Danh nhân tuổi Hợi

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Người Việt Nam tin rằng mỗi người sinh ra đều cầm tinh một con vật, cùng năm tháng ngày giờ do các ngôi sao trên trời cao dẫn dắt, phối hợp giữa Thiên Can, Địa Chi quyết định mọi thọ yểu, sướng khổ, thành bại. “Linh tại ngã bất linh tại ngã”. Nếu tin như thế thì cứ thế mà chấp nhận. Còn đã không tin thì cứ “quậy”. Các bậc Bốc Phệ Đại Sư nếu không muốn ế khách thì có sẵn câu của Thánh Hiền đỡ đòn là “Đức năng thắng số”.
Năm nay năm Hợi, có tháng Hợi ngày Hợi, giờ Hợi. Những trẻ nào sinh năm nay sẽ ham ăn chóng lớn, sẽ thành danh như quý danh nhân tuổi Hợi có trong lịch sử Việt nam.
Vậy, danh nhân tuổi Hợi là những ai ?

Tuổi Ất Hợi
1. Đinh Nhật Thận (1815 – 1886)
Tự Tử Úy, hiệu Bạch Mao Am. Quê quán: Xã Thanh Liêm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đậu Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838, Minh Mạng thứ 19) lúc 24 tuổi.
Tính ông cương trực, ra làm quan mới ở chức Tri phủ (Tương đương với chức Quận Trưởng thời VNCH nay là Chủ Tịch huyện lớn) thì bị “Can nghị” phải về. Mãi đến năm 1833 (Thiệu Trị thứ 3) mới được phục chức; nhưng ông lại cáo bệnh không ra làm quan nữa. Ông lập ấp là đất của hai làng Thanh Liêm và Tiên Hội gọi là ấp Gia Hội rồi mộ dân đến khai khẩn đất đai. Thiết lập trường ngay tại ấp để dạy con em trong vùng, nghiên cứu y học để chữa trị bệnh cho bà con gần xa.
Thời thường, Quan Nghè Đinh thích ngao du sơn thủy, ưa kết giao với Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh… Ở nhà thì vùi đầu vào sách vở. Sách đã qua mắt quan Nghè là không quên một chữ nhỏ. Ngày ở kinh đô Phú Xuân có người đã thử tài nhớ dai của ông bằng cách đưa một cuốn sách cho ông đọc rồi sau đó hỏi lại. Ngay ngày hôm sau ông trả lại sách và trả lời vanh vách các câu hỏi nên ai cũng phục trí nhớ dai và thông minh của ông.
Sau ngày Cao bá Quát “. . . Xây bạch ốc lại lâu đài” thất bại và bị hại cả gia tộc, Đinh Nhật Thận là bạn thân của họ Cao nên cũng bị khép vào tội tử hình. Ông bị bắt và giải về Kinh. May nhờ vào tài y học của mình, Đinh Nhật Thận đã cứu kịp bệnh cho mẹ một quan lớn và cũng nhờ Vua Tự Đức mến tài nên được ân xá nhưng chỉ định phải cư trú tại Huế để dạy cho những người trong Hoàng tộc học.
2. Phan Văn Trường (1875 – 1921) Tiến sĩ Luật học, Trạng sư, Nhà báo
Nguyên quán Hà Nội, du học tại Pháp đỗ Cử Nhân Văn chương và Tiến sĩ Luật khoa. Hoạt động chính trị chống thực dân Pháp ngay tại Paris với Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền… rồi cũng bị bắt giam.
Về nước ông làm Luật sư tại Saigon và viết báo, chủ trương tờ “L’Annam” nhằm mục đích thức tỉnh đồng bào, đồng thời nâng cao dân trí và tranh thủ dân quyền. Phan Văn Trường là chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, một tay viết báo có đặc tài thời cận đại. Ông còn là nhà hùng biện tại tòa các phiên Thượng thẩm đại hình.
3. Phan Kế Bính (1875 – 1921) Học giả, Nhà văn, Nhà báo
Sinh quán làng Thụy Khuê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Ông đỗ Cử nhân Nho học năm 1906 và cũng tinh thông cả Pháp văn nữa.
Bưu Văn Phan Kế Bính học nhiều biết rộng nên đã dùng phương pháp mới để nghiên cứu văn chương phong tục nước nhà. Do đó ông đã có công lớn trong việc xây dựng nên Quốc văn trong buổi Quốc ngữ hóa bằng những bài nghiên cứu đăng tải trên các: Đăng Cổ Tùng Báo, Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn và Học Báo.
Văn phẩm của Phan Kế Bính:
a/ Trước tác: Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện (1909),Hưng Đạo Đại Vương Truyện (1912),Việt Nam Phong Tục (1915), Việt Hán văn Khảo (1918)
b/ Dịch thuật: Tam Quốc Chí (1907), Đại Nam Nhất Thống Chí (1916), Việt Nam Khai Quốc Chí (1917), Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (1918), Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên (1919), Mặc Tử Cổ Văn Chiến Quốc, Tình…
4. Lê Đại (1875 – 1951) Chí sĩ cách mạng
Chưa thấy sách vở nào ghi nguyên quán hay sinh quán của ông. Chỉ thấy ông hoạt động tại Hà Nội rồi đi tù, ra tù lại sống tại Hà nội cho đến cuối đời.
Lê Đại lấy hiệu là Từ Long và Mộng Lam. Ông có tài làm thơ Nôm, tham gia hoạt động Đông Kinh Nghĩa Thục, giúp việc trong ban Tu Thư và đã dịch ra Quốc ngữ danh tác Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu ra thể song thất lục bát để phổ biến cho quốc dân đồng bào được nhiều tán thưởng.
Đông Kinh Nghĩa Thục gây bất lợi cho Chính Quyền Bảo Hộ nên bị đóng cửa. Hầu hết các nhà Cách Mạng trong Nghĩa Thục bị bắt. Lê Đại vì có tài thơ văn đã bị thực dân Pháp buộc vào tội là đồ đảng của Hoàng Hoa Thám và dự vào cuộc âm mưu đầu độc ở Hà Nội nên lãnh án 15 năm tù khổ sai, đầy ra Côn Đảo.
Mãn hạn tù, Lê Đại về mở hàng viết câu đối thuê, làm văn mướn để độ nhật cho đến khi qua đời.

Tuổi Đinh Hợi

1. Nguyễn Thông (1828 – 1884) Danh sĩ dưới triều Tự Đức.
Tự Hi Thần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am người làng Kỳ Sơn, huyện Tân Thạnh, tỉnh Gia Định. Nay vùng này thuộc tỉnh Long An.
Nguyễn Thông là con nhà nghèo nhưng hiếu học,. nhờ trong họ ngoài làng chu cấp cho mới đủ phương tiện sôi kinh nấu sử. Năm 23 tuổi dự thi Hương đậu ngay Cử Nhân (1850, năm Tự Đức thứ 2). Đến khi ra Huế thi Hội, không may làm mực rây vào quyển thi, bị đánh hỏng.
Thân danh là Cử nhân mà cảnh nhà cùng quẫn quá, ông đành ra nhận chức Huấn Đạo huyện Phong Phú, tỉnh An Giang. Ít lâu sau đổi ra Huế, thăng lên chức Hàn Lâm Tu Soạn.
Khi Pháp đánh Gia Định (1859), ông hăng hái xin tòng quân, được Thống Đốc Tôn Thất Hợp giao cho coi việc quân cơ. Quân ta bại, triều đình cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ giao cho Pháp, ông được giải ngũ, bổ làm Đốc Học tỉnh Vĩnh Long. Ở chức Học quan đứng đầu một tỉnh trọng yếu về chiến lược ở miền Tây Nam Kỳ, Nguyễn Thông qui tụ được nhiều hào kiệt anh hùng để giúp triều đình chống quân xâm lược. Rồi 3 tỉnh miền Tây này cũng lọt vào tay giặc. Quá chán nản ông lánh ra Bình Thuận rồi tự đi thám sát cả vùng rừng núi Cao nguyên Nam Trung Kỳ để lập chiến khu. Nguyễn Thông thấy Đà Lạt trước cả Yersin. Thấy Vua Tự Đức lơ là việc mất còn của đất nước, Nguyễn Thông dâng sớ điều trần bốn việc:
•Kén người tài ra giúp nước
•Cải cách võ bị để phòng thủ đất nước.
•Sửa thuế má và bớt chi phí xây Lăng
•Khoan hồng những tội lỗi của dân
Sớ không được Vua và đình thần lưu ý mà còn gây họa cho bản thân: Mấy lần bị giáng chức, có lần bị cách tuột rồi bị tù bị đánh đòn đến ói ra máu.
Nguyễn Thông văn hay chữ tốt ông còn để lại cho đời: Độn Am Văn Tập, Kỳ Xuyên Công Độc bằng chữ Nho và nhiều bài thơ lẻ ở những vùng đất ông đã đi qua.
Ngày 10/01/1861, Pháp tấn công đồn Phú Thọ, Nguyễn Duy là em ruột Nguyễn Tri Phương, bấy giờ là Tán Lý Quân Vụ Định Biên bị tử trận, xác bị bắn nát nằm chung với lính. Sau nhờ có người lính hầu sống sót nhận ra được một tí dấu cái áo ông mặc lúc đứng chỉ huy để đem đi mai táng.
2. Phan Khôi (1887 – 1960)
Thi sĩ sinh quán làng Bảo An, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Phan Khôi nổi tiếng với bài thơ “Thể Thơ Mới” là bài Tình Già và tai tiếng qua những bài báo luận về Thơ Cũ Thơ Mới gây ra cuộc bút chiến với Tản Đà. Ông đậu Tú Tài Nho Học năm 1905 năm 18 tuổi. Năm 1907 ông ra Hà Nội tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục viết báo cho tờ Đăng Cổ Tùng Báo của Phong trào này.
Khi tờ báo bị cấm và phong trào bị khủng bố, Ông trở về Quảng Nam hoạt động trong phong trào Văn Thân. Trong cuộc biểu tình chống sưu cao thuế nặng năm 1908, ông bị bắt giam tại nhà lao Quảng Nam, đầu năm 1914 mới được tha.
Phan Khôi đồng thời với các nhà cách mạng lớn nhưng sinh sau đẻ muộn, thành danh cũng muộn, bằng cấp cũng không lớn nên tuổi còn phương cương cũng muốn đội đá vá trời. Vá không nổi nữa thì cũng đành “đắp tai ngoảnh mặt” để sống bằng nghề viết báo ở Bắc Trung Nam.
Tại Hà nội là các tờ: Nam Phong tạp chí, Thực nghiệp Dân báo, Hữu Thanh, Đông Tây, Phụ Nữ Thời đàm.
Tại Sài gòn là tờ Phụ Nữ Tân Văn.
Tại Huế là tờ Tràng An. Năm 1936, Phan Khôi còn tự ra tờ Sông Hương, năm 1939 báo chết, ông lại vào Nam dạy học và viết tiểu thuyết.
3.BÙI KỶ (1887 – 1960) Nhà Giáo dục, Nhà Biên khảo.
Sinh quán ở một tỉnh Bắc Trung Việt, Bùi Kỷ đậu Phó Bảng khoa thi Hội cuối cùng của Triều đình Huế.
Phó bảng Bùi Kỷ không ra làm quan ngạch Nam Triều. Ông cộng tác với Chính phủ Bảo hộ trong ngành học chánh và viết sách biên khảo chung với Trần Trọng Kim. Đáng kể nhất là cuốn Văn phạm Việt Nam khi toàn thể quốc dân không còn coi Quốc ngữ là loại chữ nôm na mách qué. Cuốn Văn Phạm Việt Nam đầu tiên đó trở thành kim chỉ nam cho việc học đọc học viết có mẹo luật rõ ràng.
Tác phẩm riêng của Bùi Kỷ gồm có:
•Quốc văn cụ thể gồm 4 thiên nói về:
(1)Nho văn quen gọi Hán văn
(2)Quốc văn quen gọi Việt văn
(3)Việt Nho quen gọi Hán Việt
(4)Văn pháp (phép tắc trong Quốc văn)
Ngoài việc dậy học và soạn sách, Phó bảng còn viết nhiều bài đăng trên các báo Trung Bắc Tân Văn và Nam Phong Tạp Chí. Ông còn dịch cả Tam Quốc Chí của Tàu ra Quốc văn nhưng không phổ biến rộng rãi.
Tuổi Kỷ Hợi
Vi Huyền Đắc (1899 – 1976) Kịch tác gia
Vi Huyền Đắc là kịch tác gia đầu tiên tại Việt Nam với hai vở Uyên Ương và Kim Tiền từ thời tiền chiến.
Năm 1954 di cư vào Nam, ông vẫn sáng tác kịch bản nhưng ít phổ biến vì phong khí miền Nam chưa quen với kịch để so sánh và suy nghĩ.
Là kịch tác gia hàng đầu nhưng Vi huyền Đắc phải kiếm sống bằng nghề Dịch thuật và viết báo. Năm 1976, ông ra Hà nội thăm con trai làm nghề bác sĩ rồi mất tại đó.

Tuổi Tân Hợi
1.Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585)
Tự: Hạnh Phủ, hiệu Bạch Vân Cư Sĩ. Tục gọi Trạng Trình, Cao sĩ đời Mạc.
Quán làng Trung Am, huyện Vĩnh Lai, (có thời đổi là Cổ Am, Phủ Vĩnh Bảo) tỉnh Hải Dương.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là quí tử của Thái Học Sinh Tiến sĩ Nguyễn Văn Định, chức tước là Thái Bảo Nghiêm Quận Công. Ông đỗ Trạng Nguyên năm Ất Mùi (1535 thời Mạc Đăng Doanh niên hiệu Đại Chính thứ 6), làm quan mới có 8 năm, chức mới là Lại Bộ Tả Thị Lang thì xin về hưu non. Vì cớ đã dâng sớ lên Vua nhà Mạc đàn hạch 18 tên lộng thần phản dân hại nước. Vua chấp sớ nhưng không cho thi hành.
Mãi đến đời Vua sau là Mạc Phúc Hải (năm Nhâm dần 1542 niên hiệu Quảng Hòa thứ 2), Ông được thăng Lại Bộ Thượng Thư, tước Trình Quốc Công rồi cho về trí sĩ. Trạng Trình về sinh quán lập Bạch Vân Am rồi thiết trường dậy học.
Ngoài việc uyên thâm về Nho học, Trạng Trình còn tinh thông về Dịch lý, biết rõ các việc vị lai, do đó thiên hạ tin các lời ông nói là lời sấm cả. Căn cứ vào ba việc lớn của đất nước:
(1) Họ Mạc nên “thủ hiểm ở đất Cao Bằng mà duy trì hương lửa cho dòng giống”
(2) Họ: “Giữ Chùa thờ Phật thì được ăn oản”
(3) Họ Nguyễn “ Hoành sơn nhất đái – Vạn đại dung thân”
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đại Nho gia nhất định phải có nhiều thơ phú nhưng chiến tranh Trịnh Mạc rồi tương đấu Trịnh nguyễn, rồi Tây Sơn ra Bắc, Tây Sơn đánh đuổi giặc Tàu Mãn Thanh nên tác phẩm của ông cũng bị mai một, chỉ còn mỗi tập Bạch Vân Quốc Ngữ thi.
2. Lê Anh Tuấn (1671 – 1736) Danh thần thời Hậu Lê
Người xã Thanh Mai, huyện Tuyên Phong, tỉnh Sơn Tây. Đỗ Tiến Sĩ khoa Giáp Tuất (1694, Lê Hy Tôn, Chánh Hòa thứ 15), bạn đồng liêu với Nguyễn công Hãn. Tiến sĩ Lê Anh Tuấn giúp các đời Trịnh Căn (1862 – 1701), Trịnh Cương (1709 – 1729) rất đắc lực. Đến đời Chúa Trịnh Giang (1729 – 1740) ông bị hại vì nhà Chúa không thích cải cách Chính Sự mà ông thì cứ nay tâu mai trình.
Tiến sĩ Lê Anh Tuấn có biệt tài về văn chương và chính trị nên đương thời có câu khen tặng:
Văn chương Lê Anh Tuấn
Chính sự Nhữ Đình Hiển
Tác giả Công Dư Tiệp ký là Vũ Phương Đề có viết kỹ về nhân vật tuổi Hợi: Tiến sĩ Lê Anh Tuấn phải phục vụ một đất nước có Cung Vua Phủ Chúa. Chỉ cần bị nghi ngờ một chút là đã có thể bắt tự tử.

Tuổi Quý Hợi
1.Nguyễn Huy Tự (1743 – 1790 )
Tự Hữu Trí, hiệu Uẩn Trai, tiểu húy Yên
Nguyễn Huy Tự là trưởng nam của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh người làng Lai Thạch, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Học giỏi, đỗ Cử nhân năm 17 tuổi (1759). Năm Cảnh Hưng thứ 29 (1768 ) thụ nhậm Tri Phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Năm 1770 thăng Hiến Sát Phó Sứ Sơn Nam.
Năm Nguyễn Huy Tự được 32 tuổi (1774 Cảnh Hưng thứ 35), ông xin cải sang Võ chức và đã tỏ ra là một võ tướng tài trí đởm lược từng dẹp yên giặc giã tại các vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa.
Năm 40 tuổi (1782 Cảnh Hưng thứ 43) ông lãnh chức Hiến sát Sứ Sơn Tây. Năm sau cải bổ Đốc Đồng Sơn Tây, được ân thăng Hàn Lâm Viện Hiệu Lý.
Việc phế lập tại Phủ Chúa Trịnh gây ra loạn kiêu binh, nhân nhạc mẫu ông thất lộc, ông xin về cư tang rồi cùng với thân phụ mở trường dạy học.
Năm Canh Tuất (1790) nhà Lê mất, vua Quang Trung vời ông vào Phú Xuân, bổ chức Hữu thị Lang nhưng chẳng được bao lâu, vào ngày 27/07 cùng năm ấy, ông thọ bệnh rồi mất khi mới 48 tuổi.
Nguyễn Huy Tự là tác giả Hoa Tiên Truyện, một áng danh văn gần 2000 câu lục bát mang ý hướng khuyên răn người đời về các điều trung hiếu tiết nghĩa.
Đông Sơn sưu tầm

Tài liệu tham khảo
1.Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm
2.Việt Nam Danh Nhân Tự Điển của Nguyễn Huyền Anh
3.Tự Điển Việt Nam – Phần Nhân danh của Lê văn Đức và Lê ngọc Trụ
4.Việt Nam Sử Lược của Trần trọng Kim
5.Giai Thoại Làng Nho của Lãng Nhân

Tin tức khác...