hai cô còn lại chột dạ, Hoan khỏa lấp:
“Còn đây là Marguerite và Joséphine, hai cô em họ của Đoan Trang.”
Mẹ Hoan vui vẻ mời cả ba ở lại dùng cơm trưa nhưng Marguerite và Joséphine cáo từ vì chưa xin phép ba mẹ. Đoan Trang nói:
“Hai đứa về xin phép giùm chị, chiều chị về.”
Hai cô gái đi rồi, Đoan Trang xăng xái phụ mẹ Hoan làm cơm. Lợi dụng một lúc không có Đoan Trang, mẹ Hoan mỉm cười bảo nhỏ Hoan:
“Ngộ chưa, Đoan Trang muốn chi đây mà gọi Mạ ngọt xớt.”
Hoan giả vờ không nghe, đi lên nhà trên phụ Đoan Trang dọn bàn ăn. Sau bữa cơm, ba mẹ Hoan cáo lui vào phòng để hai người bạn tự do trò chuyện. Trời xế chiều, Đoan Trang về nhà, hẹn Hoan trước khi chia tay:
“Sáng sớm mai gặp anh dưới biển. Anh tắm mấy giờ?”
***
Và chẳng biết từ lúc nào, Hoan xưng anh và gọi Đoan Trang bằng em mà chẳng ai trong hai người ngạc nhiên y như đó là chuyện đương nhiên. Hai ngày trước ngày hết phép, khi chia tay sau bữa cơm chiều, Đoan Trang hỏi Hoan:
“Noen anh có về không?”
Hoan cười:
“Em làm như nhà binh muốn về lúc nào là về.”
“Nghĩa là anh không về?”
“Chắc chắn không có phép để về, mà cũng chưa biết có được ăn Noen ở Sài Gòn hay nằm rừng nằm rú.”
Đoan Trang nắm tay Hoan:
“Anh không về thì em vào Sài Gòn ăn Noen với anh.”
Hoan thoáng giật mình:
“Lỡ anh hành quân thì sao?”
“Thì em đợi.”
Hoan trố mắt:
“Trời đất, nhiều khi hành quân cả tháng, em đợi đến bao giờ, và ở đâu mà đợi?”
Đoan Trang trả lời hai ba ẩn ý:
“Bao lâu em cũng đợi.”
Đoan Trang mỉm cười nói tiếp:
“Trêu anh vậy thôi, em sẽ điện vào hỏi anh trước, nếu anh không hành quân thì em vào.”
“Nữa, em làm như hành quân có thời khắc biểu. Lỡ lúc em điện thì anh còn ở nhà nhưng khi em vào thì anh đi rồi, lúc đó làm sao?”
“Thì em quay về, chứ làm sao nữa?”
“Nhưng rồi em ở đâu chờ đến ngày quay về?”
“Anh đừng lo, bộ Sài Gòn không có khách sạn sao? Con gái thời nay đâu phải như thời trước nữa mà không dám vào khách sạn ngủ qua đêm một mình.”
Biết không thể cản Đoan Trang, mà thực lòng Hoan cũng không muốn cản, Hoan buông xuôi:
“Thôi được, nếu em vào mà anh hành quân, anh sẽ dặn thường vụ dọn cho em ở trong phòng anh để hoặc chờ anh về hoặc về lại Nha Trang nếu anh hành quân dài ngày.”
“Nhưng làm sao em biết anh hành quân dài hay ngắn ngày?”
Hoan mỉm cười:
“Em khỏi lo, anh sẽ nói chuyện với em qua radio.”
Rồi như sực nhớ ra, Hoan nói:
“Quên nữa, có gì anh bảo Lan lo cho em.”
“Lan là ai?”
“Là cô gái mồ côi bán câu lạc bộ mà ba mạ nhận làm con nuôi cho đi học tiếp bắt đầu từ năm học tới.”
“Em chưa hiểu.”
“Ba Lan nguyên là thượng sĩ thuộc đơn vị anh đã tử trận trước khi anh đến. Mẹ Lan bệnh không thuốc chữa. Lan phải bỏ học đi làm để lo cho bốn đứa em tiếp tục học.”
“A, em hiểu rồi, em sẽ xin ba mạ cho em góp một tay. Nhưng ba mạ nuôi cho Lan đi học, còn em Lan ai lo?”
“Ba mạ giúp chút ít cộng với tiền tử tuất mẹ Lan lãnh hàng tháng, còn lại đơn vị giúp thêm. Lan học trường tư nhưng không phải trả học phí vì giảm phân nửa do gia cảnh và phân nửa còn lại do là học sinh giỏi. Mấy đứa nhỏ học trường Quốc gia Nghĩa Tử không mất học phí mà còn được trợ cấp.”
Đoan Trang reo lên:
“Hay quá, em sẽ xin được phụ thêm với ba mạ.”
Hoan nhìn Đoan Trang với lòng mến phục:
“Anh cám ơn Trang. Về lại, anh sẽ cho Lan biết quyết định của ba mạ giúp Lan và gia đình Lan. Em giúp gì thêm thì tính với ba mạ.”
Đoan Trang mỉm cười e lệ. Hoan đột nhiên cảm thấy trong lòng dâng lên một cảm tình kỳ lạ với Đoan Trang, một cảm tình hình như đã có suốt những năm quen biết nhau nhưng giờ đây hiện ra rõ nét hơn. Hoan hỏi Đoan Trang:
“Mai ba mạ Hằng mời em và anh ăn cơm chia tay, em đến nghe.”
Đã nghe Hoan nói về liên hệ giữa gia đình Hoan với gia đình Hằng và với chính Hằng, Đoan Trang mỉm cười trả lời:
“Dạ, em đến.”
“Em muốn anh đến đón em không?”
“Không anh, em đến nhà anh rồi hai đứa cùng đi qua bên đó.”
Tiễn Đoan Trang ra ngõ và đứng nhìn theo cho đến khi nàng khuất dạng sau khúc đường quanh, Hoan lững thửng vào nhà, lòng phân vân tự hỏi
thế là thế nào, mình đang nghĩ gì về Đoan Trang.
.

Tin tức khác...