Thời Báo Vietnamese Newspaper

Xin Phán Quyết Của Quý Vị

Lời người dịch: Michael Bruce, chào đời ở Alberta, là xạ thủ pháo binh của quân đội Hoàng Gia Canada trong Thế Chiến II. Truyện ngắn Gentlemen, Your Verdict trích từ tuyển tập Tigers of the Snow do James A. MacNeill và Glen A. Sorestad biên tập, Thomas Nelson and Sons Ltd xuất bản năm 1973.

Một chiếc tàu ngầm trúng mìn và chìm sâu dưới đáy biển. Hai mươi thủy thủ chôn chân trong lòng con tàu. Bảy ngày nữa đội tiếp cứu mới đến được. Không khí trong tàu chỉ còn đủ cho hai mươi thủy thủ sống sót không tới ba ngày. Tuy nhiên nếu chỉ có năm người thì lượng không khí ấy sẽ đủ cho họ sống sót bảy ngày cho tới khi được tiếp cứu.
Bạn là thuyền trưởng, bạn sẽ quyết định thế nào?
“Nhân chứng kế tiếp.”
“Tòa gọi chuyên viên thủy lôi Preece.”
Đại úy Paull cúi đầu và lấy tay che mặt. Trong không khí căng thẳng của phòng xử tĩnh lặng chung quanh ông, ông vẫn chỉ thấy cái khoang dài của con tàu với mười lăm người đàn ông nằm chết trên sàn và năm người khác đứng chết lặng, trố mắt nhìn. Cho dù phòng xử yên tĩnh tới mức có thể nghe được tiếng một cây kim rơi xuống, ông vẫn chỉ nghe thấy âm thanh ma quái vang vọng lúc mười lăm người thuỷ thủ lăn ra chết và những chiếc tách của họ rơi lăn lóc bên chân họ.
“Bằng lời lẽ của riêng mình, xin nhân chứng kể cho tòa nghe chuyện gì đã xảy ra.”
“Vâng, thưa quý tòa, như thế này. Chúng tôi tham dự chuyến hải hành trắc nghiệm, và tàu đang chạy khoảng mười sải cách Steins Point, thì chúng tôi bị trúng mìn…”
Đại úy Paull bịt tai để khỏi phải nghe gì thêm. Anh là người kể câu chuyện ấy trước tiên. Đến phiên kỹ sư Nordin. Kế tiếp là Speer, rồi đến Jenvey. Bây giờ Preece đang lập lại những lời khai ấy. Cùng một câu chuyện nhưng khác nhau ít nhiều, và mỗi câu nói lại như một lằn roi quất lên người anh.
Tàu của họ đang di chuyển chậm ở độ sâu mười sải thì trúng mìn. Có lẽ đó là loại mìn âm thanh trôi dạt hoặc mìn từ tính và đã rỉ sét từ lâu, bởi nếu con tàu chạm trực tiếp vào nó thì ngay lập tức mọi thứ đã tan tành và chả còn ai sống sót.
Chiếc tiềm thủy đĩnh bị dộng ngược lại lúc khoảng 1430 giờ như bị trúng cú búa của Thiên Lôi. Đuôi tàu nhấc bổng lên, tàu bật nghiêng qua một bên rồi chúi mũi, đâm nhào xuống đáy biển. Thủy thủ ngã nhào hoặc bị quăng dính chùm vào nhau. Đại úy Paull, tối tăm mặt mũi, và thấy mình nằm bên dưới bốn người thủy thủ to lớn khác.
Dường như ngay sau đó, giọng của thuyền trưởng Oram vang động: “Tắt máy. Mở bơm một và hai. Mở bơm bốn và sáu.”
Máy tàu gầm rú hết cỡ, và mọi người biết ngay lý do. Vụ nổ đã thổi bay cánh quạt. Lúc này con tàu không thể chạy lùi lại nữa và nếu không được điều chỉnh ngay, phần mũi bằng sắt của tàu sẽ dúm lại như lon nước bằng thiếc khi con tàu đâm nhào xuống đáy biển.
Tiếng máy tắt hẳn, và mũi tàu bắt đầu nổi lên khi con tàu thôi tròng trành. Nhưng tàu vẫn tuột về phía trước, càng lúc càng sâu, vì vẫn còn đà từ lúc bắt đầu lặn.
“Mở bơm bảy và tám. Nâng cao cánh lái mũi tàu. Bẻ lái qua trái tối đa,” giọng thuyền trưởng lại vang lên.
“Bánh lái bị kẹt, thưa thuyền trưởng,” người cầm tay lái nói.
Đúng lúc đó con tàu đâm sầm vào vật gì đó. Trừ những ai đang bám vào chỗ nào đó, toàn bộ thủy thủ đoàn ngã nhào, và đổ trượt về phía trước khoang tàu. Tuy nhiên tốc độ chìm của con tàu đã giảm bớt, thân tàu gần như nằm ngang, và bụng tàu nằm trên triền cát nhô ra từ Steins Point, chứ không phải nền đá của đại dương.
“… và thuyền trưởng ra lệnh: Mọi người báo cáo tình trạng máy móc của mình.” Giọng nói của nhân chứng Preece xuyên thủng lớp sương mù trí nhớ của vị đại úy.
Họ báo cáo. Cánh lái phía mũi tàu không chuyển động được, chắc vì bị vùi trong cát. Máy vô tuyến dù bị hư hại nhưng vẫn còn sử dụng được. Những khoang chứa nước phía mũi tàu không bơm nước ra hoặc hút nước vào được, những ống gió đã bị cát bít kín. Cánh quạt phía đuôi tàu đã mất, bánh lái hư hại và khoang chứa ở đuôi thì ngập nước. Tất cả những cửa ra đều kẹt cứng một cách tuyệt vọng. Nhưng không biết nhờ một phép lạ nào đó mà nước chưa rỉ vào lòng tàu.
Tình hình thủy thủ đoàn tương đối ổn định. Một thủy thủ, chắc là bị chấn thương nặng, đã chết, hai người khác bị gẫy xương sườn. Những người còn lại bị bầm dập hoặc trầy trụa.
“Gọi cho hậu cứ,” thuyền trưởng Oram ra lệnh cho chuyên viên vô tuyến. “Và làm ơn cho tôi biết ngay khi liên lạc được.”
“Thưa thuyền trưởng, hậu cứ gọi cho mình,” một giây sau, chuyên viên vô tuyến báo cáo. “Tàu tiếp liệu của mình cũng bị va chạm mạnh và họ nghĩ là có thể mình đã bị trúng.”
“Đúng, đưa tôi nói chuyện với họ,” và thuyền trưởng Oram cầm ống nói vô tuyến.
“Vâng, chắc chắn là mìn rồi. Trục tay lái chúng tôi bị hư, cánh quạt văng mất, và tàu chìm xuống đáy biển cát phía ngoài Steins Point. Khoang chứa nước phía đuôi tàu ngập nước, tàu không di chuyển được nữa. Tất cả mọi cửa ra đều kẹt cứng, kể cả những cửa thoát hiểm. Chuyên viên thủy lôi Kimmel đã chết, nhưng những người còn lại đều bình yên… Chúng tôi ở độ sâu ba mươi sải. Có thể tìm chúng tôi tương đối dễ dàng và chúng tôi có đủ không khí để thở cho khoảng hai ngày.”
Có tiếng xào xạc mơ hồ trong ống nghe khoảng vài giây đồng hồ… Và mặt của thuyền trưởng Oram tái đi.
“Chừng nào thì chiếc thứ nhì sẵn sàng, sir?” ông hỏi. Có một khoảng im lặng rồi chiếc ống nghe vô tuyến lại xạc xào. “Thế còn máy bay thì sao, sir?”
Có một khoảng ngừng khác lâu hơn và cái ống nghe vô tuyến lại lao xao gần nửa phút đồng hồ. “Tôi hiểu, sir,” ông nói, gần như thì thầm. Rồi ông đặt ống nghe vô tuyến xuống và nhìn đăm đăm vào khoảng không trước mặt gần một phút đồng hồ.
“Chuyện gì vậy, thưa thuyền trưởng?” Đại úy Paull dò hỏi.
Thuyền trưởng Oram quay lại nhìn anh: “Như anh cũng thấy, tàu tiếp liệu của chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi vụ nổ. Nó làm trục bánh lái bị kẹt khoảng một phút. Chuyến đi của mình là để thử những cái trục giữ thăng bằng mới xem khả năng chịu đựng của chúng nó trong bão tố thế nào, như cơn bão vừa rồi. Nó xô tàu tiếp liệu của mình vào mấy tảng đá – nhớ vụ đó không? – và nó cháy bùng như ngọn đuốc… Cái kế tiếp mà gần nhất thì đang ở hải quân công xưởng, cách đây bốn trăm dặm, với quá nửa vỏ tàu bị tháo rời. Nó có thể đến đây trong vòng một tuần… Máy bay thì không được phép cất cánh cho tới khi bão ngưng, sau đó họ sẽ đem toàn bộ đồ nghề đến giải cứu bọn mình. Bộ chỉ huy đang làm mọi cách để tìm tàu đến cứu mình.”
Đại úy Paull rùng mình khi nhớ lại cảm giác của mình. Tàu tiếp liệu của họ bi hư và không tàu nào ở gần nghĩa là việc tiếp cứu xem như không thể thực hiện được trong năm ngày trời, có thể là một tuần, mà họ thì chỉ còn đủ không khí để thở không tới hai ngày.
Rồi thuyền trưởng Oram bừng tỉnh.
“Cho mọi người uống một chầu đi, anh Paull,” ông nói. “Và lấy cho tôi bốn chai. Sau khi họ uống rồi thì bảo năm ông đã có gia đình đến gặp tôi.”
Paull vâng lệnh dẫu vô cùng ngạc nhiên.
“Chúng tôi rất vui vì được uống, thưa quý tòa,” nhân chứng kể tiếp. “Rồi khi uống xong, năm đứa chúng tôi đến trình diện Ông Già – xin lỗi – trình diện thuyền trưởng Oram. Ông ấy nói ông có công tác đặc biệt cho bốn đứa chúng tôi, loại công tác chỉ có thể thực thi bởi những người đã có gia đình, và theo như tôi biết thì chúng tôi không phải chọn như thế nào. Cuối cùng chúng tôi quyết định bóc thăm. Chúng tôi bốc thăm, rồi Nordin, Speer, Jenvey và tôi trúng cái thăm có đánh dấu…”
Giọng nói của nhân chứng lạc đi. Còn Đại úy Paull thì cố nuốt cục nghẹn trong cổ họng.
Các thủy thủ trở về với đồng đội của họ. Thuyền trưởng lại gọi cho bộ chỉ huy. “Có tin gì về tàu cấp cứu không, sir?” ông hỏi. Có một khoảng im lặng, và rồi âm thanh yếu ớt phát ra từ tai nghe máy vô tuyến. “Chắc chắn là vậy phải không ạ, sir?” Lại thêm một khoảng ngừng dài hơn, vài âm thanh vọng ra từ máy vô tuyến. “Cảm ơn, sir. Tôi sẽ gọi lại – sau.”
“Anh Paull, làm ơn tập họp các thủy thủ,” thuyền trưởng ra lệnh. “Tôi muốn nói với họ vài câu.”
Khi mọi người đã có mặt, thuyền trưởng Oram bước vào. Ông mang theo bốn chai Whisky và một cái khay với sáu cái tách trắng; đặt chúng xuống, ông nhìn thủy thủ đoàn.
“Các anh em,” ông ngập ngừng. “Anh em, tôi có vài điều muốn nói và là những điều không vui, và cũng không dễ dàng chút nào. Điều tôi muốn nói trước tiên là các anh là những người thủy thủ tài giỏi nhất mà tôi đã gặp, chứ đừng nói là được chỉ huy… Tôi biết anh em sẽ đón nhận tin này như những người lính chiến. Các anh đã biết chuyện gì xảy ra. Tàu chúng ta bị trúng mìn. Và chúng ta sẽ chìm ở đây cho đến khi có người kéo tàu của chúng ta lên, bởi vì tất cả những cửa của tàu đều bị kẹt cứng. Bây giờ có một công việc khó khăn phải làm, nhưng là loại công việc chỉ những người có gia đình mới làm được. Anh em cũng biết họ; họ phải rút thăm để chọn người và bây giờ Preece, Nordin, Speer và Jenvey trúng thăm. Chút xíu nữa tôi sẽ cho họ biết việc phải làm. Tôi cám ơn các anh em đã thi hành mệnh lệnh một cách nhanh chóng và nhiệt tình… Chỉ có vậy thôi. Bây giờ mọi người mang ly của mình lại đây, ai có gia đình thì đi sau cùng, và mình sẽ cùng nhau cụng ly. Chúng ta sẽ cùng uống một lượt và tất cả phải cạn ly, sau đó mình sẽ bàn tới công việc kế tiếp.”
Với khuôn mặt trắng bệch như xác chết, thuyền trưởng đổ chất lỏng vào tách của từng người. Ông đưa Preece, Nordin và Janvey bốn trong số những tách màu trắng đã có sẵn rượu. Ông đưa ly thứ năm cho đại úy Paull và lấy ly cuối cùng cho mình. Ông nâng ly.
“Xin Thượng Đế phù hộ đất nước và Hoàng Đế của chúng ta,” ông nói và uống.
Đám thủy thủ uống; và uống, và chết. Tất cả cứng người, nghẹt thở và đồng loạt ngã xuống. Những cái tách rơi xuống sàn tàu.
Chỉ còn thuyền trưởng Oram, đại úy Paull với Preece, Nordin, Speer và Jenvey là còn đứng, với những cái tách màu trắng trong tay.
Rồi thuyền trưởng, cố gượng cái giọng cứng rắn. “Các anh em,” giọng ông khàn đục, “bộ chỉ huy cho biết tàu tiếp liệu của chúng ta đã bị phá hủy và bốc cháy. Chiếc kia thì còn ở công xưởng, như các anh em cũng biết, và không thể đến đây trong một tuần được. Họ đã liên lạc với tất cả máy bay mà họ có thể, và đội tiếp cứu sớm nhất thì cũng đến đây sáu hoặc bảy ngày nữa. Chúng ta không đủ không khí cho mọi người thở quá hai ngày. Bây giờ thì sẽ đủ không khí cho năm người các anh trong bảy ngày. Hãy tuân theo lệnh cuối cùng của tôi. Anh Paull, anh sẽ nắm quyền chỉ huy. Các anh, bảo toàn mạng sống và nhận lệnh từ anh Paull. Các anh vẫn có thể phục vụ tổ quốc của mình. Công việc của các anh bây giờ là – chờ.”
“Lúc ấy Nordin thì thào: ‘Còn thuyền trưởng thì sao ạ?’” Vẫn giọng của Preece.
“Tôi sẽ đi cùng với thủy thủ đoàn của tôi sau khi tường trình về hậu cứ,” là câu trả lời nhỏ nhẹ của thuyền trưởng Oram.
Thuyền trưởng viết bản báo cáo rồi ký tên. Ông cho đặt xác các thủy thủ vào ngăn cuối tàu. Rồi ông gọi cho bộ chỉ huy.
Ông nói bằng giọng đều đều, vô cảm: “Tôi đã sắp xếp cho Đại úy Paull, các kỹ sư Nordin và Jenvey, chuyên viên thủy lôi Preece và lái tàu Speer sống sót, bằng cách thu xếp cách chết cho mười lăm thủy thủ khác.” Có tiếng rít hốt hoảng từ ống nghe máy vô tuyến. Ông tiếp tục: “Không người nào trong số họ biết ý định của tôi. Tôi sắp xếp để cho các thủy thủ có gia đình được sống. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm… Không, thưa Đô Đốc, Đô Đốc không thể đem tôi ra tòa án quân sự được. Tôi phải chọn giữa việc tuyên án tử cho toàn thể thủy thủ đoàn hoặc hy sinh mười lăm người để cứu lấy năm người, còn tôi, tôi sẽ cùng chung số phận với những người lính của tôi. Xin chào Đô Đốc.”
Preece kết luận: “Thế rồi sáu ngày sau thì họ đến cứu chúng tôi, thưa quý toà, chúng tôi mừng quá.”
“Được rồi,” chánh án phiên tòa nói. Và ông quay qua phía các sĩ quan đồng chủ tọa phiên xử của tòa án quân sự: “Thưa quý ông, tùy quý ông quyết định, có tội hay không có tội.”

Bản tiếng Việt – Hoàng Chính

 

Comments are closed.

error: Content is protected !!