Bạch Dạ Hành

Matsuura nhăn mặt, nhưng vẫn rặn ra một nụ cười gượng gạo, “Bà chủ xưa nay không để ý đến chuyện cửa tiệm. Khách đến, có khi bà ấy còn chẳng chào hỏi tử tế, Ryoji cũng chưa bao giờ trông tiệm. Có lẽ họ cũng nghe thấy tiếng chuông, nhưng cứ để mặc đó.”
“Ừm, cứ để mặc à?”
Cả người phụ nữ tên Yaeko hay cậu bé tên Ryoji, đích thực đều không giống mẫu người chịu giúp đỡ chuyện kinh doanh trong tiệm cầm đồ.
“Xin hỏi, có phải các ông đang nghi ngờ tôi không? Hình như các ông đang có ý ám chỉ tôi đã giết ông chủ.”
“Không có, không có.” Sasagaki xua tay, “Chỉ là một khi phát giác có mâu thuẫn, thì dù chuyện nhỏ bằng hạt vừng cũng phải điều tra rõ ràng, đây là yêu cầu cơ bản để phá án. Nếu các vị hiểu được điểm này, thì chúng tôi dễ làm việc lắm.”
“Vậy ạ? Dù sao, cảnh sát các vị có nghi ngờ gì thì tôi cũng chẳng sợ.” Matsuura để lộ hàm răng hơi ngả vàng, nói móc.
“Cũng không hẳn là nghi ngờ, có điều, tốt nhất vẫn phải có chứng cứ rõ ràng để chứng minh. Vậy là, trong khoảng từ sáu giờ đến bảy giờ, có gì chứng thực anh luôn ở trong tiệm hay không?”
“Sáu giờ đến bảy giờ… bà chủ và Ryoji đều có thể làm nhân chứng, như vậy không được ạ?”
“Nhân chứng, tốt nhất là những người hoàn toàn không liên quan đến sự việc này.”
“Nói như vậy, có khác nào bảo chúng tôi là đồng phạm!” Matsuura giận dữ trừng mắt lên.
“Cảnh sát cần phải nghĩ đến tất cả mọi khả năng có thể xảy ra.” Sasagaki điềm đạm trả lòi.
“Thật nực cười! Giết ông chủ đối với tôi có lợi gì chứ? Ông ấy tuy ở bên ngoài thì vung tiền như nước, nhưng thực chất có tài sản gì đâu.”
Sasagaki không trả lời, chỉ mỉm cười thầm nhủ, khiến cho tay Matsuura nhất thời tức giận lộ ra thêm chút thông tin cũng không phải là tệ. Nhưng Matsuura không nói gì thêm nữa.
“Sáu giờ đến bảy giờ? Nếu nghe điện thoại thì có tính không?”
“Điện thoại? Với ai?”
“Người ở nghiệp đoàn, thảo luận việc tụ họp tháng sau.”
“Là anh gọi điện đi à?”
“Ừm, không, là bọn họ gọi tới.”
“Khoảng mấy giờ vậy?”
“Lần đầu tiên là khoảng sáu giờ, khoảng ba mươi phút sau thì gọi lại lần nữa.”
“Gọi hai lần à?”
“Vâng.”
Sasagaki sắp xếp lại trục thời gian trong đầu. Nếu Matsuura nói thật thì trong khoảng sáu giờ đến sáu giờ rưỡi, anh ta có chứng cứ không có mặt ở hiện trường. Ông lấy đây làm tiền đề để suy xét khả năng Matsuura có phải hung thủ hay không. Rất khó, ông đưa ra kết luận.
Sasagaki lại hỏi họ tên và cách liên lạc với người ở nghiệp đoàn gọi điện đến, Matsuura lấy tập danh thiếp ra tìm kiếm. Đúng lúc ấy, cửa cầu thang mở ra. Trong khe cửa he hé xuất hiện gương mặt cậu bé. Phát hiện ra ánh mắt của Sasagaki, Ryoji tức thì đóng cửa lại, sau đó là tiếng bước chân chạy lên cầu thang.
“Cậu bé nhà Kirihara ở nhà à?”
“À? Vâng, cậu ấy vừa tan học về.”
“Tôi có thể lên đó một chút được không?” Sasagaki chỉ tay về phía cầu thang.
“Lên tầng hai?”
“Vâng.”
“Chuyện này… tôi nghĩ là không có vấn đề gì đâu.”
Sasagaki dặn dò Koga, “Cậu ghi lại địa chỉ liên hệ của người ở nghiệp đoàn, rồi nhờ anh Matsuura dẫn vào xem kho bảo hiểm.” Đoạn ông bắt đầu tháo giày.
Ông mở cửa, nhìn lên cầu thang, chỉ thấy tối tăm u ám, đầy mùi vôi ve, bề mặt cầu thang gỗ trải qua nhiều năm đã bị bít tất mài cho đen bóng. Sasagaki vịn tay vào tường, cẩn thận đi lên. Đến cuối cầu thang, có hai gian phòng đối diện nhau, cách một hành lang nhỏ hẹp, một bên là cửa kéo kiểu Nhật, một bên là cửa có ô kính vuông. Cuối hành lang cũng có một cánh cửa, nhưng có lẽ nếu không phải kho chứa đồ thì cũng là nhà vệ sinh.
“Ryoji, bác là cảnh sát, có thể hỏi cháu vài câu được không?” Sasagaki đứng ngoài hành lang cất tiếng hỏi.
Đợi một lúc mà không có tiếng trả lời. Đúng lúc Sasagaki hít một hơi, định hỏi lại lần nữa, thì nghe tiếng “cạch” sau cánh cửa kéo kiểu Nhật. Sasagaki kéo cửa ra. Ryoji đang ngồi trước bàn học nên chỉ nhìn thấy lưng cậu bé.
“Có thể làm phiền cháu một chút không?” Sasagaki bước vào phòng. Đây là một gian phòng kiểu Nhật rộng chừng mười mét vuông, có lẽ cửa sổ hướng về phía Tây Nam, ánh mặt trời tràn trề ùa vào qua cửa sổ.
“Cháu chẳng biết gì cả.” Ryoji vẫn xoay lưng lại với ông.
“Không sao, chuyện gì không biết thì cứ nói là không biết, bác chỉ tham khảo thôi. Bác ngồi đây được không?” Sasagaki chỉ vào cái nệm ngồi trên chiếu tatami.
Ryoji ngoảnh đầu lại nhìn một cái, rồi trả lời, “Mời bác ngồi.”
Sasagaki ngồi xếp bằng, ngẩng đầu nhìn cậu bé ngồi trên ghế. “Chuyện bố cháu… bác rất tiếc.”
Ryoji không trả lời, vẫn quay lưng lại với Sasagaki. Sasagaki đảo mắt quan sát căn phòng. Phòng ốc được dọn dẹp tương đối sạch sẽ. Đối với phòng của một học sinh cấp một, thậm chí còn khiến người ta có cảm giác hơi giản dị. Trong phòng không dán poster của Yamaguchi Momoe hoặc Sakurada Junko, cũng không trang trí tranh ảnh xe đua siêu cấp. Trên giá sách không có truyện tranh, chỉ có các sách phổ cập kiến thức khoa học cho nhi đồng như Bách khoa toàn thư, Cấu tạo xe hơi, Cấu tạo ti vi. Thứ thu hút sự chú ý của Sasagaki là khung ảnh treo trên tường, bên trong là một con thuyền buồm cắt từ giấy trắng, đến cả dây thừng cũng được thể hiện một cách rất khéo léo. Sasagaki nhớ là mình đã từng xem nghệ nhân cắt giấy biểu diễn trong buổi liên hoan, nhưng tác phẩm này tinh xảo hơn nhiều. “Cái này đẹp thật đấy! Cháu làm à?”
Ryoji liếc nhìn khung ảnh một cái, khe khẽ gật đầu.
“Ừm!” Sasagaki thật lòng thốt lên một tiếng kinh ngạc, “Cháu khéo tay quá, cái này mang đi bày bán cũng được ấy chứ.”
“Bác muốn hỏi gì cháu ạ?” Ryoji dường như không có tâm trạng nói chuyện gẫu với người đàn ông trung niên lạ mặt này.
“À, nhắc mới nhớ,” Sasagaki điều chỉnh lại tư thế ngồi, “hôm ấy cháu ở nhà đúng không nhỉ?”
“Hôm nào ạ?”
“Hôm bố cháu qua đời ấy.”
“À… vâng, cháu ở nhà.”
“Từ khoảng sáu giờ đến bảy giờ, cháu làm gì?”
“Sáu giờ đến bảy giờ?”
“Ừ, không nhớ nữa hả?”
Cậu bé nghiêng nghiêng đầu, sau đó trả lời, “Cháu ở dưới nhà xem ti vi.”
“Một mình cháu xem à?”
“Xem với mẹ cháu.”
“À.” Sasagaki gật gật đầu. Giọng cậu bé vẫn không có vẻ gì là sợ hãi.
“Bác xin lỗi, nhưng cháu có thể nhìn bác nói chuyện được không?”
Ryoji thở ra một hơi, chầm chậm xoay ghế lại. Sasagaki nghĩ, ánh mắt cậu bé hẳn phải đầy sự phản kháng. Thế nhưng, trong ánh mắt cúi nhìn người cảnh sát của cậu lại không hề có vẻ ý. Ánh mắt cậu thậm chí còn có thể nói là “trống rỗng”, giống như một nhà khoa học đang tiến hành quan sát mẫu vật của mình vậy. Sasagaki thầm nghĩ, cậu bé đang quan sát mình sao?
“Cháu xem đến mấy giờ?”
“Khoảng bảy giờ rưỡi.”
“Sau đó thì sao?”
“Ăn cơm tối với mẹ cháu ạ.”
“Thế à. Bố cháu không về, hai mẹ con hẳn phải lo lắng lắm nhỉ.”
“Ừm…” Ryoji khe khẽ trả lời, sau đó lại thở dài một tiếng nhìn ra cửa sổ. Bị ảnh hưởng từ cậu bé, Sasagaki cũng đưa mắt nhìn theo, bầu trời hoàng hôn đỏ rực.


“Bác làm mất thời gian của cháu rồi. Học hành chăm chỉ nhé.” Sasagaki đứng dậy, vỗ vỗ lên vai cậu bé.
Sasagaki và Koga trở lại đội chuyên án, đối chiếu lại lời khai với hai viên cảnh sát hỏi Yaeko, không phát giác ra mâu thuẫn gì lớn giữa lời kể của Matsuura và Yaeko cả. Giống như Matsuura, Yaeko cũng nói lúc người phụ nữ kia đến, chị ta đang xem ti vi với Ryoji ở phòng trong. Chị ta nói, có lẽ nghe thấy tiếng chuông cửa, nhưng không nhớ lắm, tiếp khách không phải việc của chị ta, nên cũng không để tâm. Yaeko còn bảo, chị ta không biết lúc mình đang xem ti vi thì Matsuura làm gì. Ngoài ra nội dung chương trình ti vi mà Yaeko kể lại đại để cũng tương đồng với Ryoji. Nếu chỉ có Yaeko và Matsuura, muốn thông đồng lời khai từ trước không phải việc khó. Nhưng cả Ryoji con trai nạn nhân cũng có mặt, thì lại là chuyện khác. Có lẽ bọn họ nói thật… Bầu không khí trong đội chuyên án mỗi lúc một nặng nề.
Sự việc này nhanh chóng được xác minh. Cú điện thoại mà Matsuura nói đúng là được gọi đến vào khoảng sáu giờ và sáu giờ rưỡi ngày hôm đó. Cán sự nghiệp đoàn cầm đồ gọi điện tới đã chứng thực người nói chuyện với anh ta chính là Matsuura. Cuộc điều tra lại trở về điểm xuất phát. Cảnh sát tiếp tục thẩm vấn các khách hàng quen của tiệm cầm đồ Kirihara. Thời gian cứ trôi đi. Ở giải bóng chày chuyên nghiệp, đội Yomiuri Giants giành chức vô địch Central Leage lần thứ chín liên tiếp. Esaki Reona phát giác ra hiệu ứng đường hầm lượng tử của chất bán dẫn giành được giải Nobel Vật lý. Đồng thời, bị ảnh hưởng từ chiến tranh Trung Đông, giá dầu ở Nhật Bản ngày một tăng cao. Bầu không khí trước cơn bão tố bao trùm cả nước Nhật.
Khi đội chuyên án bắt đầu nôn nóng, thì chợt nhận được một manh mối mới. Manh mối này do viên cảnh sát phụ trách điều tra Nishimoto Fumiyo tìm ra.
6.
Tiệm Kikuya có cánh cửa bằng gỗ bạch là một tiệm mì udon nhỏ, sạch sẽ. Ngoài cửa treo một tấm vải che màu xanh sẫm, biển hiệu được ghi bằng chữ trắng. Cửa tiệm làm ăn có vẻ rất tốt, mới sáng đã có khách, đến tận hơn một giờ chiều, khách vẫn cứ ra vào nườm nượp. Một giờ rưỡi, một chiếc xe chở hàng màu trắng dừng lại cách cửa tiệm một quãng xa. Trên thân xe sơn một hàng chữ đen lớn: Thương mại Ageha.
Người đàn ông ngồi sau vô lăng xuống xe. Anh ta mặc áo jacket xám, dáng người thấp đậm, thoạt trông khoảng chừng bốn mươi tuổi. Bên trong áo jacket là sơ mi trắng, đeo cà vạt. Anh ta đi thẳng vào tiệm Kikuya, vẻ vội vã.
“Tin tức quả không sai, đúng là xuất hiện vào khoảng một giờ rưỡi.” Sasagaki nhìn đồng hồ, thán phục nói. Ông đang ngồi trong quán cà phê đối diện với tiệm Kikuya, từ đây có thể quan sát tình hình bên ngoài qua cửa kính.
“Còn một thông tin bổ sung nữa, y đang ở trong đó ăn mì tempura.” Người vừa lên tiếng là viên cảnh sát hình sự Kanamura ngồi đối diện với Tengo. Anh mỉm cười, để lộ hàm răng bị thiếu một chiếc răng cửa.
“Mì tempura? Thật không đấy?”
“Tôi có thể cược với anh. Tôi đã cùng vào vài lần và tận mắt thấy mà. Terasaki lúc nào cũng gọi món mì tempura.”
“Hừm, y ăn chẳng biết chán là gì cả nhỉ.” Ánh mắt Sasagaki dịch chuyển trở lại phía tiệm Kikuya. Nhắc đến mì udon làm ông nhớ ra mình chưa ăn gì.
Tuy Nishimoto Fumiyo có chứng cứ ngoại phạm, nhưng nghi vấn đối với cô ta vẫn không được loại trừ hoàn toàn. Việc cô ta là người cuối cùng Kirihara Yosuke gặp lúc còn sống đã khiến đội chuyên án không thể dứt bỏ nghi ngờ. Nếu cô ta liên quan đến án mạng của Kirihara thì điều đầu tiên họ nghĩ tới chính là cô ta hẳn phải có đồng phạm. Phải chăng bà quả phụ Fumiyo có tình nhân trẻ tuổi… cảnh sát đã dựa trên suy luận này để làm xuất phát điểm điều tra, cuối cùng phát giác ra Terasaki Tadao.
Terasaki chuyên bán buôn đồ trang điểm, mỹ phẩm, nước gội đầu và thuốc tẩy rửa. Anh ta không chỉ giao buôn cho các tiệm bán lẻ, mà còn nhận đơn đặt hàng trực tiếp của khách rồi tự mình đưa hàng tới. Tuy có công ty tên là “Thương mại Ageha”, nhưng ngoài anh ta ra thì không còn nhân viên nào khác. Cảnh sát để ý đến Terasaki, là bởi họ nghe ngóng được một số tin đồn ở khu nhà Yoshida nơi Nishimoto Fumiyo ở. Một bà nội trợ gần đó đã mấy lần trông thấy một người đàn ông lái xe chở hàng màu trắng vào nhà của Nishimoto. Chị ta nói trên xe chở hàng dường như có đề tên công ty, chỉ là chị ta cũng không nhìn rõ lắm. Cảnh sát tiếp tục theo dõi xung quanh khu nhà Yoshida, nhưng chiếc xe chở hàng được nhắc đến ấy mãi vẫn không xuất hiện, về sau, mới phát giác ra chiếc xe khả nghi đó ở nơi khác. Một người đàn ông ngày nào cũng đến ăn trưa ở tiệm mì Kikuya nơi Fumiyo làm việc đi trên chiếc xe chở hàng màu trắng. Từ tên công ty Thương mại Ageha trên thân xe, lập tức có thể điều tra ra thân phận của người đàn ông ấy.
“Ồ, ra rồi.” Koga nói. Họ nhìn thấy Terasaki bước ra khỏi Kikuya, nhưng không trở lại xe ngay, mà nán lại trước cửa tiệm. Điều này cũng giống với những gì được ghi trong báo cáo của nhóm Kanamura.
Không lâu sau, Fumiyo đeo tạp dề trắng từ trong tiệm bước ra. Hai người nói với nhau vài câu rồi Fumiyo trở vào trong tiệm, Terasaki đi về phía ô tô, cả hai đều không có vẻ gì e ngại ánh mắt của những người khác.
“Ừm, đi thôi.” Sasagaki dụi điếu thuốc Peace vào gạt tàn, nhổm người đứng dậy.
Terasaki vừa mở cửa xe, Koga bèn cất tiếng gọi. Terasaki ngạc nhiên trợn tròn hai mắt, kế đó lại trông thấy Sasagaki và Kanamura, nét mặt anh ta liền cứng đờ. Khi cảnh sát nói muốn hỏi vài vấn đề, Terasaki tỏ ra tương đối hợp tác. Họ hỏi anh ta xem có muốn tìm cửa tiệm nào đó ngồi không, nhưng Tarasaki nói ngồi trong xe luôn cũng được. Vậy là, bốn người bèn chui vào chiếc xe hàng nhỏ. Terasaki ngồi trên ghế lái, ghế phụ là Sasagaki, Koga và Kanamura ngồi ghế sau. Trước tiên Sasagaki hỏi anh ta có biết vụ án ông chủ tiệm cầm đồ ở Oe bị sát hại hay không, Terasaki nhìn thẳng về phía trước, gật đầu “Tôi xem trên báo và ti vi rồi. Nhưng vụ án đó thì liên quan gì tới tôi chứ?”
“Nơi nạn nhân Kirihara xuất hiện lần cuối cùng là nhà của chị Nishimoto. Tất nhiên là anh quen chị Nishimoto đúng không?”
Có thể thấy rõ Terasaki đang nuốt nước bọt. Anh ta đang nghĩ xem phải trả lời như thế nào.
“Chị Nishimoto… ý anh là, người phụ nữ làm việc trong tiệm mì udon đó hả? Đúng, có thể coi như tôi quen biết chị ấy.”
“Chúng tôi cho rằng, chị Nishimoto có thể liên quan đến vụ án này.”
“Chị Nishimoto? Sao có thể được chứ?” Terasaki nhếch miệng cười.
“Chà, có vấn đề gì sao?”
“Dĩ nhiên, chị ấy làm sao lại liên quan đến một vụ án mạng như thế được.”
“Hai người chỉ coi như có quen biết, mà anh lại bênh chị ta nhỉ!”
“Tôi đâu có bênh gì chứ.”
“Có người thường thấy một chiếc xe chở hàng màu trắng ở gần khu chung cư Yoshida, còn nói người lái xe thường xuyên ra vào nhà chị Nishimoto. Anh Terasaki, có phải đó là anh không?”
Câu hỏi của Sasagaki rõ ràng đã khiến Terasaki hết sức bối rối. Anh ta liếm liếm môi, nói, “Tôi tìm chị ấy vì công việc thôi.”


“Công việc?”
“Tôi giao các thứ chị ấy mua tới, mấy thứ kiểu như đồ trang điểm và thuốc tẩy rửa, có vậy thôi.”
“Anh Terasaki, đừng nói dối nữa. Chuyện này chỉ cần điều tra một chút là biết ngay. Người nhìn thấy nói, anh đến chỗ chị Nishimoto khá thường xuyên, không phải vậy sao? Đồ trang điểm và thuốc tẩy rửa cần phải đưa thường xuyên như thế à?” Terasaki khoanh tay, mắt nhắm lại. Chắc đang suy nghĩ xem nên trả lời thế nào.
“Anh Terasaki này, giờ mà anh nói dối, thì sẽ phải nói dối mãi. Chúng tôi sẽ tiếp tục giám sát anh chặt chẽ, chờ cho đến khi nào anh gặp chị Nishimoto. Như vậy anh sẽ xử lý thế nào? Anh định cả đời này không gặp chị ấy nữa sao? Anh làm được không? Phiền anh nói thực cho chúng tôi biết, quan hệ giữa anh và chị Nishimoto có gì đặc biệt?”
Terasaki vẫn trầm ngâm một lúc lâu. Sasagaki không nói gì, chỉ lặng lẽ quan sát phản ứng của đối phương.
Cuối cùng, Terasaki thở hắt ra một hơi, mở mắt, “Tôi nghĩ như vậy cũng không có vấn đề gì. Tôi độc thân, còn chồng cô ấy cũng chết rồi.”
“Có thể hiểu đó là quan hệ nam nữ không?”
“Chúng tôi qua lại một cách nghiêm túc.” Giọng Terasaki hơi rít lên.
“Bắt đầu từ khi nào?”
“Cả điều đó cũng phải nói à?”
“Xin lỗi, để làm tư liệu tham khảo thôi.” Sasagaki nở một nụ cười điềm đạm.
“Khoảng nửa năm trước.” Terasaki đanh mặt lại trả lời.
“Vì duyên cớ gì mà bắt đầu quan hệ?”
“Chẳng có gì đặc biệt cả. Thường gặp nhau trong cửa tiệm, rồi thân.”
“Chị Nishimoto kể những gì về ông Kirihara với anh?”
“Chỉ nói, đó là ông chủ tiệm cầm đồ cô ấy hay tới.”
“Chị Nishimoto có nhắc đến việc ông ấy thỉnh thoảng đến nhà mình không?”
“Cô ấy nói, ông ta có đến vài lần.”
“Nghe chị ấy nói thế, anh thấy thế nào?”
Câu hỏi của Sasagaki khiến Terasaki nhíu mày lại tỏ vẻ không vui, “Ý anh là sao?”
“Anh không cho rằng ông Kirihara có ý đồ gì khác sao?”
“Nghĩ mấy chuyện ấy thì ích gì? Fumiyo chẳng bao giờ để ý đến ông ta cả.”
“Nhưng chị Nishimoto hình như đã nhận khá nhiều sự chiếu cố của ông Kirihara, nói không chừng cũng nhận cả trợ giúp về mặt tiền bạc nữa. Như vậy, nếu đối phương bức bách quá, chẳng phải là rất khó từ chối sao?”
“Chuyện này tôi chưa bao giờ nghe nói tới. Xin hỏi, rốt cuộc ông muốn nói gì vậy?”
“Chúng tôi chỉ suy luận theo lẽ thường thôi, một người đàn ông thường xuyên ra vào nhà người phụ nữ anh có qua lại, người phụ nữ đó vì thường xuyên nhận được ưu đãi đặc biệt từ ông ta, nên cũng không thể tiếp đón qua loa có lệ. Về sau, người đàn ông ấy lại được đằng chân lân đằng đầu cứ liên tục dồn ép, là bạn trai người phụ nữ đó, nếu biết chuyện này, hẳn sẽ rất tức giận…”
“Ông muốn nói là vì vậy mà tôi nổi xung lên giết ông ta, phải không? Xin ông đừng nói linh tinh nữa, tôi đâu có ngu đến mức đó.” Terasaki cao giọng, làm chấn động cả không gian chật hẹp bên trong chiếc xe chở hàng nhỏ.
“Đây thuần túy chỉ là suy đoán, tôi rất xin lỗi nếu như khiến anh khó chịu. Vậy, khoảng sáu đến bảy giờ tối ngày thứ Sáu, 12 tháng này, anh đang ở đâu?”
“Điều tra chứng cứ ngoại phạm à?” Terasaki nhướng mắt. “Đúng vậy.” Sasagaki cười cười với anh ta. Vì dạo này phim hình sự rất thịnh hành, cụm từ “chứng cứ ngoại phạm” đã trở nên rất thông dụng.
Terasaki lấy một cuốn sổ nhỏ, mở phần lịch ngày ra. “Chiều tối ngày 12 tôi ở Toyonaka, đi đưa hàng cho khách.”
“Khoảng mấy giờ?”
“Tôi nghĩ, đến đó là khoảng sáu giờ.”
Nếu đây là sự thật, vậy thì anh ta có chứng cứ ngoại phạm. Chuyến này lại hụt nữa rồi, Sasagaki nghĩ. “Anh giao hàng cho khách chưa?”
“Chưa, hôm ấy bị lỡ hẹn với khách. Khách không có nhà, tôi kẹp danh thiếp ở cửa rồi trở về.”
“Khách không biết anh sẽ đến à?”
“Tôi có liên lạc rồi. Trước đó, tôi có nói qua điện thoại là ngày 12 sẽ tới, nhưng có vẻ tôi nói không rõ làm người ta không hiểu.”
“Nói như vậy, anh không gặp ai ở đó mà đã trở về luôn, phải không?”
“Đúng thế, nhưng tôi đã để lại danh thiếp.”
Sasagaki gật đầu thầm nghĩ, chuyện đó làm lúc nào chẳng được.
Sau khi hỏi Terasaki địa chỉ và số điện thoại của người khách kia, Sasagaki quyết định thả cho anh ta đi.
Về đội chuyên án báo cáo xong, như thường lệ, Nakatsuka lại hỏi quan điểm của Sasagaki.
“Năm mươi năm mươi.” Sasagaki thành thực trả lời, “không có chứng cứ ngoại phạm, lại có động cơ gây án. Nếu cùng Nishimoto Fumiyo bắt tay gây án, hẳn có thể tiến hành một cách thuận lợi. Chỉ có một điểm tương đối kỳ lạ, nếu bọn họ đúng là hung thủ, vậy thì hành động tiếp sau đấy của hai người này hình như hơi quá khinh suất thì phải. Nhưng Terasaki lại vẫn như trước, cứ đến trưa là tới tiệm Fumiyo làm việc ăn mì udon. Điểm này thì tôi nghĩ không thông được.”
Nakatsu lặng im lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Cặp môi khép chặt trễ xuống ở hai đầu, chứng minh ông cũng có chung ý kiến.


Cảnh sát tiến hành điều tra triệt để đối với Terasaki. Anh ta sống một mình trong căn hộ thuê ở quận Hiremo, từng kết hôn, năm năm trước đã thỏa thuận ly hôn. Đánh giá của khách hàng đối với anh ta rất tốt, làm việc nhanh nhẹn, yêu cầu khó khăn thế nào cũng đáp ứng được, giá cả lại rất thấp. Đối với các chủ cửa hàng bán lẻ, anh ta là nhà cung cấp lý tưởng. Đương nhiên, cũng không thể vì vậy mà nhận định anh ta không có khả năng gây án mạng. Ngoài ra việc làm ăn của anh ta chỉ có thể coi là gắng gượng chèo chống, véo chỗ này bù chỗ kia, lại càng khiến cảnh sát chú ý hơn.
“Tôi nghĩ anh ta có ý định giết Kirihara vì ông này cứ bám riết lấy Fumiyo, nhưng cũng có thể anh ta mờ mắt trước số tiền một triệu yên Kirihara mang theo.” Viên cảnh sát điều tra tình hình kinh doanh của Terasaki phân tích như vậy trong cuộc họp, đại đa số thành viên đội chuyên án cũng đồng tình.
Đã xác nhận xong việc Terasaki không có bằng chứng ngoại phạm. Điều tra viên đã đến căn nhà mà anh ta nói là để lại danh thiếp, tìm hiểu được chủ nhà hôm đó đi thăm họ hàng ở xa, mãi đến mười một giờ đêm mới về. Trên cửa đúng là có gài một tấm danh thiếp của Terasaki, nhưng như vậy chưa đủ để đoán định anh ta đến đây vào thời điểm nào. Ngoài ra đối với câu hỏi Terasaki có hẹn trước vào ngày 12 hay không, bà chủ nhà đó trả lời, “Anh ta nói sẽ đến vào một ngày nào đó trong khoảng thời gian này, nhưng tôi không nhớ là có hẹn vào ngày 12.” Thậm chí chị ta còn thêm một câu, “Tôi nhớ trong điện thoại có nói với anh Terasaki, ngày 12 tôi không rảnh.”
Lời khai này có ý nghĩa rất lớn. Nghĩa là, có thể cho rằng Terasaki biết rõ khách hàng này không có nhà, nhưng sau khi gây án vẫn đến nhà chị ta để lại danh thiếp, ý đồ ngụy tạo bằng chứng ngoại phạm.
Sự nghi ngờ của các điều tra viên đối với Terasaki, có thể nói đã ở mức báo động.
Thế nhưng, không có vật chứng nào hết. Trong các sợi lông, tóc thu thập được ở hiện trường, không có sợi nào giống với của Terasaki, cả dấu vân tay cũng vậy. Không có lời chứng nào là đã nhìn thấy anh ta. Giả dụ Nishimoto Fumiyo và Terasaki là đồng phạm, hai người hẳn phải có liên lạc với nhau, nhưng cảnh sát cũng không phát giác được dấu vết gì của việc này. Một vài cảnh sát giàu kinh nghiệm chủ trương bắt giam trước rồi tiến hành thẩm vấn triệt để, có lẽ hung thủ sẽ cung khai. Nhưng trong tình huống hiện nay, cảnh sát thực sự không thể xin được lệnh bắt.
7.
Một tháng trôi qua mà không có tiến triển gì. Các thành viên đội chuyên án sau nhiều ngày ngủ lại cơ quan dần dần trở về nhà, Sasagaki cũng ngâm mình trong chiếc bồn tắm lớn đã lâu không sử dụng của nhà mình. Ông và vợ sống trong khu căn hộ trước cửa ga Kintetsu Yao. Katsuko, vợ ông lớn hơn ông ba tuổi. Hai người không có con.
Sáng sớm hôm sau, Sasagaki đang ngủ trong chăn thì bị tiếng ồn làm thức giấc. Katsuko đang thay quần áo, kim đồng hồ vừa chỉ bảy giờ. “Sớm vậy, mình làm gì thế? Định đi đâu à?” Sasagaki nằm trong chăn hỏi.
“À! Xin lỗi, đánh thức mình rồi. Em ra siêu thị mua đồ.”
“Mua đồ? Sớm thế à?”
“Không đi sớm xếp hàng, không khéo lại không kịp mất.”
“Không kịp? Mình mua gì thế?”
“Còn phải hỏi à? Dĩ nhiên là mua giấy vệ sinh rồi.”
“Giấy vệ sinh?”
“Hôm qua em cũng đi rồi. Quy định là mỗi người chỉ được mua một bịch, thực ra em cũng muốn gọi mình cùng đi đấy.”
“Mua nhiều giấy vệ sinh thế làm gì?”
“Không có thời gian giải thích với mình nữa, em đi trước đây.” Katsuko khoác chiếc áo len lông cừu cài khuy lên rồi cầm ví tiền vội vội vàng vàng đi ra cửa. Sasagaki chẳng hiểu gì cả. Dạo gần đây trong đầu ông chỉ nghĩ chuyện điều tra phá án, gần như không quan tâm trên thế giới đang xảy ra chuyện gì. Ông có nghe là dầu mỏ bị thiếu, nhưng không hiểu tại sao phải đi mua giấy vệ sinh, lại còn vừa sáng sớm đã đi xếp hàng nữa.
Đợi Katsuko về phải hỏi kỹ mới được, ông thầm nhủ trong lòng rồi nhắm mắt lại. Chỉ một chốc sau, chuông điện thoại reo lên. Ông lật người trong chăn, vươn tay với lấy chiếc điện thoại màu đen để ở cuối giường. Đầu hơi nhức, hai mắt vẫn chưa mở ra được.
“A lô, Sasagaki nghe.”
Hơn mười giây sau, ông bật dậy khỏi đống chăn, cơn buồn ngủ đã hoàn toàn tan biến.
Cú điện thoại đó thông báo cái chết của Terasaki Tadao. Chết trên đường cao tốc Osaka Kobe. Vòng cua không đủ rộng, húc vào dải phân cách, một trường hợp điển hình của việc ngủ gật khi lái xe. Lúc đó trên xe chở hàng của anh ta có một lượng lớn xà phòng và thuốc tẩy rửa. Sau này Sasagaki mới biết, sau giấy vệ sinh, dân chúng bắt đầu tranh nhau mua tích trữ các mặt hàng này, vị khách hàng muốn nhập thêm, Terasaki đã không ngủ nghỉ gì, đi khắp nơi thu xếp kiếm mối hàng.
Sasagaki và mấy người nữa đến nơi ở của Terasaki lục soát, định tìm vật chứng liên quan đến vụ sát hại Kirihara Yosuke, nhưng không thể phủ nhận, đó là một hành động uổng công phí sức. Dù có phát giác gì chăng nữa, thì hung thủ cũng không còn trên thế gian này. Không lâu sau đó, một cảnh sát phát giác ra vật chứng quan trọng bên trong thùng xe chở hàng, chiếc bật lửa Dunhill, hình chữ nhật, góc cạnh rõ ràng. Mọi thành viên đội chuyên án đều nhớ rõ, Kirihara Yosuke cũng bị mất một cái y hệt thế. Thế nhưng, trên chiếc bật lửa này không phát giác ra vân tay của Kirihara Yosuke. Nói chính xác hơn, trên đó không có vân tay của bất cứ người nào… như thể đã được lau bằng vải hay thứ gì đó tương tự.
Cảnh sát cho Kirihara Yaeko xem chiếc bật lửa, nhưng chị ta chỉ hoang mang lắc đầu nói, giống thì giống thật đấy, song không thể khẳng định có phải là vật của chồng mình hay không. Phía cảnh sát lòng như lửa đốt, lại gọi Nishimoto Fumiyo thẩm vấn, tìm đủ mọi cách khiến cô ta thừa nhận. Viên cảnh sát phụ trách thẩm vấn thậm chí còn ngấm ngầm ám chỉ đã xác nhận chiếc bật lửa đó đích thực là của Kirihara.
“Dù suy luận thế nào, thì Terasaki có thứ này cũng là một điều hết sức kỳ lạ. Không phải cô lấy trên người nạn nhân đưa cho anh ta, thì là Terasaki tự lấy, chỉ có hai khả năng này thôi. Rốt cuộc là thế nào? Cô nói đi!” Viên cảnh sát phụ trách thẩm vấn đưa bật lửa cho Nishimoto Fumiyo xem, ép cô ta phải khai nhận.
Nhưng Nishimoto vẫn một mực phủ nhận, thái độ không chút dao động. Cái chết của Terasaki có lẽ khiến cô ta khá sốc nhưng từ thái độ của cô ta, không hề nhận ra vẻ ngập ngừng do dự.
Nhất định có nhầm lẫn ở đâu đó, chúng ta đã đi vào một con đường hoàn toàn sai lầm… Sasagaki ở bên cạnh quan sát toàn bộ quá trình thẩm vấn, tự nhủ.
8.
Vừa đọc bản tin thể thao, Tagawa Toshio vừa nhớ lại trận đấu tối qua, tâm trạng khó chịu lại một lần nữa cuộn trào. Đội Yomiuri Giants thua rồi thì thôi, vấn đề là quá trình trận đấu ấy. Vào thời điểm quan trọng nhất, Nagashima lại không đánh được. Tay đánh bóng số 4 xưa nay vẫn là trụ cột chống đỡ cho đội Giants luôn giành phần thắng, trong suốt trận đấu hôm qua đã thể hiện hết sức nửa vời, khiến đám đông khán giả sốt hết cả ruột. Vào thời điểm cần thiết nhất; anh ấy nhất định sẽ không phụ lòng khán giả, đó mới là Nagashima Shigeo! Dù cú đánh có bị tiếp sát thì cũng phải đánh một cú khiến các fan thỏa lòng, đó mới là bản lĩnh đàn ông của người được gọi là Mr. Giant chứ!
Nhưng mùa bóng này lại rất bất thường. Không, hai ba năm trước đã xuất hiện dấu hiệu rồi, nhưng Tagawa không muốn chấp nhận sự thực tàn khốc ấy, mới cố ý lờ đi đến tận bây giờ. Anh luôn tự nói với mình, chuyện này không thể xảy ra với Mr. Giants được. Thế nhưng, nhìn vào sự thực trước mắt, dù là một fan trung thành của Nagashima từ thuở thiếu thời, Tagawa vẫn buộc phải thừa nhận, bất cứ ai đến một ngày nào đó cũng phải già đi, dẫu tuyển thủ tài năng nổi tiếng đến mấy, cũng phải có ngày rời xa sân bóng. Nhìn bức ảnh Nagashima nhíu chặt lông mày sau khi bị “strike out”, Tagawa thầm nghĩ, có lẽ là năm nay rồi. Tuy mùa bóng mới bắt đầu, nhưng cứ đà này, chưa đến mùa hè, mọi người chắc sẽ bắt đầu xôn xao bàn tán chuyện Nagashima giải nghệ. Tagawa có một dự cảm chẳng lành, nếu đội Giants không thể đoạt chức vô địch, việc này rất có khả năng, năm nay muốn giành chức vô địch thực sự quá khó. Tuy năm ngoái, đội Giants đã đạt kỷ lục vô địch chín lần liên tiếp với khí thế áp đảo, nhưng ai ai cũng thấy rõ như ban ngày, cả đội bóng đã bắt đầu mệt mỏi, Nagashima chính là minh chứng cho điều đó. Lướt mắt xem qua bài báo nói về trận thắng của đội Chumchi Dragons xong, Tagawa gập báo lại. Anh ngước nhìn đồng hồ trên tường, đã bốn giờ hơn. Hôm nay chắc không có khách nữa rồi, anh tự nhủ. Trước ngày phát lương, hiếm có người nào đến trả tiền thuê phòng.
Đang há miệng ngáp vặt, anh chợt trông thấy phía sau cánh cửa kính dán thông báo thấp thoáng bóng người. Nhìn cái chân lộ ra là biết không phải người lớn. Chiếc bóng ấy đi giày thể thao. Tagawa nghĩ, chắc là đứa học sinh cấp I nào đấy tan học về đứng lại đọc thông báo giết thời gian. Nhưng mấy giây sau, cánh cửa kính mở ra. Một cô bé mặc áo sơ mi, bên ngoài khoác áo len cài khuy e dè bước vào. Đôi mắt tròn to khiến người ta liên tưởng đến một giống mèo quý gây cho Tagawa ấn tượng sâu sắc. Có vẻ cô bé là học sinh cuối cấp I.
“Có chuyện gì vậy?” Tagawa hỏi, chính anh cũng cảm thấy giọng mình rất dịu dàng. Nếu người đẩy cửa bước vào là đám nhãi bẩn thỉu mắt la mày lét ở gần đấy, giọng anh ta chắc hẳn sẽ rất lạnh lùng hờ hững, không thể so với lúc này được.
“Chào chú ạ, cháu họ Nishimoto.”
“Nishimoto? Nishimoto nào nhỉ?”
“Nishimoto ở khu nhà Yoshida ấy ạ.”
Giọng cô bé rành rọt. Tagawa nghe rất lạ tai. Lũ trẻ con mà anh quen biết toàn những đứa cứ mở mồm ra là biết ngay rặt một lũ xấc xược con nhà thiếu giáo dục.
“Khu nhà Yoshida… à?” Tagawa gật gật đầu, rút ra tập hồ sơ ở giá sách bên cạnh. Khu nhà Yoshida có tám hộ gia đình, nhà Nishimoto thuê phòng 103 nằm ở chính giữa tầng một. Tagawa xác nhận nhà Nishimoto đã hai tháng chưa trả tiền nhà, cần phải gọi điện giục rồi. “Vậy là,” ánh mắt anh trở lại với cô bé “cháu là con gái của chị Nishimoto?”
“Vâng ạ.” Cô bé gật đầu.
Tagawa xem lại bản đăng ký thuê nhà, chủ hộ là Nishimoto Fumiyo sống chung với con gái tên Yukiho. Khi họ mới chuyển đến mười năm trước, còn có người chồng, nhưng không lâu sau đó thì anh ta qua đời.
“Cháu đến trả tiền thuê phòng à?” Tagawa hỏi.
Nishimoto Yukiho cụp mắt xuống, lắc lắc đầu. Tagawa thầm nghĩ, biết ngay mà. “Vậy cháu có việc gì?”
“Cháu muốn nhờ chú mở cửa.”
“Mở cửa?”
“Cháu không có chìa khóa nên không vào nhà được, cháu không mang chìa khóa.”
“À.” Tagawa rốt cuộc cũng hiểu cô bé muốn nói gì, “Mẹ cháu khóa cửa ra ngoài rồi à?”
Yukiho gật đầu, nét mặt cô bé khi cúi đầu ngước mắt lên có một vẻ đẹp khiến người ta quên bẵng cô chỉ là học sinh cấp I, nhất thời, Tagawa cũng không khỏi rung động.
“Cháu không biết mẹ đi đâu à?”
“Không ạ. Mẹ cháu bảo hôm nay không đi đâu… nên cháu mới không mang chìa khóa theo.”
“Vậy sao?”
Tagawa nghĩ, tính sao nhỉ, rồi nhìn đồng hồ, lúc này mà đóng cửa thì sớm quá. Bố anh hôm qua đã đi thăm người họ hàng, đến tối mới về. Nhưng cũng không thể đưa chìa khóa dự phòng cho Yukiho được. Lúc sử dụng chìa khóa dự phòng, nhất định phải có mặt người của công ty bất động sản Tagawa tại đó, đây là một điều khoản trong hợp đồng giữa họ và người sở hữu khu nhà cho thuê ấy.
Đợi lát nữa mẹ cháu sẽ về thôi… nếu là bình thường anh sẽ nói thế, nhưng thấy nét mặt bất an của Yukiho đang nhìn chăm chăm vào mình, anh thật khó thốt ra những lời hờ hững như vậy.
“Được rồi, chú sẽ đi mở cửa hộ cháu. Đợi chú một lát.” Tagawa đứng dậy, bước lại gần két bảo hiểm để chùm chìa khóa dự phòng của các căn hộ cho thuê.
Từ văn phòng bất động sản Tagawa đến khu nhà Yoshida mất chừng mười phút đi bộ. Tagawa Toshio vừa nhìn phía sau thân hình nhỏ nhắn của Nishimoto Yukiho vừa bước đi trong con ngõ nhỏ được lát gạch một cách sơ sài. Yukiho không đeo cặp sách của học sinh cấp I, mà chỉ xách một cái túi bằng nhựa dẻo màu hồng. Mỗi khi chuyển động, trên người cô bé lại ra tiếng chuông đinh đinh đang đang. Tagawa lấy làm tò mò không biết đó là chuông gì, bèn để ý quan sát, nhưng nhìn bề ngoài không nhận ra được. Để ý cách ăn mặc của Yukiho, biết ngay cô bé không phải con nhà giàu có. Giày thể thao đã mòn vẹt, áo len xù lên, còn có mấy chỗ bị rút sợi, cả chiếc váy kẻ ca rô cũng khá sờn cũ. Mặc dù vậy, trên người cô bé này lại toát ra một vẻ quý phái mà trước đây Tagawa hiếm có cơ hội được tiếp xúc. Anh cảm thấy hết sức khó tin, tại sao lại như vậy chứ? Anh biết rõ mẹ của Yukiho. Nishimoto Fumiyo là một người đàn bà trầm tính, chẳng có gì nổi bật. Vả lại chị ta giống như những người sống ở cùng khu, trong mắt lúc nào cũng thấp thoáng vẻ thô lậu tầm thường. Tagawa ngạc nhiên vì Yukiho lại được thế này dù sống bên một người mẹ như vậy.
“Cháu học trường nào thế?” Tagawa hỏi vọng từ đằng sau.
“Trường cấp I Oe ạ.” Yukiho không dừng bước, hơi ngoảnh mặt lại trả lời.
“Oe? Chà…”
Tagawa thầm nghĩ, quả nhiên là vậy. Hầu hết trẻ con trong khu này đều học trường cấp I công lập Oe. Trường này mỗi năm đều có học sinh bị bắt vì tội trộm cắp, có mấy đứa chán cảnh nhà nên nửa đêm bỏ đi biệt tích. Buổi chiều đi qua đó, sẽ ngửi thấy mùi thức ăn thừa. Đến giờ tan học, sẽ có mấy tên không rõ lai lịch cưỡi xe đạp xuất hiện gạt tiền tiêu vặt của bọn trẻ. Chỉ có điều, trẻ con ở trường cấp I Oe không ngây thơ đến nỗi bị đám lừa đảo vớ vẩn ấy gạt gẫm. Nhìn Nishimoto Yukiho, Tagawa thực sự không cho rằng cô bé sẽ học ở loại trường như thế, nên mới mở miệng hỏi. Kỳ thực, chỉ cần nghĩ một chút, sẽ biết ngay với gia cảnh đó, cô bé không thể học trường tư được. Anh nghĩ, cô bé này ở trường hẳn là rất tách biệt với những đứa khác.
Đến khu nhà Yoshida, Tagawa đứng trứớc cửa phòng 103, gõ cửa mấy tiếng, rồi gọi “Chị Nishimoto”, nhưng không ai trả lời.
“Mẹ cháu hình như vẫn chưa về.” Anh nói với Yukiho.
Cô bé khẽ gật đầu, trên người lại vang lên tiếng chuông đinh đang. Tagawa cắm chìa dự phòng vào ổ khóa, vặn sang bên phải, tiếng ổ khóa vang lên lách cách. Đúng vào khoảnh khắc ấy, một cảm giác dị thường bùng nổ, dự cảm chẳng lành chợt lóe lên. Nhưng Tagawa vẫn tiếp tục vặn tay nắm mở cửa ra. Tagawa bước vào nhà, liền nhìn thấy một người đàn bà đang nằm trong phòng kiểu Nhật phía bên trong. Chị ta mặc áo len màu vàng nhạt và quần bò, nằm trên chiếu tatami, nhìn không rõ mặt mũi, nhưng chắc là Nishimoto Fumiyo.
Ồ thì ra chị ta ở nhà… vừa nghĩ đến đây, Tagawa bỗng ngửi thấy một mùi lạ.
“Hơi gas! Nguy hiểm!”
Anh vội đưa tay ra sau ngăn Yukiho đang định bước vào cửa, bịt chặt mũi miệng, rồi lập tức quay đầu sang nhìn kệ bếp bên cạnh. Trên bếp gas đặt một cái nồi, nút bếp được vặn mở, nhưng không thấy lửa. Tagawa nín thở vặn van gas độing lại, mở cửa sổ phía trên kệ bếp, rồi đi vào phòng trong, vừa liếc nhìn Fumiyo đang nằm gục bên cạnh chiếc bàn thấp, vừa mở cửa sổ, sau đó thò đầu ra ngoài, há miệng hít thở mạnh, sâu trong óc vẫn cảm thấy tê tê. Anh ngoảnh đầu lại nhìn Fumiyo. Sắc mặt chị ta tím tái, làn da đã hoàn toàn không còn sinh khí. Không cứu được rồi… trực giác cho anh biết điều đó. Trong góc phòng có một chiếc điện thoại màu đen. Tagawa cầm ống nghe lên, bắt đầu quay số. Nhưng lúc này, anh lại do dự. Gọi 119 à? Không, tốt nhất vẫn cứ nên gọi 110 trước… đầu óc Tagawa hỗn loạn. Ngoài ông nội chết bệnh ra, anh chưa từng thấy cái xác nào khác. Sau khi quay số 11, anh do dự giây lát, rồi đưa ngón trỏ nhấn vào số 0. Đúng lúc ấy, có tiếng “Chết rồi ạ?” từ ngoài cửa vọng vào.
Nishimoto Yukiho đứng ở chỗ tháo giày. Cánh cửa mở ra, ánh sáng ngược khiến Tagawa không nhìn rõ được nét mặt cô bé.
“Mẹ cháu chết rồi ạ?” Cô bé lại hỏi thêm lần nữa, giọng nói đã pha lẫn tiếng khóc nghẹn ngào.
“Giờ vẫn chưa biết được.” Ngón tay Tagawa dịch từ số 0 sang số 9, dứt khoát quay s.

Tin tức khác...