Viết từ Dallas: Thời đại kỹ thuật

Huy Lâm

South by Southwest (viết tắt là SXSW) là tên của một hội chợ được tổ chức hằng năm vào khoảng giữa tháng Ba tại Austin, thủ phủ tiểu bang Texas. Hội chợ SXSW được bắt đầu từ năm 1987 và kể từ đó đến nay mỗi năm mỗi thêm lớn mạnh cả về phạm vi lẫn tầm cỡ. Hội chợ thường kéo dài khoảng 10 ngày, thu hút mấy trăm ngàn khách. Có người tới để xem trình diễn âm nhạc, người khác tới để coi những cuốn phim mới của những tài năng mới sắp được ra mắt công chúng. Nhưng điểm chính của hội chợ là cho trưng bày và giới thiệu những sản phẩm kỹ thuật mới xuất hiện, nhờ vậy hội chợ SXSW được nhiều người biết tới như là nơi tạo điều kiện cho những ý tưởng và những kỹ thuật phát minh mới được đến gần với công chúng.

Năm nay, mặc dù bên trong hội chợ mọi sinh hoạt vẫn diễn ra bình thường nhưng bên ngoài, ngay từ ngày đầu, người ta thấy có một nhóm người lấy tên “Stop the Robots” quy tụ được vài chục sinh viên đang theo học tại một số trường đại học gần đó vác biểu ngữ biểu tình kêu gọi mọi người hãy quan tâm tới hiểm họa của khoa học kỹ thuật, hay nói rõ hơn là của người máy trong tương lai. Phần lớn những sinh viên này theo học các ngành về khoa học và kỹ thuật, họ không chống lại sự tiến bộ của khoa học nhưng nhắc nhở mọi người nên thận trọng, đừng để bị lệ thuộc quá nhiều vào kỹ thuật và phải tìm cách kiểm soát những thứ máy móc đó. Nhóm người biểu tình tuy nhỏ nhưng gây được sự chú ý của giới truyền thông. Họ được mời phỏng vấn và hình ảnh của họ xuất hiện trên những trang báo của tờ USA Today, TechCrunch, trên trang mạng Yahoo! và trên đài truyền hình Fox News.

Những người trẻ này lo sợ cái xã hội chúng ta đang sống đây đang dần tiến tới gần hơn cái ngày những thứ kỹ thuật mà loài người phát minh ra sẽ quay lại kiểm soát chúng ta. Những nỗi lo lắng cho tương lai cuộc sống của những người trẻ này có lý do chính đáng. Mà không chỉ riêng họ, ngay như những nhà khoa học tiếng tăm trên thế giới cũng đã bày tỏ nỗi lo lắng của họ.

Như ông Elon Musk, người sáng lập công ty Tesla, đã cảnh báo rằng nguy cơ to lớn nhất đang đe dọa sự tồn vong của nhân loại chính là kỹ thuật trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence). Nỗi lo sợ của ông này là thật chứ không chỉ nói suông, đến nỗi Musk đã hiến tặng $10 triệu cho viện nghiên cứu Future of Life Institute, là trung tâm chuyên nghiên cứu về những hiểm họa cho sự tồn vong của nhân loại, đặc biệt là hiểm họa của sự phát triển quá nhanh của các ngành kỹ thuật.

Tương tự như Musk, nhà khoa học lừng danh Stephen Hawking cũng đã lên tiếng nói rằng nếu nhân loại còn tiếp tục phát triển kỹ thuật trí thông minh nhân tạo thì sớm muộn gì kỹ thuật này cũng sẽ tiêu diệt sự sống của nhân loại. Chuyện nghe tưởng như đùa và có vẻ như nghịch lý từ cửa miệng của một nhà khoa học, là người luôn tìm tòi những phát minh mới của khoa học kỹ thuật. Nhưng chúng ta cần biết Stephen Hawking là người mắc một chứng bệnh về hệ thần kinh ngay từ khi còn trẻ và căn bệnh này đã biến ông thành một người tê liệt và câm. Vì không có khả năng đi đứng cũng như nói chuyện, Hawking phải cần đến nhiều thứ máy móc trợ giúp trong những sinh hoạt hằng ngày của ông. Để đi lại, ông cần một chiếc xe lăn tự động với những thiết bị tối tân nhất. Để giao tiếp với những người xung quanh, ông cần một hệ thống cảm ứng nhỏ (small sensor) gắn trên má để ông có thể “đánh” những mẫu tự vào trong một máy điện toán và những mẫu tự này sau đó chuyển đổi ra thành tiếng nói.

Phải dài dòng như thế để thấy Stephen Hawking hiểu thế nào về tác dụng và ảnh hưởng của kỹ thuật lên đời sống con người khi ông phải tiếp cận và lệ thuộc vào nó mỗi ngày. Và nỗi lo sợ của Stephen Hawking, của Elon Musk và của nhóm người trẻ Stop the Robots là có cơ sở chứ không chỉ vu vơ.
Phần đông những người bình thường chúng ta, nhất là những ai đang làm việc cho những công xưởng, nếu có nghe nói tới kỹ thuật người máy hay trí thông minh nhân tạo, thì điều làm chúng ta lo lắng nhất chính là nỗi lo mất việc. Mà quả thật, càng ngày càng có nhiều công việc trước kia do người đảm trách thì nay những người máy cũng làm được.

Công ty Amazon.com hiện đang sử dụng khoảng 15.000 người máy tại những trung tâm phân phối. Những người máy này có thể làm những công việc như nhận đơn đặt hàng, đi tìm lấy món hàng, đóng hộp, dán nhãn và đem gửi đi. Đây là những công việc mà trước đây chỉ độ hai ba năm vẫn còn cần đến nhiều chục ngàn nhân viên.

Hệ thống nhà hàng Chili’s mới đây vừa cho lắp đặt 45.000 chiếc máy tính bảng (tablets) ở khắp các địa điểm quanh nước Mỹ. Những máy tính bảng này giúp khách hàng gọi món ăn, chơi games trong khi chờ đợi và trả tiền sau khi ăn xong.

Theo tin của tờ New York Times, một khách sạn đang cho thử nghiệm sử dụng nhân viên trực tầng (bellboy) là người máy và người máy này biết mang va-li, giỏ xách, những vật dụng cá nhân cho khách lên tận phòng ngủ mà không cần nhận tiền thưởng. Rồi ở một sân cù cũng tại nước Mỹ đang có những người phục dịch (caddie) người máy làm được những công việc như nhặt bóng, sách túi cho khách chơi golf tại đây y như một caddie thật sự.

Công ty Lowe’s, là hệ thống cửa hàng bán vật dụng sửa nhà và làm vườn, cũng đang thử nghiệm một loại người máy cho đứng ở cửa ra vào chào đón khách hàng cũng như giúp hướng dẫn khách hàng tìm kiếm món hàng mà họ cần mua. Theo tờ Wall Street Journal, trước đây người máy vừa to kềnh càng lại vừa giá cao, nhưng nay thì kích cỡ của loại người máy mới đã nhỏ gọn và giá thành thấp nên nhờ đó nhiều hãng xưởng nhỏ có đủ khả năng mua để sử dụng chúng.

Chúng ta đang sống ở thời đại đang có một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật rất quan trọng. Chỉ vài năm nữa thôi đi đâu người ta cũng thấy “người máy” khắp nơi dưới nhiều hình dạng khác nhau và càng ngày số người máy càng đông. Thế nên, sự lo sợ những người máy kia sẽ lấy đi nhiều công việc của loài người là hợp lý. Tuy nhiên, có một số kinh tế gia và khoa học gia nghĩ rằng khoa học kỹ thuật tạo ra người máy thì từ đó cũng tạo ra những công việc mới. Nhưng chắc chắn là nó cũng lấy đi nhiều công việc cũ trước đây.

Một điều chúng ta dễ nhận ra là loài người muốn cạnh tranh với người máy là không thể. Hãy thử so sánh việc mua một người máy tốn khoảng $25.000, trong khi mướn một nhân viên cũng trả lương khoảng $25.000 một năm. Nhưng người máy thì chỉ phải trả một lần, còn người nhân viên thì lương vẫn cứ phải trả hoài; mà người máy thì có thể làm việc 24 tiếng mỗi ngày, không phải nghỉ giải lao, không phải trả bảo hiểm sức khỏe và không bao giờ nghỉ phép. Thế thì người thật thua người máy là cái chắc.

Có điều chưa ai biết được là cuộc cách mạng kỹ thuật lần này có khác trước hay không, vì trong quá khứ khi những kỹ thuật mới được phát minh thì chúng tạo ra nhiều công việc hơn là chúng làm mất đi. Sự lo sợ kỹ thuật mới sẽ làm nhiều người thất nghiệp thực ra không có gì là mới mẻ hết. Hồi đầu thế kỷ 19 khi châu Âu bắt đầu bước vào thời đại cơ khí, nhiều công nhân bên Anh Quốc vì lo sợ bị lấy mất đi công việc nên đã gây nên một phong trào của những người được gọi là Luddite, họ hô hào phải phá hủy các loại máy móc sử dụng trong hãng xưởng.

Kinh tế gia Timothy Taylor kể lại rằng, năm 1964, vì nhiều người lo lắng kỹ thuật sẽ lấy mất đi nhiều công việc đã buộc Tổng thống Lyndon B. Johnson thành lập một ủy ban nghiên cứu về kỹ thuật tự động. Đến năm 1966, bản phúc trình về cuộc nghiên cứu hoàn tất thì tỉ lệ thất nghiệp tại Mỹ giảm xuống 3,8%. Khi có những kỹ thuật mới xuất hiện thì kinh tế cũng tự thích nghi theo.

Giáo sư Robert J. Samuelson cho rằng lý do là vì những kỹ thuật mới thường giúp làm ra những sản phẩm với giá trị phẩm chất cao mà giá thành lại thấp. Điều này đưa tới nhu cầu tiêu thụ tăng lên. Lấy kỹ nghệ hàng không làm ví dụ. Sau Thế chiến II, ngành hỏa xa lúc ấy vẫn đang chi phối dịch vụ chuyên chở hành khách. Nhưng sau đó kỹ thuật hàng không phát triển: bay nhanh hơn, rút ngắn được thời gian di chuyển và sức chứa hành khách trong một máy bay cũng được nhiều hơn; đặc biệt là sau khi kỹ thuật máy phản lực được áp dụng vào cuối thập niên 1950 thì ngành hàng không phất lên thay thế vị trí của hỏa xa. Trong khi việc di chuyển bằng xe hỏa suy sụp, con số hành khách đường hàng không riêng tại Mỹ đã tăng từ 19 triệu trong năm 1950 lên 737 triệu năm 2012. Năm 2014, ngành kỹ nghệ hàng không ở Mỹ mướn tổng cộng khoảng 590.000 nhân viên đủ loại.

Nói như thế để thấy rằng sự giải thích của giáo sư Samuelson vẫn có thể áp dụng cho thời đại này mặc dù chúng ta đang chứng kiến kỹ thuật ngày càng lấn lướt khả năng của con người. Các công ty vẫn cần những người làm những công việc như thiết kế, lập thảo trình, bảo trì và điều phối người máy và những kỹ thuật khác. Và do đó những công việc mới được tạo ra là điều không thể tránh được.

Cũng thế, cách đây độ mấy thập niên khi những chiếc máy rút tiền tự động ATM lần đầu được đưa vào sử dụng rộng rãi trong công chúng thì nhiều người đã lo sợ rằng công việc của nhân viên thu ngân tại ngân hàng sẽ dần biến mất. Nhưng sự thật là số nhân viên thu ngân làm việc tại các ngân hàng ở Mỹ hiện khoảng 600.000, theo nghiên cứu của Đại học Boston, cao hơn mức năm 1990.

Nỗi lo sợ mất việc vì sự tiến bộ của kỹ thuật là điều thiết thực nhưng có lẽ phần nào đã bị thổi phồng quá đáng. Công việc mới luôn luôn thay thế công việc cũ là một hiện tượng bình thường không ngoại trừ ai. Lẽ tất nhiên là những tiến bộ kỹ thuật cũng sẽ lấy mất đi nhiều công việc, nhưng rồi nó bù lại bằng những công việc mới.

Câu hỏi là con người có thể thích nghi được với thời đại kỹ thuật mới hay không? Nhìn lại quá khứ chúng ta thấy có thể tin tưởng được điều đó.

Huy Lâm

More Stories...