Giờ Ra Chơi ( chương 3)

Lts: Một trong những tác phẩm lẫy lừng cùa nhà văn Nguyễn Đình Toàn phải kể đến tác phẩm Giờ Ra Chơi. Trong tác phẩm này, tác giả kể lại chuyến đi nghĩ hè ở Đà Lạt của hai thiếu nữ vừa học xong trung học và thêm một người em trai của một trong hai thiếu nữ này.
Khi viết lần đầu và đăng từng kỳ trên báo Tuổi Ngọc của nhà văn Duyên Anh, tác phẩm Giờ Ra Chơi chỉ có 3 chương.
Nhưng sau đó, với những ái mộ của những độc giả muốn biết thêm về chuyện của cô Thục, khi cô này về Saigon, tác giả đã viết thêm nhiều chương nữa.
Với lời văn trong chuyện như là lời thơ, đã gây xúc động cho nhiều nhiều độc giả, nhất là những độc giả ở tuổi học trò.
Xin mời quý độc giả theo dõi..

CHƯƠNG BA
Xe chạy qua vài khu phố.
Đà Lạt về đêm đẹp vô cùng trong cái lạnh và vẻ mờ ảo của nó. Trên những ngọn thông nhìn nghiêng, những hạt mưa buổi chiều chưa khô hết, lóng lánh trong ánh sao, kéo dài như một giải lụa. Nhưng cũng có thể đó chỉ là mặt bóng cửa những cành lá. Kính xe đuợc hạ thấp, tôi ngửi thấy mùi nhựa thông thơm ngát trong gió lẫn với mùi phấn đánh mặt, mùi sáp môi và nước hoa tôi và Lãm dùng.
Xe chạy vào một biệt thự có con đuờng lát đá uốn cong khá dài, hai bên cây cối tươi tốt. Sân biệt thự có những bụi hoa nhiều mầu nở đầy bông.
Chúng tôi đuợc đón tiếp ngay ở ngoài thềm.
Hai vợ chồng chủ nhân đều còn trẻ, rất đẹp đôi, y phục lịch sự, trang trọng.
Chú Quyên giới thiệu chúng tôi với họ.
Người chồng nghiêng mình chào chúng tôi, bắt tay chú Quyên và Khôi.
Người đàn bà nắm tay tôi và Lãm đưa vào trong nhà.
Bà nói:
– Bụi hồng bạch trước thềm nhà tôi sớm nay bói đuợc mấy bông đẹp quá. Không ngờ đó là điều báo chúng tôi sẽ đuợc tiếp khách quý.
Lãm đáp lại bằng một câu không kém kiểu cách:
– Vâng, chúng cháu cũng vừa nhìn thấy khóm hoa tuyệt đẹp bên ngoài. Nếu không nghĩ đó là lời chúc tụng bác, chắc chúng cháu không dám vào.
Người đàn bà cười ròn, có vẻ ưng ý lối nói chuyện của Lãm.
Tôi thầm nghĩ, đó là thứ ngôn ngữ tôi không bao giờ học đuợc, và dù có học đuợc, chắc cũng không bao giờ dùng được.
Người đàn bà nói tiếp:
– Vậy lát nữa tôi sẽ hái biếu các cô mấy bông hoa đẹp nhất trong đám để cám ơn lời khen tặng của cô.
Giọng bà trong sáng, có vẻ một ngưòi thích vui đùa, yêu đời.
Tiếng nhạc nghe thấy cùng một lúc với mấy tấm kính hắt lờ mờ bóng người qua lại.
Những ánh đèn dấu sâu trong bóng tối, những tiếng đàn trầm làm cho cả cái hành lang dài dường như rung lên và tôi nghe tim mình rộn một nhịp xa lạ.
Vâng, những cuộc vui chơi thế này còn xa lạ đối với tôi. Lọt vào đó, tôi có cảm tưởng ra khỏi giờ ra chơi của mình. Tôi bắt đầu vào một cuộc chơi tôi chưa hề biết luật lệ. Thật tiện khi người ta đã nghĩ ra cách giấu các cuộc chơi như thế trong bóng tối. Ánh sáng tù mù của những ngọn đèn không đủ để nhìn rõ một người nào trong phòng. Nhờ vậy tôi cũng đỡ bối rối. Chúng tôi được đưa đến ngồi quanh một chiếc bàn thấp trong góc phòng. Nữ chủ nhân giới thiệu tôi với các con bà. Họ cũng cỡ tuổi chúng tôi.
Những lời chào hỏi khách sáo lại diễn ra. Sau đó ai về chỗ nấy. Cuộc vui được tổ chức nhân dịp sinh nhật một trong số những người con của chủ nhân và cũng để mừng họ về đây nghỉ hè. Trà. Nuớc ngọt. Rượu nhẹ. Bánh. Trái. Những bài hát êm ái, ngọt ngào trong căn phòng kín, quấn quýt bay vờn trong hương thơm của của son phấn. Đêm lạnh cái lạnh của đêm, cái lạnh của mưa, cái lạnh của những người ngồi một mình, nỗi bơ vơ dịu dàng của một đời sống còn nguyên vẹn, của nỗi vui bừng trong giọt rượu hiếm hoi thấm trên lưỡi chút vị gay gắt.
Khôi hỏi tôi có muốn nhẩy một bài không?
Tôi nói:
– Tôi nhẩy dở lắm.
Khôi kéo tôi đứng dậy, bảo:
– Không sao, chị nhẩy với tôi chứ có với ai đâu mà sợ.
Tôi nhẩy vụng về lúc đầu, nhưng lát sau, chân cũng không còn bị vướng víu nữa.
Tôi nói:
– Đây là lần thứ nhất trong đời tối nhẩy với một người con trai.
Khôi nói:
– Thế thì tôi hân hạnh quá.
Một thanh niên cầm micro hát môt tình khúc quen thuộc, nói đến những nỗi vui buồn của tình.
Tôi chưa biết gì về cả nỗi vui lẫn nỗi buồn đó. Nhưng hình như tôi hiểu đuợc, tôi đoán được, những lời nói dối để nói thật, những lời nói thật để nói dối.
Tôi không tìm thấy thú vui trong cái trò chơi mới này. Tôi bảo Khôi đưa tôi ra ngoài sân một chút cho thoải mái.
Đêm. Trăng chỉ có môt mảnh nhưng cũng đủ tạo một làn ánh sáng mỏng chiếu trên khu vườn. Những ngọn cây rậm rạp như đuợc tráng một lớp dạ quang. Cả khu vườn trông âm u trong một vẻ thướt tha, mềm mại.
Gió thổi từ các cánh rừng thông bên kia hồ đem theo những đám sương trông tưởng như có thể nắm giữ được.
Tiếng nhạc bây giờ, nghe thấy ở sau lưng, đuợc bưng kín bằng những cánh cửa kính, nặng như vọng qua một mặt nước. Bỗng dưng tôi cảm thấy buồn, chân tay rời mỏi. Hình như cho đến lúc này tôi mới mỏi mệt, cái mỏi mệt của chuyến đi. Nhưng sâu xa hơn, hình như tôi vừa nhận ra một vẻ gì đó của cái đời sống tôi vừa muốn gia nhập, từ trong đó, toát ra một sự từ chối. Bản chất tôi không thích hợp với một đời sống như thế, hay quả thật đời sống đã chứa sẵn sự từ chối đối với một số người đó [giống như sư từ chối của cơ thể được ghép tim mà tôi đã đọc trong các báo?].
Và tự nhiên tôi thấy sợ.
Khôi hút thuốc.
Tôi yên lặng nhìn đốm lửa cháy đỏ trong tay anh.
Khôi nhẩy lên ngồi trên thành bức tường thấp ngăn sân với khu vườn.
Tôi cũng ngồi xuống chiếc ghế đu treo bên cạnh.
Tôi đẩy khẽ chiếc đu và nghe thân thể lao đao theo nhịp của hai sợi giây treo đưa đẩy.
Tôi hỏi:
– Khôi có hay dự các buổi họp mặt thế này không?
Khôi cúi xuống nhìn tôi, yên lặng một lúc lát, bảo:
– Chị không thích không khí đó à?
Tôi nói:
– Có lẽ tại tôi bị mệt. Cũng có thể tại tôi không quen với lối sống ấy.
Khôi hỏi:
– Chị có muốn đi quanh một vòng trong vườn không?
Tôi đứng dậy, bảo:
– Đi.
Chúng tôi đi lại mé hiên bên trái, từ đó có những bực thềm dẫn xuống dưới vườn. Đêm, cây cỏ bình yên, xanh cái màu xanh huyền hoặc của trăng sao và sắc lá. Những viên sỏi tròn dưới chân reo lạo xạo. Những đóa hoa nở tung cánh trắng phảng phất thơm. Tôi cũng nghe da thịt gợn lên trong gió rét và tiếng thông reo vi vút lẩn khuất trên lưng chừng cao. Chính lúc đó tôi cũng nhận ra sự ít nói của Khôi. Sự ít nói của một người ở vào tuổi ấy không đáng ngạc nhiên sao?
Tôi nhìn bóng hắn in bên cạnh bóng mình trên lối đi tối khuất dưới những lùm cây và thỉnh thoảng hiện ra rõ ràng dưới bầu trời sáng đục.
Khu vườn rộng, chỉ còn cách mặt hồ bên ngoài một bãi cỏ xanh, những lá cỏ đã ướt sương. Tôi cũng không biết mình còn muốn tiếp tục đi dạo nữa không. Tôi đi như một cử động tự nhiên. Trăng dường nhập hẳn vào xương tủy làm cho người ngất ngư.
Đến ven hồ, chúng tôi dừng lại.
Tôi thấy Khôi cúi nhặt một hòn đá ném xuống hồ. Mặt nước như một tấm gương xao động hắt lên những tia sáng xanh.
Tôi chẳng còn nghe thấy tiếng nhạc trong nhà vọng ra nữa. Chỉ còn tiếng sóng nước róc rách dưới chân, tiếng gió căng trên mặt nước, tiếng những con cá đớp trăng, và tôi lịm cả người đi trong cái vắng vẻ, mung lung kỳ ảo này.
Trong lúc tôi tưởng như chính mình không thể đứng vững được nữa đó, tôi thấy Khôi nắm lấy hai vai tôi và cúi xuống nhìn thẳng vào mặt tôi.
Trên mô đất, trông hắn lênh khênh như môt chiếc bóng tay chân dài nghều.
Tôi muốn nhìn cho rõ mặt hắn, nhưng hai mắt tôi không thể xua hết đuợc bóng tối. Tôi chỉ nhìn thấy một cái bóng đen nặng trĩu đang cúi sát xuống mặt tôi. Tôi né sang một bên vừa kịp tránh khuôn mặt hắn áp xuống. Mặt Khôi rớt xuống vai tôi và tôi có cảm tưởng như ngàn con sóng dưới mặt hồ đang lùa cả vào dưới chân. Trong giây phút, tôi như bị một tia điện giật, tối tăm mặt mũi.
Tôi gọi:
– Khôi! Khôi!
Tôi vừa van xin vừa dỗ dành hắn. Tôi cũng muốn xóa lấp cái cử chỉ vừa rồi của hắn để nó đừng hiện ra một ý nghĩa nào rõ rệt. Những sợi tóc của Khôi làm gợn một bên má tôi, cái mái tóc “kỳ cục” của hắn. Và, nghĩ ra đuợc hai tiếng kỳ cục đó, tôi biết rằng tôi đã được cứu thoát, tôi đã tỉnh lại và tôi có thể vui đùa với hắn.
Tôi nói:
– Khôi đưa tôi vào trong nhà đi.
Khôi vẫn giữ chặt hai vai tôi. Hắn ngó thẳng vào hai mắt tôi.
Trong đêm tối, một lần nữa tôi lại có cảm tưởng như cái bóng đen của hắn đè nặng lên tôi.
Khôi hỏi tôi:
– Chưa ai hôn chị bao giờ sao?
Câu hỏi của Khôi làm tôi nóng mặt.
Nhưng tôi chỉ nói một câu nhẹ nhàng:
– Khôi hỏi kỳ quá.
Chúng tôi trở vào nhà, trở lại cái lối đi có những viên sỏi rạo rạo dưới chân. Nghe gió thổi qua khu vườn, tôi có cảm tưởng nó cũng cuốn dùm đi những bóng tối đang phủ kín trong lòng.
Lãm vẫn ngồi ở góc bàn cũ. Nhìn thấy chúng tôi Lãm hỏi:
– Đi đâu mất tiêu vậy?
Tôi nói:
– Ra vườn.
Lãm cười. Nó có vẻ biết rõ Khôi hơn tôi, hẳn thế.
Lãm nói:
– Không sao chứ?
Tôi bảo:
– Không sao.
Chú Quyên chắc ngồi trò chuyện với các chủ nhân ở đâu đó, trở lại bàn hỏi:
– Các cháu đã muốn về chưa?
Lãm nói:
– Cháu muốn ở lại chừng nửa tiếng nữa.
Câu trả lời rành mạch của Lãm làm tôi bâng khuâng. Lúc nào nó cũng nhìn thấy việc làm của nó một cách rõ ràng. Mọi việc đối với nó đều giản dị. Nó biết nó muốn gì. Và nó cũng biết nó không thích cái gì. Riêng tôi, tôi không lẫn lộn hai điều đó, nhưng cả hai chẳng bao giờ hiện đến với tôi một cách dứt khoát cả. Tôi không có một ước muốn nào rõ rệt. Mơ ước đối với tôi giống như một trái cây còn nguyên vỏ, có thể tôi biết bên trong có những gì, nhưng cái biết của tôi chỉ là dự đoán. Phải nhìn thấy tận mắt. Phải tự tay bóc vỏ. Phải được nếm mùi vị cái “trái đời” gay gắt đó. Nhưng cơ hội của tôi chưa đến. Trái chưa đủ chín. Có phải mỗi đời người chỉ là những cơ hội của người đó? Cơ hội xấu và tốt, may mắn và rủi ro. Và còn những gì nữa?
Tôi không nhẩy với Khôi nữa. Tôi nhẩy với chú Quyên một bài mặc dầu tôi không thich. Nhưng có sao đâu. Tôi vẫn có thể vui chơi cái trò chơi kỳ quặc này. Trong lúc nhẩy, chú Quyên hỏi tôi về việc học hành, về những mơ ước mai sau, về khí hậu Đà Lạt, về dự định của tôi sẽ ở lại Đà Lạt chơi trong bao lâu. Chú nói chuyện với tôi như với một người lớn. Tôi biết chú không biết cách nói chuyện với trẻ con vì chú không có con.
Tiếng nói của chú có một vẻ lạnh lẽo khác với tiếng nói tôi đã nghe thấy lúc buổi chiều. Hình như bề ngoài của chú chỉ là cái vỏ. Tôi nhớ đến một mẩu chuyện đã đọc được đâu đó, nói về một nhạc sĩ hồ cầm. Ông đã gần bẩy chục và vừa cưới một cô vợ trẻi. Ký giả có người đùa nghịch hỏi thăm về mái tóc bạc của ông. Ông ta bảo: “Đừng thấy mái nhà phủ tuyết mà tưởng ở bên trong không có lò sưởi”. Chuyện nhớ lại làm tôi buồn cười.
Chú Quyên hỏi:
– Cô cười gì thế?
Tôi nói:
– Cháu vừa nghĩ có lẽ chú ở Đà Lạt lâu quá nên cái lạnh đã thấm cả vào tiếng nói của chú.
Ông cười, bảo:
– Ấy là tôi đã mỗi ngày phải sưởi lại nó bằng vài ly rượu mạnh rồi đó.
Tôi nói:
– Cháu cũng thấy chú hình như mỗi lúc một đổi khác.
Chú Quyên bảo:
– Thế hả ? Rồi cô sẽ biết thêm một điều này nữa: tuổi tác dạy người ta cách đổi màu như kỳ nhông vậy.
Sau buổi dạ vũ, về nhà, chú Quyên còn rót mời chúng tôi, mỗi đứa một ly rượu nhỏ nữa trước khi đi ngủ. Khôi ngồi thụt đầu trong trong chiếc ghế bành của hắn, như thói quen, nhắm mắt không nói gì.
Chú Quyên hỏi Lãm có vui lúc buổi tối không?
Lãm nói, cháu nhẩy lu bù và bây giờ cháu buồn ngủ quá.
Trông ông chững chạc, bề thế, rõ ra một người giầu có. Nhưng không biết có phải vì tưởng tượng mà tôi vẫn thấy quanh ông một sự lạnh lẽo, trơ trọi của một người thiếu thốn một cái gì đó, tuổi già, một người bạn đời đã chết.
Một ngưòi bạn đời chết đi, điều đó có thể khiến người ta trở thành kẻ mất bóng hay luôn mang trên mình cái bóng của người đã mất? Có một sự gì đó không ổn đối với một người góa thật.
Khuya trở về phòng, thay quần áo xong, đứng bên cửa sổ nhìn xuống xuống khu vườn, trông ra mặt hồ trắng ngần sương khói và ánh trăng, tự nhiên tôi lại thấy buồn. Trở vào giường nằm, tôi nghĩ đến Khôi và vụ thoát hiểm vừa rồi, lòng áy náy, nhưng sự mệt nhọc suốt từ sáng giúp tôi ngủ một giấc không mộng mị tới sáng.

Tôi thức dậy lúc mặt trời còn ủ kín trong sương. Trên những ngọn lá non, ánh sáng ấm áp của những tia nắng đầu tiên, chiếu qua màn sương, tựa trong suốt. Những tiếng chim sâu kêu liếp chiếp dưới vườn vọng vào tận trong giường. Trời xanh không gợn một áng mây nhìn thấy sau những rặng núi xa. Mùa hè cao nguyên có thể cảm thấy trong mùi lá cây bị nắng hơ nóng, mùi đất ẩm, mùi của những bông hoa đã héo rụng. Tôi trở dậy, đánh răng, rửa mặt, xuống nhà ăn sáng. Sau đó, chú Quyên đi đến hãng của ông. Tôi, Lãm và Khôi ra phố chơi. Chúng tôi thực hiện tất cả những ý muốn đã định từ trước, dạo phố, leo núi, cưỡi ngựa, bơi thuyền. Trong những ngày kế tiếp, Khôi còn dẫn tôi đi thăm các vườn trái cây, ăn mận và dâu hái tại chỗ. Đó là lần thứ nhất tôi nhìn thấy những cây dâu. Trong đám lá xanh bò lan sát mặt đất, những trái dâu chín đỏ trông quyến rũ lạ lùng.
Khôi bảo:
– Coi chừng thuốc sát trùng. Ăn vào đau bụng chết.
Lãm nói:
– Không sao. Có lẽ mình cũng nên sát trùng tận ruột một lần.
Những trái mận non đắng ngắt. Nhưng thích thú là bứt từ trên cành xuống bỏ vào miệng.
Tôi cũng nói đùa với Khôi:
– Nụ hoa không đụng tới của Khôi, đôi khi cũng chỉ kết thành những trái đắng chát này thôi.
Đứng trên sườn núi nhìn xuống những rừng thông, những vườn cây trái xanh mướt, tôi tưởng chừng như mùa xuân ẩn nấp đâu đó chỉ cần một ngày, một trận gió lướt qua, sẽ hiện ra bằng những búp nõn, hoa nụ.
Có những buổi trưa chúng tôi không về nhà, rủ nhau đi ăn tiệm, lang thang trong các khu phố, vào quán ngồi uống cà phê. Ở Đà Lạt có sự sung sướng nhất là hình như thời tiết làm cho người ta không biết mệt. Không khí trở thành một thứ mật bổ dưỡng, chúng tôi đã bơi trong biển mật đó. Có những buổi chiều, mặt trời vàng chiếu trên các cánh rừng xa, trông tưởng như tất cả lá đều biến thành hoa. Cũng có hôm trời chuyển mưa bất chợt, những cơn mưa làm cho trời thấp xuống, chúng tôi đạp thuyền vội vàng vào bờ, nhưng có khi ngồi chán chê trong quán, vẫn chưa thấy mưa.
Mặt hồ như tấm gương soi nhan sắc Đà Lạt. Trong những cơn giông muộn màng của những ngày thời tiết biến chuyển đột ngột đó, Đà Lạt trông xanh xao, và chúng tôi tha hồ nô giỡn trên các quãng đuờng vắng vẻ.
Khôi cũng giữ đúng lời hứa, ngồi canh cho tôi ngủ một giấc ngoài hiên nhà thủy tạ. Đó là buổi chiều, không, đúng hơn, một hoàng hôn, mặt trời đã lặn từ lúc nào khi chiều chưa hết, và tôi có cảm tưởng bao nhiêu hương mật của đêm đã quần tụ dưới những đám mây đen đang sa trên các đỉnh núi, mật và hương thơm đầy trong nếp áo. Tôi ngủ. Tôi đã cố ngủ trong khi hai tai vẫn muốn dỏng lên nghe những tiếng gió thổi từ mặt hồ lên, hút qua khe những sợi giây đan ghế và nghe những tiếng rì rào từ cánh rừng đâu đó, đang cùng với bóng đêm bủa xuống vây kín thành phố, giống như một tấm màn buông trên chiếc nôi.
Tôi sung sướng trong tưởng tượng của mình và còn đuợc ru bằng tiếng hát khẽ của Khôi ở bên cạnh :
Em có biết một ngày
Mặt trời không mọc ở phía đông
Không lặn ở phia tây?
Nhưng làm gì có một ngày như thế.
Tôi chỉ nhớ một ngày
Người yêu dấu của tôi đã chết.
Một bài hát tôi chưa từng nghe ai hát, trong bóng tối nhòe nhoẹt, trong giấc ngủ không đến hẳn, nghe âm vang như từ một cõi xa xôi nào, từ một cõi mơ. Có phải có những giấc mơ không cần ngủ?
Tôi hỏi:
– Bài Khôi hát đó của ai vậy?
Khôi không trả lời thẳng câu hỏi của tôi.
Hắn hỏi lại tôi:
– Chị có biết một cây cầu nào chưa ai đi qua?
– Có. Cầu vồng?
– Chị có biết cánh đồng nào ngướ ta trồng một thứ cây không mọc?
– Có. Cánh đồng xương cốt.
– Chị có biết đêm ở nơi nào không có bóng tối?
– Đêm của những người mù, phải không?
Khôi cười bào tôi:
– Đó là những gì tôi muốn viết thành những bài hát của tôi.
Tôi bảo Khôi:
– Sao Khôi không hát hết cho tôi nghe một bài?
– Đó là những bài hát chưa thành hình thù rõ rệt của tôi. Tôi chưa hát cho ai nghe bao giờ. Những gì chị vừa nghe là những câu thứ nhất.
Tôi hỏi:
– Tại sao Khôi không viết cho xong?
– Vì tôi thấy nó không được hạnh phúc.
Tôi nghe Khôi nói và tôi xúc động. Có lẽ Khôi có thể trở thành một người viết ca khúc có tài. Có lẽ chúng tôi không được hạnh phúc.
Lúc đó trăng đã lên. Trăng sau những ngày mưa vẫn xanh biếc như thuở nào. Trăng mà tôi biết cò người đã dẫm lên trên đó. Sau những đám mây đen, ánh sáng trông buồn rũ rượi.
Khôi cũng nằm im không nói gì nữa.
Chúng tôi nhìn nhau qua khe hở của của những sợi dây đan chiếc ghế mình đang nằm.
Tôi nói với Khôi:
– Nghe sóng vỗ dưới chân hệt như mình đang nằm trên một boong tầu vậy.
Khôi hỏi:
– Chị có thích bỏ đi xa không?
– Chưa bao giờ tôi nghĩ đến điều đó cả.
– Bữa cơm chiều nay chú Quyên lại mất công chờ mình.
– Đã có bé Lãm ngoan ngoãn của chúng ta đại diện rồi.
– Còn bao nhiêu ngày nữa chúng ta sẽ trở về Sài Gòn?
– Một tuần.
– Tôi cũng bắt đầu thấy chán Đà Lạt rồi.
– Chị không vui trong kỳ hè này sao?
– Thì cũng chỉ như một giờ ra chơi.
– Chúng ta sẽ gặp lại nhau chứ?
– Bao giờ?
– Môt năm. Hai năm. Ngày trở về Sài Gòn. Tôi không hẹn với Khôi, nhưng nếu Khôi muốn gặp lại tôi không có gì khó.
– Khó chứ. Bởi vì chị không hẹn nên tôi không có cớ.
– Khôi không tạo ra cớ một mình được à?
– Tưỏng tượng bây giờ nên dành cho con gái.
– Thế con trai làm gì?
– Chờ.
– Khôi muốn tôi hứa hẹn với Khôi gì bây giờ?
– Chị hẹn chứ đừng hứa.
– Khôi sẽ hát cho tôi nghe một lần bài hát của Khôi khi Khôi viết xong nhé?
– Nhưng… nếu tôi không viết được?
– Thì Khôi hãy cho tôi hay là Khôi không viết được.
– Tại sao lại những bài hát?
– Chỉ là cái cớ Khôi muốn tôi nói với Khôi thôi mà.
– Có lẽ sẽ khó khăn. Kỳ hè này là cơ hội tốt nhất, nhưng chúng ta đã chẳng làm nên trò trống gì.
– Bởi vì tôi chưa muốn gây ra một chuyện nào cả.
– Trở lại Sài Gòn sẽ chẳng có dịp nào tôi được ngồi với Thục thế này nữa.
– Bây giờ Khôi gọi tôi bằng tên trống không thế à?
– Tôi còn muốn đổi cách gọi chị một lần nữa.
– Khôi có thể gọi tôi thế nào cũng đuợc. Nhưng tôi không thay đổi nhanh chóng.
– Tại sao chị khó khăn quá thế?
– Khôi không cho là phải à?
Chúng tôi nói chuyện với nhau, ném trả những lời đối đáp, và một lát sau tôi cảm thấy choáng váng. Hình như tâm não tôi chùng hẳn xuống trong sự loãng nhạt, buồn bã. Tách nước lạnh ngắt trong tay, tôi cầm lên nhưng không uống. Tôi cũng chẳng muốn đổi một tách nước mới. Đêm xuống từ bao giờ, sao lấp lánh trên cao, tiếng sóng nước vỗ dưới hồ trở thành nhịp đưa đẩy, tách nước muốn rớt khỏi tay, tôi đặt lại vào trong chiếc đĩa nhỏ, ánh sao gợn trên mặt vàng của tách trà. Tất cả cái ẩm lạnh của cao nguyên len lỏi trong những đám sương gió cuốn bay lướt thướt. Đêm trên những rừng thông bắt đầu đen sẫm lại, tiếng reo xào xạc thổi tới từng hồi lẫn với tiếng chuông nhà thờ làm rung cả ngực [hồi chuông giống như ngày tôi đặt chân xuống Đà Lạt], những tiếng chuông bây giờ đã vương vất nỗi nhớ nhung, đã chứa trong nó một quá khứ ngắn ngủi, những tiếng chuông có lẽ sẽ có lúc tôi nhớ lại một ngày nào đó khi trở về Sài Gòn.
Khôi bảo:
– Chị muốn ăn cơm nhà hay cơm tiệm?
Tôi nói:
– Tùy Khôi.
Đi trong đêm Đà Lạt là đi trong hơi thở của núi rừng. Những cây anh đào vươn các cành trơ trụi trong sương, mùa hoa còn lâu lắm mới tới.
Chúng tôi leo dốc lên phía chợ vào một tiệm ăn. Khôi chiều chuộng tôi trong bữa ăn. Trong căn phòng kín, nhìn sâu qua những tấm kính chắn, bên ngoài trời đen thấp thoáng ánh đèn vàng rọi trên những vỉa hè sạch sẽ. Trời lạnh cóng, những lá xà lách và cà chua ăn lạnh miệng. Quán vắng người, chỉ loáng thoáng một vài thực khách ngoại quốc. Một người đàn bà tóc vàng ngồi hút thuốc lá, nói chuyên luôn miệng với người đàn ông ngôì đối diện, tôi đoán chừng họ là những nguời Pháp. Giữa bữa ăn, chúng tôi trông thấy Lãm đi qua ngoài cửa kính. Lãm giơ tay vẫy chúng tôi trước khi đi khuất.
Tôi nói với Khôi:
– Chúng mình bỏ cơm nhà hoài, chú Quyên la chết.
Khôi nói:
– Không đâu. Ổng đã quen với lối sống ấy quá rồi.
Tôi ngó Khôi và thấy hắn trở lại vẻ lầm lì cũ. Hai mắt Khôi cúi nhìn đĩa thức ăn làm cho cái quầng mắt trũng thêm xuống.
Tôi nói:
– Cứ kể làm những người khách lạ trong một thành phố cũng thích.
Khôi hỏi:
– Chị uống trà nữa không?
– Tôi bắt đầu sót ruột vì trà của Khôi rồi.
Tuy nhiên chúng tôi vẫn kêu một tách trà nóng.
Khôi bỏ đường, vắt chanh vào tách cho tôi.
Tôi hỏi Khôi:
– Tại sao trong bài hát thứ nhất của Khôi, Khôi đã nói đến người chết?
Khôi nhìn tôi, hai mắt đăm đăm làm tôi sợ.
Khôi nói:
– Sửa soạn đi về. Sắp tới giờ giới nghiêm rồi
Chúng tôi ra khỏi quán. Đường phố đã vắng, chỉ còn những người dọn hàng ở chợ về muộn, một vài người ngoại quốc và những cặp trai gái cũng đang trên đuờng trở về nhà đi trên các ngả đường ở phía xa. Chúng tôi đi bộ về nhà.
Gió kéo luớt trên các lối đi thổi vào chân. Mặt hồ lúc ấy lao xao những đợt sống vàng chói ánh trăng và sương mù phủ kín trên những cành thông nhìn thấy ngang tầm mắt dưới cuối dốc.
Những ngày nghỉ học cuả chúng tôi sắp chấm dứt. Đà Lạt nhỏ bé, thơ mộng, chẳng làm mới thêm những ngày sau cùng của chúng tôi. Vẫn những cuộc dạo phố, đi xem suối, các vườn trái cây, vườn trồng hoa, những buổi chiều, những buổi sáng vui chơi trong các hàng quán, những câu chuyện nói với Khôi, những cuộc nói chuyện tay ba với Lãm, những hôm chú Quyên đi nhặt chúng tôi từng đứa một về nhà ăn cơm. Một tháng sống ra ngoài lề lối một chút.
Chúng tôi chỉ còn một ngày hôm nay nữa, mai sẽ về Sài Gòn, bắt đầu lại những kỷ luật cũ.
Chú Quyên bảo:
– Các cháu nhất định về à?
Lãm nói:
– Cháu hết muốn tâp chịu cái lạnh ở đây một mình rồi.
Chú Quyên cười:
– Vậy thì bao giờ có người chịu rét chung, cháu cứ lên đây, chú sẽ cho ở nhờ.
Chú Quyên cũng nói, tôi có nét phảng phất giống người đàn bà đã chết của ông, giống người đàn bà đó khi còn trẻ, giống đứa con gái ông bà đã không sinh ra đuợc. Ông cũng nói đã cảm thấy buồn chán mỗi buổi sáng thức dậy, ban đêm thui thủi trở về nhà, những bữa ăn, những ly rượu uống một mình trong cái lạnh lẽo của Đà Lạt, chắc sẽ khiến ông già mau hơn nữa. Tôi không biết ông nói đùa hay nói thật khi ông ngỏ ý muốn xin tôi làm con nuôi. Tôi quá trẻ để trở thành vợ kế ông, nhưng lại quá già để làm con nuôi ông. Tại sao, cái ý muốn kỳ cục đó ?
Buổi sáng chúng tôi ra phi trường ông đã tự lái xe đưa chúng tôi đi.
Ông cũng ghé qua chợ mua cho Lãm và tôi mỗi đứa một bó hoa hồng và một giỏ trái cây. Đi qua những quầy bán hoa trái, là lúc tôi muốn ở lại Đà Lạt. Cái không khí rét lạnh sớm mai, mấy bực thềm lấm tấm uớt nước, nước rớt ra từ những bó hoa lớn được mang từ các xe tải vào chất trong các vựa để bầy bán, có thể đó chỉ là những hạt sương đọng lúc đêm khuya. Những trái cây cầm mát tay. Học trò tấp nập đi mua sắm những thứ cần dùng cho niên học tới. Những chiếc áo đủ màu bay tung trong gió. Tôi thở cái hơi thở của hồ nước sáng cái ánh sáng âm u của một ngày vừa rạng trong sương.
Chú Quyên hỏi:
– Còn ai muốn mua gì nữa không?
Lãm nói:
– Cháu chỉ còn muốn mua lại những ngày hè.
Chú Quyên chia những gói đồ để cho chúng tôi cầm ra xe.
Ông vừa cười vừa bảo:
– Chú cũng đang muốn bán lại tuổi già của chú đây. Nhưng có lẽ tại chú quá giầu nên không ai có đủ tiền để mua.
Tôi cười hỏi nhỏ Khôi:
– Sao không thấy Khôi nói gì từ sáng tới giờ?
Khôi nhìn tôi, bảo:
– Sáng nay chị không chải đầu à?
– Tôi lười quá.
Chú Quyên quay sang bảo tôi:
– Hãy lên trên này học Chính Trị Kinh Doanh.
– Sao vậy chú?
– Sau này cô sẽ dễ giải quyết những công việc bất ngờ hơn học văn chương.
Tôi cười bảo:
Xe chạy lên phi trường khi những tia nắng đầu tiên chiếu lên trên các lề đường, nhưng ở nhiều quãng rừng nắng đã chói chang. Những cánh rừng đan xuyên nhau nhìn qua cửa xe ở những khúc quẹo. Đà Lạt lùi xa dần ở phia sau. Rừng bây giờ vàng óng.
Chú Quyên nói:
– Trời tốt. Các cháu đi máy bay khỏi sợ.
Chú thả chúng tôi ở phi cảng, trở lại Đà Lạt ngay sau đó. Tôi ngỏ lời cảm ơn ông một lần nữa về những ngày vừa qua. Ông chúc chúng tôi sẽ thi đỗ và hãy nghĩ tới việc lên học trên Đà Lạt, trước khi cho xe chạy.
Chúng tôi làm các thủ tục giấy tờ cần thiết và chờ phi cơ tới. Trời bắt đầu nóng. Trên trán Lãm đã thấy lấm tấm mồ hôi. Thấy Khôi không nói một tiếng nào, Lãm hỏi nhỏ tôi, có chuyện gì giữa hai người không? Tôi nói “không, trên nguyên tắc”. Lãm cười bảo, cái nguyên tắc của mày coi bộ không được rõ ràng cho lắm. Tôi nói, rõ như ban ngày vậy, không có gì để nghi ngờ. Lãm vẫn cười bảo, nhất định phải như thế chứ, chỉ phiền một nỗi, giờ ra chơi sang năm thời tiết chắc sẽ thay đổi. Tôi cũng cười bảo, một năm thì còn gì là thời tiết nữa mà lo lắng.
Máy bay đáp xuông sẻ xuống Sài Gòn. Xe nhà Lãm đón chúng tôi tại phi cảng, đưa tôi về nhà trước. Sài Gòn của một tháng xa không có gì thay đổi, hay chỉ thay đổi một chút nắng, một chút bụi bám bên ngoài các hàng cây.
Lúc xuống xe, Lãm chia phần quà cho tôi cùng với bó hoa chú Quyên mua cho. Tôi bắt tay Khôi lúc từ giã. Đây là lần thứ nhất tôi tự ý muốn bắt tay một người. Cái trò chơi tôi thường lấy làm lạ ấy của mọi người, lần đầu tiên tôi cảm thấy thực sự là trò chơi của mình.
Tôi bảo Khôi:
– Tôi sẽ gặp lại Khôi chứ?
Khôi không nói gì.
Chiếc xe lăn đi và hình như tôi nghe Lãm hỏi Khôi, có phải Khôi yêu Thục không? Câu nói nghe thoáng làm tôi thấy ngôt ngạt. Nhưng có lẽ đó chỉ là cái không khí nồng nực sẵn có của Sài Gòn, Sài Gòn chúng tôi vừa trở về từ Đà Lạt. Khôi yêu tôi hay không, điều ấy có nghĩa gì? Bao nhiêu tuổi thì người ta nên nghĩ tới điều đó? Và bao nhiêu tuổi thì người ta hiểu đuợc điều đó?
Nhà vắng hoe. Mẹ tôi và em Hiền đi thăm anh Trí. Anh vừa vào trại nhập ngũ tuần trước. Ba tôi cũng đi từ sáng chưa về. Người giúp việc trong gia đình xếp dọn đồ đạc, va-li cho tôi và cho biết như vậy.
Một tháng xa nhà, viêc anh Trí nhập ngũ là thay đổi thứ nhất [và có lẽ cũng quan trọng nhất]. Tôi trở lên phòng mình trên lầu, qua phòng anh Trí, tôi hé cửa nhìn vào. Giuờng nệm, sách vở đuợc xếp đặt gọn ghẽ. Trên mặt bàn, tấm ảnh anh Trí chụp ngày vừa tốt nghiệp sư phạm lồng trong khung kính, trông nghiêm nghị làm tôi buồn cười. [Thôi, anh Trí, nhờ anh một tí!]. Anh sẽ tha hồ bịa đặt về những ngày đi lính của anh để nạt tôi. Cũng có thể anh không nói một điều gì. Biết đâu anh sẽ không còn thể nói một điều gì, một ngày nào đó…
Tôi khép cửa, trở về phòng mình, ngồi xuống bàn học, ấn tay trên cái nút đèn, ánh sáng rọi trên mặt kính lót bàn hắt lên làm chói mắt. Cái mặt kính ấy, cái ánh sáng ấy, tôi đã thắp lên trong bao nhiêu năm, đã nhìn thấy trong bao nhiêu năm, tôi sắp bắt đầu lại trong nhiều năm nữa, đề sửa soạn tương lai. Tôi sẽ làm được gì, hay chỉ để dành lấy một phần ăn trong tương lai?
Buổi chiều mẹ tôi về nói cho biết chuyện anh Trí. Anh đã sang thụ huấn tại quân trường, đã bắt đầu công việc gọi là “chà láng“. Hãy cố gắng anh Trí, cố gắng làm trơn nhẵn hết những gì còn sót lại trong anh. Chủ nhật tới em sẽ vào thăm anh. Em sẽ rủ thêm một đứa bạn để anh “thử thời vận”. Hình như đã có lần em nghe anh nói, đàn bà là niềm an ủi lớn nhất của cuộc đời. Em mong anh không lầm. Để chúng ta, mỗi người, đều có thể tiếp tục đời mình, truớc sự thật, cám dỗ, hứa hẹn và đe dọa.
(Hết Chương 3)

Tin tức khác...