Hồ Gươm

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Giã từ Hội An, tôi đáp xe lửa đi Hà Nội. Chuyến tàu Thống Nhất S8 kéo chừng 10 toa, con tàu cũ kỹ như ngày nào. Phòng ngủ 4 giường tương đối khá hơn phòng 6 giường. Ăn uống có tiến bộ, không còn cảnh xách từng xô canh đi chia cho khách. Ðường Sắt học cách bầy khẩu phần từng khay như trên máy bay, thức ăn cho vào hộp xốp ép kín bằng giấy bạc, trông sạch sẽ văn minh hơn. Nước lọc (không rõ có lọc không) cho vào chai, nhại nhãn hiệu La Vie, có phụ đề “Nước Ðường Sắt..”. Riêng vấn đề vệ sinh thì muôn thuở vẫn vậy, không hiểu du khách ngoại quốc họ nghĩ gì?

Tàu ra địa phận Thanh Hóa, trời vừa tảng sáng. Phong cảnh đã chuyển hẳn qua một nhịp điệu khác. Núi vôi nối tiếp giữa đồng bằng, vẻ đẹp thiên nhiên trở nên mềm mại hiền hòa. Nhưng sao đời sống dân chúng hai bên đường nghèo đến thế. Những túp lều tranh rách nát, xiêu vẹo thảm thương im lìm chịu đựng. Tàu rầm rầm chạy qua mà chẳng mấy ai để ý, ngoại trừ vài cháu nhỏ nhìn ngơ ngác. Ðến Hà Trung cảnh càng rực rỡ hơn, nhiều chỗ núi bị phá toang hoác, phơi màu vàng óng ả, xen lẫn màu đá thẫm, màu lá xanh, một họa phẩm sơn dầu bằng những nét dao thật mạnh. Tôi hỏi một người đàn ông cũng đang tì tay vào cửa tàu ngắm cảnh:
– Bác à, người ta xẻ những quả núi đẹp như thế kia để làm gì?
– Ðể làm xi-măng, xi-măng Bỉm Sơn sản xuất ở đây, ông không biết sao?
– Thế à, tôi nghĩ một ngày nào đó phá hết núi vôi thì còn gì cảnh đẹp.
– Ai mà nghĩ như ông, nàng Tô Thị còn bị giật sập cơ.
Mười năm trước tôi đã đến thăm nàng Tô Thị, đúng như lời ông khách, hòn Vọng Phu, biểu tượng cao đẹp về tình nghĩa vợ chồng, một kỳ quan nơi xứ Lạng, đã bị phá để rồi phải dựng lại vì búa rìu dư luận. Trong giây phút tôi chạnh lòng thương tiếc cho biết bao vẻ đẹp của quê hương. Rồi đây làm gì còn cảnh “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”. Và dải đất mà người xưa gọi là “giang sơn gấm vóc” e sẽ thành một mảnh rách nát tang thương.
Vài khách người Âu xách hành trang lần ra phía cửa tàu. Một phụ nữ đứng tuổi, hỏi tôi: “Ga tiếp là Ninh Bình?” Tôi hỏi chuyền sang ông khách, “Vâng đúng thế”. Tôi lấy làm lạ, du khách ngoại quốc lại xuống Ninh Bình.
– Khách Tây họ xuống Ninh Bình làm gì bác nhỉ?
– Ấy, Ninh bình nhiều danh lam thắng cảnh lắm.
– Thế hả bác?
Ông khách nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Ông ở Bắc mà không biết sao?
Tôi tìm cách chống chế:
– Ði xa lâu ngày quá, với lại cũng chưa có dịp…
Người khách thông cảm, mắt nhìn ra phía xa và tiếp:
– Ninh Bình có Chùa Non Nước, Núi Cánh Diều, Ðộng Hoa Lư, Ðộng Tam Cốc, Bích Ðộng, đều là nơi nổi tiếng.
– Thú thật trước giờ tôi chỉ được nghe, hoặc đọc qua lịch sử..
– Ông nên đến một lần cho biết. Người ta còn bảo Ninh Bình là Vịnh Hạ Long cạn.
– Vâng, cảm ơn bác, thể nào tôi cũng đi.

Tàu từ từ vào ga Ninh Bình. Tàu đỗ không lâu, ga nhỏ, ít người lên xuống. Lúc tàu chuyển bánh, tôi thấy cảnh mỗi lúc một đẹp hơn. Phong cảnh miền Bắc phảng phất nét tranh thủy mạc, nó nhẹ nhàng mà cho người xem nhiều xúc cảm. Tàu qua ga Thường Tín, đời sống có phần tấp nập, hàng quán san sát. Nhà cửa mọc dài theo quốc lộ 1. Chỉ lát sau tàu đã vào ga Hà Nội. Tôi để ý xem có gì khác hơn mười năm trước không. Sinh hoạt nhà ga bến tàu thì ở đâu và lúc nào cũng nhộn nhịp, lẫn lộn đủ các hạng người. Cứ nhìn thái độ cảnh giác của khách là biết tình trạng an toàn của nhà ga. Ít ai trả lời những câu mời mọc của dân xe thồ hay những tay môi giới các thứ linh tinh. Tôi lách ra khỏi đám đông, từ xa nhìn lại nhà ga, quả có đổi thay. Dấu vết Ðội Tự Quản của bọn đầu gấu không còn. Hàng quán lụp xụp hai bên hông ga nay đã xây cất tươm tất hơn. Quãng đường trước ga phong quang hơn, không còn cảnh mua bán rắn rùa như trước.

Ði một đoạn tôi mới gọi xích lô đến khách sạn số 7 Hàng Dầu, gần Hồ Gươm và cũng là trung tâm buôn bán. Khách sạn không lớn nhưng tương đối tiện nghi. Ði du lịch theo kiểu cách như tôi, không cần năm bảy sao làm gì cho phí. Cốt yên tĩnh an toàn là được. Khách sạn có nước nóng lạnh, TV, tủ lạnh, có máy điều hòa, một ngày 20 Mỹ kim thế là “đạt yêu cầu”. Lắm khi tôi cũng muốn đi những tour của các tổ chức nhưng thấy quảng cáo toàn là đi shopping và ăn uống nên rất ngại. Cả cuộc đời cặm cụi chỉ để ăn mặc sắm sửa nay đi đó đây năm ba ngày cũng lại chỉ để shopping, thật phí thời giờ.

Từ khách sạn Hàng Dầu ra hồ Hoàn Kiếm và Ðền Ngọc Sơn, thả bộ chỉ mươi lăm phút. Bờ hồ nay đã xây kè đá, thẳng thớm, nhưng nạn phóng uế vẫn còn, một biểu hiện hết sức lạc hậu mà ngay thủ đô, bộ mặt của một đất nước, không ai để ý.
Trời Hà Nội mấy ngày nay mưa và âm u. Ðền Ngọc Sơn đẹp có lẽ nhờ chiếc cầu Thê Húc màu đỏ. Ðứng trên bờ Hồ nhìn từ xa, cảnh Ðền thật nên thơ. Nhiều nhà nhiếp ảnh đã có những tác phẩm về Ðền Ngọc Sơn và Hồ Gươm với tiền cảnh hoa phượng nở. Có thể nói Hồ Gươm và Ðền Ngọc Sơn là hai biểu tượng của cảnh trí Hà Thành.
Cảnh vật nơi đây biến đổi theo thời tiết bốn mùa. Khách lãng du dừng chân bất chợt, hay ở lại đôi ba ngày, khó lòng mà ghi được một hình ảnh ưng ý. Tôi không bận tâm tìm chụp các biểu tượng, tôi tìm những cái lẻ loi tầm thường mà ít người để ý. Tôi đảo qua một vòng bờ hồ rồi vào Ðền. Ðền nằm trên một đảo nhỏ, đảo Tai Voi (Tượng Nhĩ Sơn) giữa Hồ Gươm. Ðền không lớn, ẩn khuất dưới những tàng lá của mấy cây si đại thụ. Những cây si lâu đời có hàng trăm rễ phụ lớn cỡ bắp tay buông thỏng xuống, cho những đường nét khá hay. Một tác phẩm lạ mắt. Theo sử liệu thì trước kia đảo đã có sẵn ngôi chùa. Khi vua Lê Thái Tổ dời đô về Thăng Long, đảo được đổi tên là Ngọc Tượng. Ðời Trần có tên là Ngọc Sơn. Khách viếng Ðền khá đông, vé vào cổng bốn ngàn đồng. Một bác già không có vẻ gì là du khách, chắc là người trông Ðền, tôi ướm hỏi:

– Thưa bác, Ðền có đã lâu đời ?
– Vâng mấy trăm năm rồi, từ thời nhà Lê. Xưa kia là một ngôi chùa nhỏ, đến đời Trần có một người ở làng Nhị Khê, hiệu Tín Trai đến sửa sang, xây Tam Quan, làm gác chuông mở rộng thêm, gọi là chùa Ngọc Sơn. Về sau, con gái Tín Trai hiến ngôi chùa cho Hội Hướng Thiện. Hội này bỏ gác chuông, cất thêm phòng và đổi thành Ðền Ngọc Sơn.
Có hai cô gái ngang qua nghe tôi hỏi chuyện, cũng dừng chân. Một cô dáng người thanh nhã, đẹp nhờ đôi mắt, lên tiếng:
– Thưa bác trong Ðền thờ ai vậy bác?
– Ðền chia làm ba: Ngoài là bái đường, giữa thờ Văn Xương, phía sau thờ Ðức Trần Hưng Ðạo.
– Ông Tín Trai nào giỏi quá hả bác, hồi đó mà tự làm được cầu?
– Cầu thì mãi đến năm 1865, Phương Ðình Nguyễn Văn Siêu mới xây, gọi là cầu Thê Húc.
Thấy hai cô gái nhanh nhẩu, tôi trở thành người nghe ké, bác già cũng có vẻ quí người đẹp hơn nên trả lời vui vẻ. Khi các cô đã đi, tôi hỏi nhỏ:
– Bác à, tiền bán vé thuộc về Ðền hay nhà nước.
– Nhà nước cả, ngay tiền cúng trong Ðền cũng thế…
Tôi vòng quanh bấm mấy tấm rồi trở lại công viên bờ hồ. Công viên hay thắng cảnh ở Việt Nam, trong ngày làm việc, vẫn có người qua lại, không như ở Mỹ phải cuối tuần mới đông người. Dọc bờ hồ có những ghế đá cho khách nghỉ chân. Nhưng ít thấy khách đường xa mà hầu như toàn khách nhà. Các cụ ông, cụ bà hóng mát. Một số thiếu nữ ngồi rải rác đó đây, vai mang chiếc túi da nhỏ, hỏi ra, các cô “ngồi bến đợi đò”. Ðợi đò hay đợi một chàng lãng tử để có một chuyến “đi ngang về tắt” kiếm tiền độ nhật. Trong dáng buồn thiểu não, người con gái xỏa mái tóc đen, ngồi suy gẫm về thân phận của mình. Cuộc sống bấp bênh, bên dòng đời xô bồ nhộn nhịp. Vô tình bờ hồ có một vẻ đẹp hững hờ, rất ăn khớp với màu trời chiều ảm đạm. Một tác phẩm thật nhẹ mà sâu lắng.

Ngày xưa, nói đến gái Hà Thành là nghĩ đến hình ảnh những thiếu nữ thanh lịch trong tà áo lụa Hà Ðông tha thướt, một hình ảnh hiếm thấy hôm nay. Xã hội đổi thay kéo theo bao nhiêu thứ thay đổi. Tháp Rùa nay đã dẹp bỏ ngôi sao trên chóp, liềm búa dưới chân cũng không còn nhưng lại tô vôi sơn phết, tưởng chừng mới dựng lên hôm qua. Biểu tượng của Hồ Gươm mất nét mềm mại cổ kính rêu phong, nó trở thành “nhân chứng” của một sự tiến bộ thiếu nghệ thuật. Mặt hồ phẳng lặng như tấm gương soi, không thuyền bè qua lại, tạo cho hồ vẻ yên tĩnh cổ kính trang nghiêm. Một điều bất như ý là đôi chỗ mọc lên mấy tòa nhà cao tầng, cắt xé cái hậu cảnh thơ mộng của hồ. Các nước Tây Phương người ta ra sức gìn giữ những nét văn hóa cổ. Khi đến Quartier Latin của Paris tôi thấy những con đường hẻm lát gạch từ hàng trăm năm nay vẫn còn như cũ. Các cấu trúc nhà cửa, dù có sửa sang vẫn giữ lại nét xưa. Xứ ta thì trái ngược. Hồi còn bên nhà, đọc tin trên báo cho hay ngư dân khám phá một thuyền chở đầy đồ gốm cổ, từ đời nhà Thanh, chìm ngoài khơi Vũng Tàu. Nhà nước vớt lên và bán cho ngoại quốc (Hòa Lan?) đâu 6000 Mỹ kim. Bộ Văn Hóa Mỹ Thuật không thấy giác trị của cổ vật, hay cổ vật không có giá trị? Rải rác trong nước, nhiều di tích lịch sử văn hóa cũng cùng chung số phận.

Ðừng chú tâm quá vào những đổi thay thì Hồ Gươm vẫn đẹp, cái đẹp thiên nhiên đặc biệt dành cho Hà Nội. Nhiều thành phố khác cũng có hồ, Ðà Lạt với Than Thở, Huế có Tĩnh tâm, Tây Ninh có Lòng Hồ… nhưng không hồ nào đẹp như Hồ Gươm. Than Thở thì vắng lặng buồn hiu, Tịnh Tâm thì cổ kính thụ động, không khoáng đạt, Lòng Hồ thì hoang vắng, lạc lỏng, xa rời. Hồ Gươm có nét đẹp mỹ miều ấm áp, quen thuộc và rất tình cảm. Dạo chơi quanh bờ hồ vào buổi chiều có gió nhẹ, nước mát từ mặt hồ tỏa lên, người nhẹ nhàng thanh thoát. Hồ rộng bao la mà không trống trải. Hồ ôm một vòng như muốn giữ khách ở lại với mình. Dọc bờ bồ có nhiều cây cao bóng mát. Có những chỗ cây trườn mình ra mặt hồ, thả rễ đong đưa. Tôi thích tản bộ để chiêm ngưỡng vẻ đẹp uyển chuyển của hồ Gươm.

Ngồi chung ghế đá với ông khách Hà Nội tôi hỏi chuyện:
– Hình như trước đây tàu điện có chạy qua bờ hồ, thưa bác ?
– Vâng, ngay con đường Quan Thánh đây.
– Rồi tàu chạy tới những đâu hả bác?
– Tàu chạy từ Bạch Mai qua Hàng Ngang, Hàng Ðào, qua Chợ Ðồng Xuân.lên Quan Thánh và ga cuối nó đỗ là Thụy Khê. Thụy khê là nơi thuộc da. Da giày Thụy Khê đấy.
– Hay quá, cảm ơn bác đã cho biết một chút lịch sử.
– Thế ông không phải ở Hà Nội?
– Thưa không ạ.
– Sao ông nói giọng Bắc?
– Dạ, do thói quen thôi ạ.
Buổi chiều đây đó một vài nhóm người tập dưỡng sinh, người đi làm về, tạt vào nghỉ chân hóng mát, năm ba gánh hàng rong qua lại… quang cảnh bờ hồ thật bình dị đơn sơ…
Giờ đây, dừng chân bên Hồ Gươm, tôi thấy trong tôi một tình yêu quê hương thật đậm đà. Nhưng, cuộc sống lúc nào cũng kèm theo chữ “nhưng”, nếu là người dân trong nước, sống ở đây thì không biết họ có cảm nghĩ như thế nào. Tôi e rằng cơm áo nặng trên vai, không mấy ai còn nhận ra cảm xúc của mình.

Trần Công Nhung


Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Nhung Tran
PO.Box 163
Garden Grove, CA. 92842
Tel. (816) 988-5040
email: trannhungcong46@gmail.com

Tin tức khác...