Chiều bái biệt, tôi về…

Vào thập niên 60 ở Sài gòn, nhà ai có tivi thì chắc chắn là nhà giàu rồi, ít nhất cũng giàu hơn nhà tôi vì tôi rất thích được tới chơi nhà cậu tôi… để xem tivi. Thuở ấy, các anh con của cậu tôi học thi tú tài mờ mắt để khỏi đi lính, nên mợ tôi cho xem tivi nhưng không được mở tiếng, sợ tiếng ồn làm các anh không tập trung học hành được. Tôi thì chỉ thích xem phim cao bồi Mỹ, nên cứ trên màn hình mà tay cao bồi cỡi ngựa móc súng ra là tôi nổ bằng miệng, bằng… , bằng bằng, nổ đến mấy lần thì cây súng lục của tay cao bồi mới phun khói ra nóng súng.

Mợ tôi vừa nấu ăn hay dọn dẹp nhà cửa, nhưng cứ ra dấu với tôi bằng cách để ngón tay trỏ của mợ lên miệng cho tôi đừng làm ồn, để các anh học bài. Nhưng trẻ con thì làm sao cưỡng lại được sự hưng phấn khi tay cao bồi thế thiên hành đạo (đương nhiên là bên mình, bên ta) đã tầm ra kẻ xấu là bên địch. Phải bằng bằng nhanh lên chứ thôi những kẻ xấu thường bắn súng rất nhanh và chính xác… Cuối cùng chỉ có người xem tivi là dở, không biết im lặng mà cái miệng cứ bằng bằng, súng trong tivi bắn một thì súng miệng người xem bắn đến ba viên. Nên tivi nhà cậu tôi hư mà không rõ nguyên do!

Đến thập niên 80 ở Sài gòn. Nhà ai có tivi màu, đầu máy để xem video tape thì chắc chắn là nhà giàu. Dù những mặt hàng ấy thời bấy giờ thường là đồ cũ, do những thủy thủ tàu viễn dương họ mua hay nhặt được bên Nhật về, bán lại cho những người có tiền ở Sài gòn chứ thời ấy người ta còn chạy ăn từng bữa. Nhà tôi may mắn có, nhưng không còn phim cao bồi để coi. Thỉnh thoảng ra chợ Huỳnh thúc Kháng, mua được một cuốn phim cao bồi Mỹ thì phải giấu còn hơn đồ lậu vì trọng tội hơn đồ lậu thuốc lá ngoại, rượu tây bởi phim ảnh tây phương là văn hoá đồi trụy.

Đến qua Mỹ, phim cao bồi nhiều như khoai tây, rẻ như sữa tươi thì lo đi cầy mửa mật, không có thời giờ để xem. Thứ bảy, chủ nhật cũng phải đi làm nên chỉ những kỳ nghỉ lễ mới được xem phim cao bồi Mỹ cho đã đời. Rồi tivi màu màn ảnh rộng, (tivi trắng đen người ta khiêng ra đường cho xe rác lấy là hình ảnh Mỹ quốc in đậm trong tôi hồi mới sang). Rồi đầu máy video tape phải có hifi coi mới rõ, tới tivi HD 1080, đầu máy DVD, tới đầu blu ray bán cả ngàn đô la ngoài chợ máy móc điện tử. Tới tivi 4K, rồi bây giờ 8K… thì sao? Nhớ lại tủ phim cao bồi là video tape mới năm nào đứt ruột cho vô thùng rác để lấy chỗ chứa phim cao bồi DVD. Rồi vài năm trở lại đây, cả đống DVD phim cao bồi cũng đem cho thư viện, giữ lại mỗi phim “the good the bad and the ugly”. Nửa thế kỷ xem phim cao bồi, còn lại mỗi một phim ưng ý nhất để thỉnh thoảng đi tìm thứ khác nhưng gặp cái DVD ấy trong ngăn tủ như gặp lại tuổi thơ mê phim cao bồi. Miệng bỗng bằng bằng một mình… rồi nhớ nhiều người thân đã quá vãng mà người mợ duyên dáng như chưa khép lại nụ cười bao dung của mợ bao giờ… Mợ ơi! Cháu đã hơn tuổi mợ ngày xưa cho cháu xem tivi câm.

Còn bao nhiêu nữa những âm thầm đi vào quá khứ? Phim cao bồi vẫn còn sản xuất, nhưng xảo thuật điện ảnh bây giờ không hấp dẫn người của thế kỷ trước, cao bồi gì mà bay nhảy như phim tàu. Nhưng nhiều lắm những khuất bóng nhớ không hết như video tape đã biệt dạng từ lâu; rồi CD nghe nhạc, DVD xem phim cũng dần biến mất. Điều làm tôi cả tháng như người đi trên mây là hôm hãng có hợp đồng sản xuất máy quay phim với hãng Kodak. Sếp chọn tôi là người đi training. Tôi không hiểu nổi là sao bây giờ còn dùng fiml Kodak để quay phim nên hãng tôi mới phải làm máy quay phim. Nhưng câu trả lời của người hướng dẫn tôi bên hãng Kodak là FBI yêu cầu họ làm phim như xưa, và máy quay phim thì thế hệ mới. Thế là lúc một mình trong phòng tối để tráng phim. Tôi không ngờ đã dùng máy chụp hình, máy quay phim digital đã nhiều năm mà vẫn có ngày mình còn vô phòng tối, cầm cuộn phim Kodak mới quay thử máy bên ngoài trên tay. Xoay sở trong bóng tối không khó như ký ức mù sương hiện về thời đi học; nhớ bạn bè, người xưa nay đâu? Những thước phim tưởng là mãi mãi đã đứt đoạn nhân sinh, trọn đời chỉ còn lại từng khúc trong ký ức mịt mù…

Nhiều lắm không còn nữa theo thời gian, nhiều nhất không còn nữa là trí nhớ tưởng rằng đã quên. Lúc nhỏ thích để tóc dài, mặc quần ống loa thì ở trường bị phạt, về nhà bị chửi. Lớn lên để râu chứ để tóc là xưa rồi, mặc quần ống bó chứ ống rộng ai coi… cũng bị chửi. Nhưng bây giờ ra đường, gặp rất nhiều người đàn ông trẻ đã trở lại thời thượng là để râu chứ không để tóc; vô hãng thấy nhiều cô mặc quần ống loa như thập niên 70. Ngày xưa, người ta làm tivi nhỏ xíu. Nhà ai có tivi thì ưu tiên người nhà mới được ngồi trong nhà để xem tivi. Những người hàng xóm cứ căng mắt ngoài bờ rào để coi cọp những tuồng cải lương “tướng cướp Bạch Hải Đường”, “Con gái chị Hằng”; “Tiếng hạc trong trăng”… Rồi màn hình tivi ngày càng to lên, to tới nhiều người mua cái tivi là phải chờ cửa hàng chở tới nhà cho chứ xe hơi bình thường không chở được. Ở Texas, cái màn hình tivi to nhất hình như ở trường đại học Texas A&M – nó bự bằng nửa cái sân banh cà na. Trường đại học Austin cũng không chịu thua kém, làm màn hình bự hơn nữa thì phải… nhưng sinh viên bây giờ thì cái laptop họ cũng cóc thèm xem, chỉ dán mắt vào màn hình điện thoại. Màn hình điện thoại cũng ngày càng to lên, to tới màn hình phải gập lại rồi; tới khi nào màn hình điện thoại to tới phải đeo sau lưng, rồi nhờ người khác xem dùm… thì màn hình điện thoại sẽ nhỏ lại cho vừa đủ hàng số điện thoại của người gọi tới như ba mươi năm trước thì người ta lại xem tivi…

Tất cả thời trang, xu hướng râu tóc của xã hội, đồ gia dụng hay các thứ tiện nghi của con người như một vòng tròn qũy đạo. Những thứ được coi là hiện đại nhất sẽ bị đào thải để thay thế những thứ mới hơn, nhưng vài mươi năm sau thì những thứ thời thượng trở lại ngôi vị bá chủ, như cái kính đeo mắt thời thượng có hai tròng kính tròn xoe, rồi nó biến dạng thành muôn hình vạn trạng thì bây giờ trở lại hình tròn là mode.

Và trong nhiều lắm những biến mất. Ta vui mừng khi bất chợt thấy lại cái kẹp tóc đời bà ngoại trên đầu đứa bé gái ở Mỹ. Cái kẹp tóc cũng tha hương. Nay ngộ cố tri thì không biết ngoại nó còn không, chứ cái kẹp tóc ấy thì không phải ai cũng nhớ đâu! Phải dân quê, mà dân quê thứ thiệt mới biết làm cái kẹp tóc bằng trái bồ đề già, nhặt ở sân chùa… trốn học. Hai mảnh ghép lại hình trái tim, bốn mảnh ghép lại thành cái kẹp tóc cho mái tóc sực nức mùi dầu dừa. Để ôm hận đuông đời. Để buông bỏ cho nhau, Để hoài niệm trở thành bất tử…

Như có một thứ đã và đang mất đi nhưng không có hy vọng trở lại chút nào là thói quen đọc báo. Hình ảnh cha tôi với những tờ báo to lớn, “Bút thép”, “Đại dân tộc, “Trắng đen”… khi ông giở trang này trang nọ ra là hết cái mặt bàn. Cặp kính trắng của cha, ly nước trà, khẩu súng lục là vật bất ly thân, những nếp nhăn trên trán cha co giãn theo trang báo là hình ảnh về cha mình trong tôi đã khằn lại thành ký ức. Nhưng đến lần ngồi họp trong toà soạn một tờ báo ở Dallas, bàn về phương hướng mười năm, hai mươi năm tới của tờ báo. Những người cốt lõi của tờ báo đang lên đều kết án tôi bi quan khi tôi cho rằng, “lượng độc giả của báo Việt ngữ ở hải ngoại chỉ có giảm chứ không có tăng khi số lượng người đọc Việt ngữ ở hải ngoại đã đạt tới đỉnh điểm để từ nay đi xuống. Những độc giả ổn định bây giờ chỉ già đi tới không đọc được chữ nữa. Và họ theo ông bà do tuổi tác là hết độc giả Việt ngữ ở hải ngoại vì đời con cháu chúng ta thì Anh ngữ là ngôn ngữ chính của họ, những người trẻ trong nước tiếp tục qua đây diện bảo lãnh hay du học cũng phải dùng Anh ngữ là ngôn ngữ chính. Và tuy còn mới mẻ, chỉ ít người có điều kiện và biết sử dụng để đọc báo mạng, nhưng trong tương lai gần thì điều đó là phổ biến vì nó tiện ích, tin tức lại nhanh như chúng ta mê mẩn hưởng ứng việc gởi text message và email bây giờ. Nói cách nào thì báo Việt ngữ ở hải ngoại cũng đã vào buổi hoàng hôn. Chúng ta nên dùng tiền kiếm được từ báo cuối mùa vào những đầu tư khác hơn là mở rộng tầm cỡ cho tờ báo…”

Hơn mười năm sau không phải là thời gian quá ngắn hay đủ dài, nhưng câu trả lời đã có từ anh chủ tiệm phở. Tôi đến ăn phở đã gần giờ đóng cửa nên chỗ anh em quen biết lâu năm trong thành phố. Anh chủ tiệm xách chai rượu đỏ thuộc loại hiếm ra đãi tôi một ly.

Tôi trò chuyện với anh, “Tiệm ông ngày càng phát đạt đến những tiệm phở khác trong thành phố phải ghen tức, là điều tôi nghe được từ cộng đồng, những người quen… Ông bà làm ăn phát đạt thì anh em mừng, nhưng tiền quảng cáo báo chí có bao nhiêu, nhất là tiệm ông đang lên; sao anh em báo chí gặp tôi là than phiền về việc ông cắt hết quảng cáo báo đài, là sao?”

“Chuyện dài. Nếu anh có thời giờ thì về nhà tôi, anh em mình nói chuyện chơi vì tới giờ tiệm đóng cửa. Bằng không thì nói ngắn gọn cho anh hiểu. Thời anh còn làm báo toàn thời gian, tiền quảng cáo của tiệm tôi có mấy chục đồng trên báo anh hàng tuần. Anh cũng chỉ giao cho tiệm tôi được mấy chục cuốn báo mỗi tuần, trong khi nhu cầu tiệm tôi cần tới mấy trăm cuốn báo mỗi tuần. Anh còn nhớ không, anh lấy báo của mấy tay phụ tá luật sư để cho thêm tiệm tôi vì họ cũng quảng cáo như tôi nhưng họ không cần lấy báo. Còn tờ báo khác thì tiền quảng cáo cũng chỉ có mấy chục đồng mỗi tuần, nhưng tôi chịu thêm tiền in báo với toà soạn để được thêm báo… mà vẫn không đủ báo cho thực khách đến ăn phở cuối tuần. Báo phải giấu dưới quầy tính tiền để ai hỏi mới đưa ra một cuốn thôi, chủ yếu là tránh tình trạng lấy mấy xấp báo về tiệm mình nhưng không có quảng cáo thì không được giao báo. Ăn theo mấy tiệm phở cũng có báo cho khách hàng của tiệm dũa… Tôi không dám nói là tiệm nào, là ai; vì anh cũng biết rồi! Đến thực khách của tiệm tôi. Một người vô ăn mà lấy cả chục cuốn báo thì báo đâu cho đủ? Người không vô ăn, chỉ đậu xe nhưng tắt máy bên ngoài rồi vô lấy báo cả xấp, đi nhanh ra khỏi tiệm, thì báo đâu cho đủ… Nhưng rồi thực khách thực tâm là những chú bác lớn tuổi, là những người đến lấy báo đúng ngày giờ thì ngày càng thưa thớt; những người trẻ cỡ anh em mình thì đọc báo mạng vì tin tức cập nhật từng giờ; đám con cháu mình thì đọc tiếng Anh.

Vậy là báo tiếng Việt chỉ còn xài được báo khổ lớn. Nói ra bị chửi nhưng thực tình là thầy thợ trải dưới bếp cho đỡ văng mỡ, đỡ lau chùi cuối ngày; gói rau thơm cho vô tủ lạnh để rau lâu héo… Báo tạp chí đóng cuốn là hoàn toàn vô dụng. Nhưng tôi cũng gồng mình ủng hộ anh em truyền thông báo chí ở địa phương nhiều rồi. Khổ điều là bây giờ khách vô ăn, lúc chờ nhà bếp nấu thì mỗi người lấy một cuốn báo lại bàn, họ lật lật để xem tiệm nail kia có còn quảng cáo trên báo này báo kia hay không? Nếu không thì họ cũng cắt quảng cáo tiệm nail của họ.

Cuối cùng là trên bàn ăn sau khi họ đi, la liệt các báo dính đầy thức ăn nên đám nhỏ dọn bàn than phiền không ngớt. Bà xã tôi đòi cắt hết quảng cáo báo chí đã mấy năm trước, quảng cáo trên đài radio cũng không cần thiết nữa vì mọi người ở Dallas đã biết tiệm phở này nhiều rồi, quảng cáo là để lấy báo cho thực khách đem về nhà đọc. Nhưng nay không còn ai đọc báo giấy nữa, vậy quảng cáo làm chi cho cho tốn tiền, còn dọn bàn cực hơn?

Tôi hiểu, và cái tình với anh em truyền thông nói chung ở địa phương nên tôi đã ráng thêm mấy năm. Nhưng tới nay thì đành xin lỗi…”

“…”

Chuyện người thật việc thật về truyền thông báo chí ở Dallas không có gì lạ vì đã thấy trước, biết trước hoàng hôn đang buông xuống thói quen đọc báo giấy thì sớm muộn cũng đêm về. Từ thời hoàng kim của báo chí địa phương, thành lập Hiệp hội Truyền thông Báo chí Dallas-Fort Worth để tập trung sức mạnh cộng đồng khi cần thiết ủng hộ phong trào dân chủ trong nước, hay kêu gọi đồng hương cứu trợ miền trung trong nước bão lụt…  Sức mạnh của Hiệp hội không nhỏ khi đồng hương cuối tuần giở báo nào ra cũng ầm ầm kêu gọi ủng hộ cha Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân…

Nhưng hoàng hôn xuống là điều không tránh khỏi đêm về. Biết thế! Sao tôi vẫn buồn. Thật buồn vào một chiều thứ sáu mây mù ảm đạm ở thành Đà. Đi làm ra đã định đi chợ từ chiều thứ năm cho vắng, dễ mua, dễ tính tiền, không phải chờ đợi… nhất là ở nhà chẳng còn gì để ăn sau cả tháng không đi chợ Việt, nhưng ngại Covid-19 nên về chợ Mỹ gần nhà cho tiện. Họ chuẩn bị kỹ lưỡng cho khách hàng về giấy khử trùng, thuốc khử trùng xoa tay trước khi vô chợ; nhân viên đeo mặt nạ của họ lau từng cái xe chợ rồi mới cho khách hàng sử dụng… Nhưng thật tình thức ăn Mỹ chỉ ăn cho vui một bữa tiệc thì cũng thấy có món ngon, nhưng ăn cả tuần thì nuốt không nổi; thèm rau lang luộc chấm chao, rau muống xào tỏi, cá kèo kho nước cơm, hay con cá điêu hồng nấu canh chua bắp chuối… thì phải đi chợ Việt thôi.

Chiều nay thứ sáu, ông sếp bự trong hãng mới họp toàn thể nhân viên để cập nhật tình hình Covid-19. Cái phòng họp rộng mênh mông, xưa kia mọi người dồn về một góc cho ấm áp và… dễ ngủ, thì nay tới phòng họp đã thấy những miếng giấy màu dán dưới nền nhà… cách nhau 3 mét. Sếp thông báo. Dallas đã có 303 người dương tính nên những nhân viên có địa chỉ nhà ở Dallas county đã không đến hãng hai hôm. Những người nhà ở Collin county như tôi, được đi làm với thẻ mới cấp để vô cửa được thì không nhiều vì người Việt thích ở gần chợ với nhà thờ cho tiện dưới vùng Dallas.

Nhớ trưa, phòng ăn mênh mông bị thu xếp bàn ghế lại. Cả cái phòng ăn có thể ăn một lúc cả trăm người thì chỉ còn 14 cái bàn và 14 cái ghế, cho 14 người đi ăn một lần thôi… Mấy hộp bao tay bằng cao su để sẵn trước những cái microway để mang bao tay trước khi sử dụng mircoway dùm nha các bạn…

Chiều ra bãi đậu xe để về. Ông lính già nhắc nhở lần cuối như trăn trối, “… tao nói mày lần cuối nha thằng cô hồn. Nói từ khi Dallas chưa có ai bị thì nay đã 303 người dương tính. Mày phải đi chợ. Dự trữ cho mày một tháng lương thực… vì tao chết rồi thì không ai nhắc mày đâu. Tháng tư đen 45 năm trước nay trở lại rồi đó! Tháng tư này tao nghĩ là hãng đóng cửa, Dallas có lệnh ở trong nhà hết cho mà coi…”

Tôi đùa với ông già, “Nè. Ông cầm hai chục đi uống cà phê đi, nhắn tin cho bà Mễ của ông vẫn còn dư. Coi như tui đưa trước tiền hùn mua bông cho ông đó!”

“Mẹ. Có quán nào mở đâu mà đi. Mày không về Dallas nên không biết mẹ gì hết!”

“…”

Thế là tôi về lại khu Việt nam ở Dallas để đi chợ. Khu chợ mọi ngày không có chỗ đậu xe thì nay chơi đá banh cũng chẳng trúng xe nào. Dọc hàng quán ngoài chợ đều đóng cửa. Vào chợ hụt hẫng như đi nhầm vào nhà quàn vì không khí chết chóc, sự im lặng rợn người đến ngột ngạt… vài người bưng bít trong khẩu trang, găng tay. Và lầm lũi bước…

Gặp chị bạn làm chung, chị cũng nhanh chân thật. Đi làm ra bằng giờ mà chị đã về nhà, chở thằng con trai to như thằng Mỹ đi chợ với mẹ. Chị mua hai tảng thịt heo quá bự, mấy con gà tươi của nông trại Việt nam dưới Houston… Đúng là phải về nhà trước để chở thằng con bự như lính Mỹ đi theo thì nó mới ôm nổi cho mẹ những thứ mẹ mua cho tháng Tư đen tới rồi!

Chị rầy tôi, “Sao ông ẩu vậy? Không khẩu trang, không găng tay… Trời ơi! Thôi mua gì thì mua nhanh lên, rồi về nhà đi…”

Tôi thấy người phụ nữ trẻ khác. Một người thông minh là chị dùng cái xe em bé để đi chợ chứ không xài xe chợ. Thật hợp thời mà lại gọn nhẹ vì cái xe em bé nhẹ nhàng, lại dễ xếp vô xe hơi.

Tôi thấy mình hồ đồ khi hỏi chị quản lý chợ – là người tính tiền cho tôi vì quầy tính tiền chỉ còn mấy người thay vì mấy chục người. Tôi hỏi chị, “Không còn ai nên chị phải ra tính tiền hả?”

“Không lẽ tui ở nhà mà bắt nhân viên đi làm. Lúc này ít thấy anh ha… Thôi anh mua mau rồi về nhà lẹ đi. Nói chuyện với tui không tốt cho anh đâu…”

Tôi nghĩ chỗ quen biết từ thời làm báo thì liên lạc quảng cáo với chị mỗi ngày nên trò chuyện thăm hỏi. Vậy mà cũng bị đuổi. Buồn chứ sao không? Nhưng buồn tới phế phủ khi ra cửa chợ, có hai người phụ nữ cỡ năm mươi tuổi cùng đậu xe để vào chợ. Người không cầm lái nên xuống trước, chị tiến đến cái xe chợ mồ côi ngoài bãi đậu xe. Như thường lệ trước đây, gặp cái xe chợ mồ côi là may mắn vì xe chợ cũng thiếu những hôm chợ đông cuối tuần.

…Nỗi buồn bất tử ngập lòng tôi với những tờ báo Việt ngữ phất phơ theo cái xe chợ đi vào nhà quàn thì đúng hơn là vào chợ. Ôi những tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại là cái mất đi như nhiều lắm những cái âm thầm biến mất tới không nhớ hết… để vui mừng khi bất ngờ thấy lại như cái kẹp tóc thời bà ngoại trên đầu bé gái đồng hương ở hải ngoại.

Chỉ những tờ báo Việt ngữ đang cáo chung và không hẹn trở lại vì những người làm báo và cả người đọc báo bốn mươi lăm năm viễn xứ đã từ từ rời xa… Chiều bái biệt. Tôi về.

Phan

Tin tức khác...