Vui Chụp Hình: Học về Aperture

Andy Nguyễn

Trong vài tuần qua, tôi đã viết một loạt bài về những thành phần mà những người chụp máy ảnh số cần học để thoát khỏi Auto Mode và học làm thế nào để chỉnh sự phơi sáng bằng tay cho hình ảnh của họ. Tôi đã giới thiệu về ba góc của “tam giác phơi sáng” – ISO, Aperture, và Shutter Speed. Trong bài kỳ rồi, tôi cũng đã nói rõ về ISO, và kỳ này tôi sẽ đi vào chi tiết của Aperture.

Trước khi bắt đầu với những lời giảng giải, tôi xin nói một điều. Nếu bạn có thể nắm vững Aperture, bạn sẽ thật sự nắm trong tay quyền điều khiển sáng tạo máy ảnh của bạn. Theo ý kiến tôi – Aperture là nơi những gì kỳ diệu xảy ra trong nhiếp ảnh và, như các bạn sẽ thấy dưới đây, những thay đổi trong Aperture đem lại sự khác biệt giữa ảnh một chiều và ảnh đa chiều.

Aperture là gì?

Theo định nghĩa đơn giản nhất – Aperture là “lổ mở của ống kính.”
Khi bạn bấm nút chụp trên máy ảnh, lổ mở của ống kính mở ra cho sensor của máy ảnh nhìn thấy khung cảnh bạn đang muốn chụp. Khẩu độ bạn chỉnh sẽ ảnh hưởng đến kích cỡ của lổ đó. Khẩu độ càng lớn thì càng nhiều ánh sáng lọt vào – khẩu độ càng nhỏ thì càng ít ánh sáng lọt vào.
Đơn vị để đo lường Aperture được gọi là “f-stop”.


Bạn sẽ thường xuyên thấy đơn vị này được tôi nhắc tới trong mục Vui Chụp Hình với dạng f/số – ví dụ f/2.8, f/4, f/5.6, f/8, f/22, v.v… Khi bạn chuyển từ một f-stop qua f-stop kế, bạn sẽ tăng gấp đôi hoặc giảm phân nửa độ mở rộng của ống kính (và lượng ánh sáng chiếu qua). Bạn cũng nên nhớ rằng sự thay đổi shutter speed từ stop này qua stop khác cũng tăng gấp đôi hoặc giảm phân nửa lượng ánh sáng chiếu vào – điều này có nghĩa rằng nếu tăng một thông số và giảm thông số kia, bạn sẽ giữ quân bình lượng ánh sáng chiếu vào – rất hữu ích để ghi nhớ).
Một điều gây hoang mang cho rất nhiều người chụp hình là những khẩu độ lớn (cho nhiều ánh sáng vào) lại được ghi bằng số f/stop nhỏ và những khẩu độ nhỏ (cho ít ánh sáng vào) lại có số f/stop lớn. Cho nên f/2.8 thật ra là một khẩu độ lớn hơn f/22 rất nhiều. Có lẽ lần đầu tiên bạn nghe hơi “trái tai” nhưng dần dần bạn sẽ quen với hệ thống “ngược đời” này.

Chiều sâu trường ảnh và Aperture

Khi thay đổi thông số Aperture trên máy ảnh, nó sẽ đưa đến kết quả nhiều thay đổi khác trong ảnh, nhưng yếu tố bạn thấy bị thay đổi nhiều nhất là chiều sâu trường ảnh.

Chiều sâu trường ảnh (Depth of Field hoặc gọi tắt DOF) là khoảng không gian được rõ nét trong khung ảnh. Chiều sâu trường ảnh Lớn có nghĩa rằng phần nhiều khung ảnh của bạn sẽ rõ nét dù phần đó ở xa hay gần máy ảnh. Để thí dụ, tấm ảnh phong cảnh phía trên được chụp với khẩu độ f/16 và kết quả là cả hai ngọn núi trong hậu cảnh và mấy chiếc xuồng trong tiền cảnh đều rõ nét.

Chiều sâu trường ảnh Nhỏ (Cạn) có nghĩa rằng chỉ một phần nào của tấm ảnh sẽ rõ nét và phần còn lại sẽ mờ nét (như trong tấm ảnh chân dung ở đầu bài viết này. Bạn sẽ thấy rằng đôi mắt của chủ thể rõ lung linh nhưng hậu cảnh lá Mùa Thu thì lại mờ ảo. Ngay cả làn tóc của Nàng – nằm xa hơn đôi mắt vài cm – cũng hơi mờ. Đây là một chiều sâu trường ảnh rất cạn, và tấm hình đã được tác giả chụp ở khẩu độ f/1.4)
Cũng như thế, tấm hình sáng tạo bên dưới được chụp với khẩu độ f/2.8 và một lần nữa bạn thấy chiều sâu trường ảnh thật cạn với xấp đá rõ nét nhưng mọi thứ khác đều mờ.


Aperture có một ảnh hưởng lớn đối với chiều sâu trường ảnh. Aperture lớn (số f/ nhỏ) sẽ giảm chiều sâu trường ảnh, trong khi một aperture nhỏ (số f/ lớn) sẽ cho chiều sâu trường ảnh rộng hơn.
Sau đây tôi sẽ minh họa điểm này với hai tấm hình tôi mới chụp trong khu nhà hàng xóm.


Hình bên trái được chụp với khẩu độ f/16 và hình bên phải được chụp với khẩu độ f/1.4. Sự khác biệt quá rõ rệt. Tấm hình f/16 có cây dù và tất cả những căn nhà đằng xa đều rõ và bạn có thể nhìn thấy hình thù của hàng rào và những cành cây khô phía sau.

Tấm hình f/1.4 bên phải có cây dù rõ nét nhưng chiều sâu trường ảnh rất cạn và tất cả hậu cảnh đều bị “xóa phông” cho nên rất mờ. Dĩa vệ tinh bên trái của cây dù chỉ hơi mờ vì nó đứng xa hơn cây dù chút xíu, trong khi ngọn cây khô phía sau thì mờ hẳn.

Cách tốt nhất để thấu hiểu về aperture là lấy máy ảnh của bạn ra và tự làm vài cuộc thí nghiệm. Bước ra ngoài (ngoài sân, ngoài đường, ngoài công viên…) và tìm một địa điểm có nhiều vật ở gần cũng như cách xa bạn và chụp một loạt hình với nhiều khẩu độ khác nhau, đi từ nhỏ nhất tới lớn nhất. Rất nhanh chóng bạn sẽ thấy mức ảnh hưởng của nó và sự hữu ích của khả năng điều khiển aperture.

Một vài thể loại nhiếp ảnh đòi hỏi chiều sâu trường ảnh Lớn (và khẩu độ Nhỏ)

Đối với đa số ảnh phong cảnh, bạn sẽ thấy chúng được chụp với khẩu độ khá nhỏ (số lớn). Điều này giúp bảo đảmrằng từ tiền cảnh cho tới tận chân trời, mọi thứ đều rõ nét.
Ngược lại, trong nhiếp ảnh chân dung, các nhiếp ảnh gia sẽ muốn người mẫu rõ nét trong khi hậu cảnh càng mờ thì càng tốt để giúp làm nổi bật chủ thể chính. Trong trường hợp này, bạn sẽ chọn một khẩu độ lớn (số f/ nhỏ) để có một chiều sâu trường ảnh cạn.

Những người chuyên chụp nhiếp ảnh Cận (Macro) thường dùng những ống kính có khẩu độ lớn để lấy rõ nét vật thể chính, còn tất cả cảnh vật xung quanh đều mờ, với ý định gây thu hút cho người xem.

AN

More Stories...