Chùa Cổ Lễ

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

 

Nhiều năm trước tình cờ tôi thấy một ảnh chụp “Chiếu Cổ Lễ” được giải thưởng của báo Ashahi Sunbum (Sinbum?) Nhật Bản. Ảnh do người hướng dẫn du lịch chụp một bãi bán chiếu nhìn từ trên cao. Những bó chiếu đủ màu sắc, dựng theo đường nét mới mẻ. Chủ đề chiếu thì quen thuộc nhưng góc nhìn khá lạ, đã mang lại cho tác giả giải thưởng đặc biệt này.

Hình ảnh “Chiếu Cổ Lễ” lẩn quẩn mãi trong tôi, nên trong dịp đi tìm đền Trần Nam Ðịnh, thăm làng cây cảnh Vị Khê, tôi đi luôn về Cổ Lễ tìm chiếu. Chiếu cói, tôi đã có bài làng chiếu Ðinh Yên (Ðồng Tháp). Nay xin nói sơ qua nghề thủ công truyền thống này hiện còn thịnh hành nhiều nơi ở Việt Nam.

Chiếu dùng để trải giường nằm rất thông dụng đối với người dân Việt xưa nay. Chiếu cói dệt theo lối thủ công bằng khung dệt đơn giản, một người chuồi sợi, một người kéo thanh gỗ ngang ép sợi lại, thong thả đều đều cho đến khi hết chiều dài chiếc chiếu. Khổ chiếu thường là: 2m x 1m2, 2m x 1m4, 2m x 1m6… Chiếu trơn, chiếu hoa, chiếu cưới, chiếu lễ hội sân đình… màu sắc mộc mạc, xanh đỏ vàng, nhưng hoa văn mẫu mã cũng đa dạng.

Nhiều tỉnh từ Bắc vô Nam, các làng dọc ven biển, những nơi có đầm lầy trồng cói, đều có nghề dệt chiếu.

Nga Sơn là một huyện ven biển cách trung tâm thành phố Thanh Hóa hơn 20km về phía Tây Nam, làng dệt chiếu xã Ðồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, vẫn còn nguyên vẻ đơn sơ. Chiếu Nga Sơn nổi tiếng trong nước và có lúc còn xuất đi nước ngoài.

Chiếu Bàn Thạch, Nam Phước – huyện Duy Xuyên (Quảng Nam). Chiếu Phú Tân, xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đã có từ hàng trăm năm. Chiếu Mỹ Trạch xã Ninh Hà, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Làng dệt chiếu Thủy Tú, xã Vĩnh Thái (Nha Trang) với nghề dệt chiếu đã ra đời trên 50 năm. Hàng trăm gia đình nông dân ở xã Hoài Châu Bắc (huyện Hoài Nhơn, Bình Ðịnh) hiện vẫn gắn bó với nghề dệt chiếu cói, đủ nuôi sống gia đình. Thu Xà (xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa) và Cổ Lũy (xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh) là những làng nghề dệt chiếu nổi tiếng nằm ở hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ, tiếp giáp với cửa Ðại, cửa Lở, có nhiều đầm lầy nước lợ, thích hợp để trồng cói dệt chiếu.

Tuy nhiên không thấy nơi nào có thờ Tổ nghề chiếu. Riêng làng chiếu Hới (Hải Triều) huyện Hưng Nhân (Thái Bình) có miếu thờ Tổ nghề. Tương truyền ngày xưa ở đây có Trạng Nguyên Phạm Ðôn Lễ, năm 1484, ông đi sứ sang Tàu (nhà Minh), đến vùng Quế Lâm, ông thấy nghề dệt chiếu khá phát đạt, liền vào xem và học hỏi kỹ thuật dệt của họ. Về nước, ông đã truyền dạy lại cho dân làng Hới (Hải Triều). Ngày trước, khung dệt có ngựa đỡ, từ khung đứng chuyển sang khung ngồi, cói cũng được nhuộm màu, để dệt chiếu hoa, vừa bền, vừa đẹp. Từ làng Hới, nghề làm chiếu được truyền sang các làng Thanh Triều, Xuân Trúc, Quan Khê, Phú Hà, Phú Vật, Trung Hòa và nhiều làng xã khác trong vùng.

Từ làng cây cảnh Vị Khê đi Cổ Lễ chừng 7km. Về đến Cổ Lễ, hỏi chợ chiếu, nhiều người không biết. Hỏi mãi mới có người giải thích “Ở đây không có “chợ chiếu”. Thỉnh thoảng người ta tổ chức chợ phiên, chiếu các nơi ở Nam Ðịnh và Thái Bình đưa về bán thôi, không như chợ Viềng (Hải Hậu) cứ mồng 8 tháng Giêng là mở hội”.

Từ ngoài Quốc lộ 21 đã thấy cổng “Chùa Cổ Lễ” đầu đường rẽ phải. Cổng chùa đơn giản hai trụ vuông màu xi măng có hai câu đối chữ Hán. Ðà ngang trên hai đầu trụ dạng cuốn thư to bản, có khắc mấy dòng: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam – Chùa Cổ Lễ – Thị trấn Cổ Lễ Trực Ninh Nam Ðịnh. Cổng chùa không hoa văn màu sắc rườm rà như thường thấy, không đậm nét cổ mà mới mẻ phù hợp với thẩm mỹ ngày nay. Nhưng, xuyên qua cổng là một dãy phố nghèo vắng vẻ chẳng thấy chùa, có lẽ còn phải đi vào trong xa. Ðiều đáng phàn nàn là ngay trước cổng chùa có cầu qua một con lạch, nước đen ngòm và đầy rác bẩn. Nhà xây sát bờ kiểu tự phát, trông nhếch nhác nghèo nàn. Hình ảnh một đời sống còn lạc hậu thấy rõ (1).

Vào một đoạn, chùa Cổ Lễ hiện ra ngay bên trái. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt du khách là tháp Cửu Phẩm Liên Hoa, ngôi tháp cao 32 m có 8 mặt, dựng năm 1927. Tầng đế tháp, một mặt có cửa vào, 7 mặt kia là khung cửa giả,. Tám mặt của chín tầng tháp, mỗi khung cửa đắp một chữ Hán. Như vậy có 8 câu (đối?) chữ Hán (4). Ðế tháp được đặt trên lưng một con rùa lớn, đầu quay vào phía chùa. Con rùa được nằm giữa một hồ nước hình vuông, bốn góc là bốn hòn núi giả khá lớn, có đắp bốn con voi to bằng voi thật. Trong tháp có cầu thang xoắn ốc lên đỉnh. Tương truyền rằng tín đồ phật tử, khách hành hương lên đến bậc cuối, nơi thờ Phật, xoa tay vào bức tượng sẽ luôn gặp may mắn (2). Tháp Cửu Phẩm Liên hoa được nhà sư Phạm Quang Tuyên xây dựng đầu thế kỷ XX nhưng vẫn mang phong cách chùa tháp thời Lý.

Hôm nay không là ngày rằm, ngày vía nên chùa vắng khách. Nơi chân tháp mấy cháu nhỏ đang chơi đùa. Sau tháp có chiếc cầu cong 3 nhịp bắc qua hồ Chu Tích gọi là cầu Cuốn dẫn vào đền Trình(3) (Phật giáo Hội quán). Chùa Trình được xây vào năm 1936 và trùng tu vào năm 2001. Trong chùa có tượng Phật Quan Âm nghìn tay. Trước sân chùa Trình có 2 lư đồng khổng lồ.

Bên trái chùa Trình là đền Linh Quang Từ, được xây vào năm 1937, thờ Trần Hưng Ðạo và hai tiến sĩ họ Ðào người làng Cổ Lễ là Bảng nhãn Ðào Sư Mỗ và Tiến sĩ đệ tam giáp Ðào Toàn Mỗ. Bên phải chùa Trình là Khánh Quang phủ, được xây vào năm 1937, là nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.

Sau lưng chùa Trình là một cái hồ lớn. Giữa hồ có một quả chuông nặng 9000kg gọi là Ðại Hồng Chung. Quả chuông cao 4,2 m, đường kính 2,2 m, thành dày 8 cm. Miệng chuông có họa tiết hình cánh sen, thân có họa tiết hoa lá, sông nước, và một số văn tự chữ Hán. Chuông này chưa được đánh một lần nào nhưng tương truyền khi đánh lên thì cả tỉnh và một các vùng lân cận đều nghe tiếng ngân.

Ðây là một trong những quả chuông lớn nhất ở Việt Nam, do bá tánh quanh vùng yêu mến chùa đúc tặng, nhiều người đã tháo cả nhẫn, vòng, vàng hòa cho vào nấu với đồng để đúc chuông. Khi quả chuông vừa đúc xong thì kháng chiến bùng nổ, nhân dân trong vùng đề phòng giặc phá nên đã đem ngâm quả chuông xuống hồ. Ðến năm 1954, chuông mới được trục vớt và được đặt trên bệ đá cho du khách chiêm ngưỡng từ đó đến nay.

(còn tiếp)

 

 Trần Công Nhung

____________________________________

(1) Người trong nước hay tự hào về “bản sắc dân tộc” nhưng cả thế giới ngày nay ai cũng biết “bản sắc” đó là gì. Ăn bẩn ở dơ, đầu độc nhau là nét nổi bật của “bản sắc” Việt ngày nay. Sông hồ là hố rác, đường phố là nhà kho, nhưng vẫn hô hào “đường thông hè thoáng” “môi trường xanh đẹp” “tuyến phố văn minh”…

(2) Thói quen của số đông người đi lễ là hay sờ vuốt các linh vật hay tượng thờ trong đền chùa: Tượng đền Quan Thánh, rùa đội bia Tiến Sĩ trong văn miếu… láng bóng là vì vậy.

(3) Ðền chùa ngoài Bắc thường có đền trình trước khi vào đền chính.

 

3-h7 3-h2 3-h3 3-h6

Tin tức khác...