Ðền thờ Ðào Duy Từ (2)

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Tuy sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa nhưng làng Tùng Châu, xã Hoài Thanh (Hoài Nhơn) mới thật là đất dụng võ của Ðào Duy Từ, nơi đã hun đúc tài năng và ý chí của ông, giúp ông khởi nghiệp lớn. Sau khi ông qua đời, chúa Nguyễn cho đưa thi hài về mai táng và lập đền thờ tại đây. Hiện nay trên vùng đất thuộc Tùng Châu xưa vẫn còn một số di tích liên quan đến Ðào Duy Từ .

Di tích lăng mộ Ðào Duy Từ nay thuộc địa phận thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn. Năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Ðào Duy Từ được xếp hàng đầu, được cấp 15 mẫu tự điền và 6 người trông coi phần mộ. Ðến năm Minh mệnh 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại tôn tạo lăng mộ cho ông. Trải qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ ông bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần đây nhất vào năm 1999.

Nhà thờ nằm trong khuôn viên một thửa đất hình chữ T có diện tích 1.616m2, được xây dựng vào năm Tự Ðức 12 (1859), đã qua nhiều lần trùng tu. Nhà thờ có tam quan cao khoảng 6m, hai mái lợp ngói âm dương, trên có bốn chữ lớn “Quốc công từ môn” (cổng đền thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, hai bên đắp phù điêu hình hai con dơi cách điệu, đường nét khá sắc sảo, bốn trụ góc có hình rồng uốn lượn. Qua Tam Quan có sân nhỏ hình chữ nhật, kích thước 6,9m x 7,8m. Tiếp đến là bình phong đắp hình long mã lưng có hà đồ nổi trên mặt nước, mặt sau đề bốn chữ “Bách thế bất di” (Trăm đời không thay đổi). Ở hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Ðào Duy Từ:

Ngọc sơn chung tú Bắc

Bồng lãnh hiển danh Nam

(Núi Ngọc hun đúc tinh hoa xứ Bắc

Non Tiên vẻ vang danh tiếng miền Nam)

(Nguyễn Nam Ninh dịch)

Cách đều bình phong 2,6m về hai bên có hai cột trụ cao 4m, trên đỉnh đắp tượng hạc đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn hình chữ nhật với kích thước 15,4m x 14m, qua sân lớn đến nhà thờ được thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc truyền thống ở Bình Ðịnh. Khám thờ bên trong có bài vị của Ðào Tá Hán , Nguyễn Thị Minh(1) (thân phụ và thân Mẫu của Ðào Duy Từ), Ðào Duy Từ và vợ. Trên bài vị Ðào Duy Từ có dòng chữ “ô Thủy tổ khảo nội tán Lộc khê hầu Ðào Công, tặng Khai Quốc công thần, đặc tiến Vinh lộc đại phu, Ðông các đại học sĩ, Thái sư, nhưng thủy Trung Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ” Bài vị của vợ Ðào Duy Từ viết “ô Thủy tổ tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong nhà thờ còn có đôi câu đối nhưng nay đã sứt mòn, mờ không đọc được.

Sách Đại nam Nhất Thống chí và đồng khánh dư địa chí đều chép đền thờ Hoàng Quốc Công Ðào Duy Từ ở thôn Cự Tài, huyện Bồng Sơn (nay là Hoài Nhơn). Trong chiến ranh nhà thờ này đã bị sụp đổ. Năm 1978 dòng họ Ðào xin kinh phí tỉnh Nghĩa Bình để xây dựng lại đền thờ trên nền cũ, hiện chỉ còn lại hai trụ cổng và tấm đại tự cũng đề “Quốc công từ môn” (giống như nhà thờ ở thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây) là dấu tích kiến trúc năm Tự Ðức thứ 32 (1880) và lần trùng tu năm Khải Ðịnh thứ 1 (1861). Trong đền thờ khám thờ là bài vị Ðào Duy Từ cũng ghi giống như bài vị bên nhà thờ thôn Ngọc Sơn.

Ngoài ra, tại thôn Ngọc Sơn còn có lăng Ðào Tá Hán. Truyền rằng khi đã làm quan ở Thuận Hóa, Ðào Duy từ cho đắp mộ phụ thân rồi tung tin rằng đã đưa hài cốt cha mẹ vào đây, phòng việc trả thù của họ Trịnh ở Ðàng Ngoài. Lăng mộ nằm trên một quả đồi rộng. Cũng tại Ngọc Sơn hiệân có một ngôi chùa nhỏ, tương truyền là nơi đi tu của bà vợ cả họ Ðào.

Những di tích kể trên, theo đơn vị hành chính hiện nay, nằm ở các thôn, xã khác nhau (lăng mộ Ðào Duy Từ tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, nhà thờ và lăng mộ Ðào Tá Hán tại thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây và nhà thờ ở thôn Cự Tài, xã Hoài Phú ) nhưng tất cả vốn đều thuộc vùng đất của trại Tùng Châu xưa. Ðây là những xã thôn mà hiện nay con cháu Ðào Duy Từ còn rất đông đảo, đặc biệt là ở thôn Cự Tài.

Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 (âm lịch) là ngày giỗ Ðào Duy Từ, con cháu họ Ðào tổ chức cúng tế rất long trọng. Theo quy ước, cứ vào dịp này con cháu dòng tộc điều nghỉ việc đồng áng trong ba ngày. Sau khi làm lễ thắp hương tại lăng mộ Ðào Duy Từ (thôn Phụng Du) con cháu về họp mặt và dâng hương tại đền thờ cha mẹ và vợ chồng Ðào Duy Từ ở thôn Ngọc Sơn rồi sau đó mới trở về tế lễ chính thức tại đền thờ Ðào Duy Từ ở thôn Cự Tài. Ngoài ngày giỗ chính (17 tháng 10), hàng năm tại các di tích trên còn có 5 ngày lễ phụ vào dịp Ðông chí, Chạp mả, Thanh minh, Trung thu và Tết Nguyên Ðán. Ngày giỗ Ðào Duy Từ cũng là ngày con cháu phối hợp cúng tế thân phụ và thân mẫu cùng vợ của ông. Duy bà vợ cả còn có ngày riêng là 12 tháng 2 âm lịch tại chùa tu của bà ở thôn Tài Lương. Giỗ bà hằng năm (gọi là tiểu chẩn cúng chay), cứ mười năm (gọi là trung chẩn), lễ vật có thêm đôi chim sống, một đôi gà sống, cúng xong thả chim gà ra, con cháu thi nhau đuổi bắt, cứ 30 năm (đại chẩn) mới làm cỗ mặn.

Báo Bình Ðịnh có giới thiệu đền thờ Ðào Duy Từ ở làng Lạc Giao thành phố Buôn Mê Thuột: “Ðình Lạc Giao phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, được lập năm 1929, là ngôi đình làng đầu tiên của những người Việt (Kinh) từ đồng bằng lên đây lập nghiệp, thờ vị thành hoàng làng là Ðào Duy Từ.

Ngôi đình ban đầu làm bằng tranh tre, năm 1932, ngôi đình được xây dựng lại bằng gạch lợp ngói theo hình chữ Môn, gồm có nhà thờ Thần Hoàng và những người có công với nước, hai nhà tả hữu hai bên dùng làm nơi hội họp mỗi khi tế lễ, phía trước có cổng tam quan đi vào, sau cổng có bức bình phong có chạm khắc hổ phù, sau nữa là một lư hương lớn. Làng Lạc Giao hình thành bắt đầu từ những người bị tù lưu đày xa xứ, rồi những dân phiêu bạt từ các vùng đất miền Trung nghèo khó tìm nơi lập nghiệp sinh sống, những công chức, thầy giáo, binh lính được bổ nhiệm lên vùng đất xa xôi này. Ban đầu chỉ dăm nóc nhà dọc theo con đường suối Ea Tam, xóm người Việt ấy được gọi là thôn Nam Bang. Họ làm rẫy dọc theo khu rừng già ven suối, bên cạnh một buôn của Ama Thuột. Năm 1924, họ gọi xóm người Việt di cư đến là Lạc Giao với ý nghĩa: Lạc là con Lạc cháu Hồng, Giao nghĩa là nơi bang giao Kinh – Thượng. Tên gọi Lạc Giao là lời nguyền giao ước an cư lạc nghiệp của đồng bào Kinh- Thượng, cùng chung lưng đấu cật xây dựng vùng đất mới.

Năm 1925, làng Lạc Giao được mở rộng bao trùm cả một khu vực rộng lớn ở ngay trung tâm Buôn Ma Thuột. Tài liệu của đình Lạc Giao ghi: ông Phan Hộ, người Quảng Nam, vào Ninh Hoà (Khánh Hòa) sinh sống. Thuở ấy, lên cao nguyên Dak Lak chưa có đường, ông Phan Hộ cùng một số trai tráng đi bằng voi, ngựa xuyên rừng vài tháng mới tới vùng M’Drak rồi đến Buôn Ma Thuột trao đổi hàng hoá với người Ê Ðê, thấy người dân ở đây giàu lòng mến khách, đất đai màu mỡ lại dễ làm ăn, nên ông vận động nhiều gia đình lên đây sinh sống, khai hoang lập làng. Nỗi nhớ thương quê nhà bản quán khôn nguôi khiến họ thường tìm nhau gặp gỡ, trao đổi công việc làm ăn. Ðể có nơi cúng kiếng ông bà tổ tiên, nhắc chuyện quê hương làng xóm, họ đã góp tiền của công sức dựng nên ngôi đình ngôi đình Lạc Giao cho thỏa lòng mong ước. Ðình Lạc Giao ra đời ghi dấu bước chân của người Việt trên mảnh đất cao nguyên, là nơi mọi người cầu mong sức khoẻ và làm ăn phát đạt, nơi thờ các vị tiền hiền và người có công với đất nước, nơi sinh hoạt trong những ngày lễ tết của cư dân Việt trên vùng đất mới.

Năm 1932, vua Bảo Ðại ra chiếu sắc phong cho Thành hoàng của làng là Ðào Duy Từ, khẳng định đây là đất của “Hoàng triều cương thổ”.

Ðúc kết, chúng ta thấy cuộc đời của Ðào Duy Từ trải qua bao thăng trầm, biến thiên ẩn dật, cứ như chuyện giai thoại thần tiên mà một người bình thường dù tài trí mấy cũng khó vượt qua. Một bậc danh nhân toàn tài như Ðào Duy Từ, đã cống hiến toàn lực cho công cuộc mở nước về phương Nam, đáng được các vua Triều Nguyễn tôn vinh, nhân dân tôn thờ. Một bài học “Hữu xạ tự nhiên hương” không phải nhọc công hò hét kêu gọi, ép buộc người khác sùng bái bằng xảo ngôn bất chính, tuy đắc thế một thời nhưng muôn đời sau sẽ bị nguyền rủa.

Trần Công Nhung

__________________________________

(1). Về tên mẹ của Ðào Duy Từ, có tài liệu nói bà là Nguyễn Thị Minh sau đổi ra Vũ Thị Kim Chi để Ðào Duy Từ cãi sang họ mẹ là Vũ Duy Từ. Nhưng lại có tài liệu nói Vợ của Ðào Tá Hán (cha Ðào Duy Từ) là Vũ Thị Kim Chi, con gái tiên chỉ Vũ Ðàm. Trong thời gian Ðào Tá Hán đi hát Vũ Ðàm đã gả con gái cho. Cuộc đời Ðào Duy Từ lúc còn bé đi học, lớn đi thi, đổi họ, lưu lạc vào Nam…v.v rất phức tạp. Nhất là thời gian ông ẩn dật cho đến năm 53 tuổi mới gặp chúa Nguyễn, nhiều người cho là không đúng. Bởi thế những sự khiện này có người đưa vào dạng “giai thoại”.

 

543-h4 543-h2 543-h3

Tin tức khác...