Cù Lao Chàm

Bài – ảnh Trần Công Nhung
Bảy giờ sáng tôi ra khỏi khách sạn lên bến chợ để hỏi tàu đi Cù Lao Chàm (*). Phòng tiếp tân cho biết có hai cách, hoặc mua vé theo Tours, hoặc đi tàu chợ. Tôi chọn cách thứ hai, tự do hơn.

Bến chợ Hội An sáng sớm tấp nập lạ thường. Không chỉ người mua kẻ bán lên bến xuống thuyền, mà khách đi công kia việc nọ cũng đông. Họ từ miệt Kim Bồng xuống, những chiếc ghe lớn, chuyến nào cũng đầy, đặc biệt các nữ sinh trong tà áo dài trắng, tạo cho quang cảnh bến thuyền nhẹ phần nào sắc màu lao độâng mộc mạc quê mùa.
Tôi gọi ly café, ngồi hỏi chuyện anh chủ quán:

– Mấy giờ có tàu ra Cù Lao hả anh?
– Thường là 8 giờ rưỡi.
– Lâu mau tới nơi?
– Chừng 10 giờ. 12 giờ vô lại.
Tôi lẩm nhẩm “Hai tiếng đồng hồ dư sức xem đảo”, nếu ở lại cả buổi biết làm gì, trời nắng chang chang, lanh quanh trên đảo, có chi vui. Tôi hình dung cù lao không lớn, vài ba xóm nhà như hòn Tằm, bãi Trủ (Nha Trang) thôi. Nhưng không đi thì lại mơ hồ. Nhìn quanh vẫn chưa thấy tàu nào, anh bán nước chỉ chiếc ghe lớn neo giữa sông phía ngoài xa.

Tám giờ, chiếc tàu từ từ vào bến, bạn hàng, con buôn, hối hả đưa hàng hóa lên tàu, từng bao từng bị, có cả gỗ ván, tôn lợp nhà. Cồng kềnh lích kích là những chiếc xe máy, xe đạp…Không thấy ai mua vé, tôi cũng theo mọi người lên ghe, lẩn trong đám đông có hai thanh niên người Âu.

Tàu hai tầng, tầng dưới chứa hàng, tầng trên có mái che, có ghế khách ngồi, chung quanh để trống, tha hồ ngắm cảnh. Năm phút nữa tàu rời bến, một vài người còn tất tả tuôn đồ lên tàu, kêu la ơi ới. Tôi chọn chiếc ghế ngoài rìa và hàng sau cùng. Một nửa sàn phía sau để trống, ai không ngồi ghế hay không có ghế ngồi đã có chiếu của nhà ghe.
Tàu từ từ quay chạy về hướng Tây chứ không ra cửa như tôi nghĩ. Hỏi mới biết, phải chạy vòng qua nhánh chính của sông Thu Bồn, phía sông Hoài nước cạn không ra cửa được. Bên hữu ngạn của nhánh sông chính có làng mộc Kim Bồng, nơi cung cấp đồ gỗ cho Hội An xưa nay. Dọc theo dòng sông vô số rớ cá nối tiếp nhau, những tấm lưới vàng óng màu tơ tằm đang kéo lên nghỉ. Có lẽ luồng nước sâu nhiều cá nên bao nhiêu lưới đều tập trung về đây, tạo cho con sông vẻ đẹp linh động và màu sắc hơn. Tôi thích thú chụp nhiều ảnh loại lưới cá ít khi gặp. Hai anh Tây cũng chụp. Cứ rà theo góc độ từ vị trí con tàu thì chụp không chán mắt. Ấy thế nhưng những người di chuyển hàng ngày thì lại thờ ơ, có khi còn cho chúng tôi ngớ ngẩn, không chụp người lại chụp linh tinh.

Tàu chạy chừng nửa tiếng thì ghé vào bến đồn biên phòng trình giấy, đây cũng là nơi đón khách đi đảo, rất đông người chờ sẵn để lên tàu. Toàn khách đi chơi chứ không buôn bán nên không có cảnh chen lấn lộn xộn.
Bây giờ tàu ra khỏi cửa, chạy thẳng về hướng Ðông, biển êm, trời nắng ít gió. Ðã có người trải chiếu nằm lăn ra sàn tàu, muốn đi lại thật bất tiện. Người mình có thói quen đi xe tàu hay ưa chiếm chỗ. Người khác phải đứng, họ lại nằm hay để đồ đạc lên ghế. Trong đời sống thiếu thốn, ai cũng ít nhiều suy tính theo lối ích kỷ, dù chỉ trong chốc lát.

Sau chừng tiếng đồng hồ, đã thấy nhiều đảo rải rác đó đây. Hòn Một, hòn Dài và chẳng mấy chốc Cù Lao Chàm đã hiện ra trước mặt. Ðảo không dài lắm, mấy chòm nhà dọc theo bãi, đầu phía bắc của đảo, trên cao có một hai tòa nhà xây, ghe thuyền vài chục chiếc…đa phần ghe câu. Tàu cập bến, lại cảnh chen nhau, lên xuống đều khó, vì không có lối đi rõ ràng, ai tiện đâu bước đó, va chạm nhau liệu mà tránh, chẳng ai chấp chuyện lỗi phải.
Mới 10 giờ mà nắng ghê. Tôi đi một vòng qua làng chài theo con đường xi măng nhỏ chạy dọc bãi biển. Nhiều thuyền thúng (thúng chai) phơi dài dài, có cái kéo hẳn lên đường. Hầu hết là nhà xây nhưng có vẻ nghèo, đa số buôn bán lặt vặt kiểu trong xóm làng, không mấy người qua lại. Một ngôi chợ thụt vào trong cách bãi vài trăm mét. Tới một đoạn, có lăng Ngư Ông nhỏ như miễu làng, cửa tôn đóng kín. Dân chúng lợi dụng sân Lăng phơi đủ thứ linh tinh, không còn là nơi tôn kính nữa.

Tuy nhiên vẫn có một bảng thông tin của Trung tâm bảo tồn di tích Hội An treo trên cửa, nội dung:
Lăng Ngư Ông

Người dân biển Cù Lao Chàm tôn thờ Cá Ông trong tinh thần trân trọng, biết ơn bởi tương truyền họ luôn được Cá Ông cứu giúp khi gặp hoạn nạn trên biển. Nhà nước phong kiến xưa đã nhiều lần sắc phong và gia tặng các mỹ tự với ý nghĩa tôn vinh, đồng thời cho lập Lăng thờ, cấp đất hương hỏa tạo điều kiện thuận lợi cho việc thờ cúng của ngư dân. Lăng Ông được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 nằm giữa khu dân cư, lưng quay vào núi, mặt nhìn ra biển theo hướng Tây Nam. Lăng kiến tạo theo kiến trúc truyền thống với kiểu mái cuốn vòm thấp, sau có hậu tẩm, phù hợp với vùng đất này vốn nhiều bão gió. Mái lợp ngói âm dương, trên các bờ mái trang trí đề tài tứ linh, chim phượng, qui thư. Trước sân có bình phong đắp tượng Thần Ngư hí nguyệt. Nội thất gồm hai nếp ba gian. Gian giữa gắn liền với hậu tẩm, là nơi đặt các hòm xương Cá Ông. Trước hậu tẩm có án thờ bằng gạch. Hai gian bên là nơi thờ tả hữu ban và các vị thần phò tá. Ðây là di tích không những phản ánh tín ngưỡng của cư dân làm nghề biển mà còn cho thấy sự phong phú về sắc thái văn hóa của nhân dân vùng đảo Cù Lao Chàm.

Tôi tiếp tục “tham quan” đảo, xem có quán hàng hải sản để ghé nghỉ chân, nhưng chẳng thấy. Gặp một người đàn ông đánh trần ngồi trước ngưỡng cửa, tôi hỏi:
– Quanh đây có ai bán sò ốc anh chỉ giùm.
– Mời vào đây, chờ chút có người mua cho.
Tôi bước vào, nhà chẳng có vẻ gì buôn bán, anh bảo chờ chị vợ về đi lấy hộ. Lợi dụng thời gian chờ đợi tôi hỏi thăm:
– Anh sinh sống trên đảo từ hồi nào?
– Từ 1960 ông bà già ra lánh nạn rồi con cái lập nghiệp luôn đây.
– Sao lại lánh nạn?
– Bị hồi đó trong đất liền mấy ổng hoạt động mất an ninh, hai là trốn lính.
– Dân trên đảo có đông không?
– Khoảng 3000.
– Người ta nói ngoài Hòn Lao là đảo đông dân nhất, anh biết còn những hòn nào nữa?
– Còn 6 hòn nữa quanh đây như: Hòn Khô mẹ, khô Con, Hòn Tai, Hòn Dài, Hòn Lá, Hòn Mồ.
– Trên đảo có di tích gì lâu đời không anh?
– Có chùa Hải Tạng đã mấy trăm năm và miếu thờ Thần Yến Sào, Lăng Ngư Ông.
– Tôi vừa chụp ảnh Lăng, nhưng dường như không ai chăm sóc, chung quanh nhà ở không giữ vệ sinh. Ở đây học sinh học thế nào?
– Trường có cấp hai, hết cấp hai ai muốn học thì vô Hội An.
– Ngoài này cũng có điện?
– Dạ điện do xã cung cấp, chỉ đến 10 giờ đêm. Nước thì cũng do xã dẫn từ trên núi xuống.
Ðợi mãi không thấy gì, tôi cáo lỗi đi chụp thêm ít ảnh. Bãi cát đẹp mà vắng người. Có lẽ du khách ít nên không thấy ai tắm. Dân địa phuơng thì còn lạ gì chuyện tắm biển.Trên bãi nhiều thuyền thúng, ngoài xa ghe thuyền xếp lớp, xa nữa một mỏm đá trắng ngà, một bức ảnh đẹp. Ði đảo ở miền Trung không như Vịnh Hạ Long, không hang động, không chuyển từ đảo này sang đảo kia, chỉ loanh quanh xóm chài tìm một vài hình ảnh về đời sống dân lao động, cảnh trời nước ghe thuyền. Giản dị chất phác.

Lần về phía chợ, có nhà hàng Ngân Hà nằm ngay đầu đường, bảng thực đơn kẽ sơn dựng phía trước, đủ các món hải sản. Một vài món nghe lạ: Ốc Vú nàng, Vú xao, Cua núi…Vú nàng là loại ốc hiếm và ngon đặc biệt, tôi đã nếm thử nhiều năm trước đây. Tôi hỏi chủ quán Vú nàng bán thế nào, anh cho biết: Dĩa 20, 30, 40 (nghìn đồng). Tôi gọi 1 dĩa 20 chục. Chỉ mấy phút dĩa ốc đặt lên bàn. Thoạt trông tôi hơi nghi, Vú nàng sao có hai vỏ tách ra như sò. Nhưng vì lâu ngày quá không còn nhớ để mô tả, hơn nữa đồ biển dĩa 20 thì ốc gì cũng rẻ. Ăn vào thấy đúng là một loại sò chứ chẳng phải vú vế gì. Hai anh Tây đi chung tàu cũng bước vào, nghe tiếng, tôi biết họ người Pháp. Một người hỏi tôi bằng tiếng Anh: “Ðấy là món gì?” Tôi không biết Vú nàng nói thế nào, nên bảo là một loại ốc đặc biệt ngon và rẻ, chỉ hơn 1USD một dĩa. Hai chàng cũng gọi một dĩa nhậu bia.
Xong dĩa Vú nàng, thấy còn lưng bụng, tôi gọi thêm dĩa mì xào, hai anh Tây lại hỏi giá, người chủ bảo 30 ngàn. Họ lắc đầu. Chủ nhà hàng còn nhờ tôi nói với hai anh Tây phòng cho thuê 100 nghìn, mời họ lên xem, rồi mời đi ghe chơi đảo. Họ bảo đi bộ một vòng quanh đảo chỉ 5km, phòng thì đã có người giới thiệu chỗ khác rồi. Ăn xong tôi trả hai món 35 nghìn. Như vậy dĩa mì xào chỉ 15 nghìn. Nhà hàng tính dĩa ốc cho khách Tây 30 nghìn, nó thắc mắc, tôi nhắc lại giá đã nói, người làm quay vào hỏi rồi tính lại.
Hai người Pháp nói nhỏ với nhau “Malhonnête” (không lương thiện). Ngồi trong quán nhìn ra bến tàu, mặt biển xanh ngắt mà nắng chói chang, không một tiếng động ngoài tiếng sóng lao xao vỗ bờ. Suốt cả buổi trưa nhà hàng chỉ được ba người khách, đủ biết Cù Lao Chàm đang còn thô thiển như thế nào. Mười hai giờ, khách bắt đầu xuống, tôi cũng rút lui. Xuống tàu, tôi còn cố chụp thêm mấy tấm về Cù Lao Chàm, một hòn đảo không gì đặc biệt ngoại trừ đám ghe thuyền đánh cá. Gần 2 giờ chiều tàu vào sông Thu Bồn, trở lại con đường cũ và phải neo tại đầu ngã ba sông vì nước cạn, tàu không về Hội An được. Khách tự trả hai ngàn đồng cho ghe nhỏ để về bến. Buổi chiều, chợ đã vãn, bến không còn thuyền ghe lui tới, hàng giải khát trải dài theo kè đá. Giờ này Hội An như cô đọng lại, hình ảnh một phố cổ trầm lặng hiện rõ nét hơn, không thể lẩn với bất cứ khu phố nào khác. Một buổi đi xa để trở về nhìn thấy vẻ đẹp của Hội An cũng rất thú vị. Ðơn giản mà đôi khi không dễ gặp.

Trần Công Nhung

(*) Theo sử liệu thì cách nay 3000 năm đã có người ở. 1000 năm trước đã có sự giao lưu buôn bán với nước ngoài. Cù Lao Chàm cách Hội an 35km
Dựng năm 1758

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Nhung Tran
PO.Box 163
Garden Grove, CA. 92842
Tel. (816) 988-5040
email: trannhungcong46@gmail.com

Tin tức khác...