Việt Nam và đại nạn Trung Hoa

Hồ Bạch Thảo

Lãnh thổ Trung Quốc thời xa xưa chỉ bằng mấy tỉnh hiện nay, nhưng nhờ sức bành trướng không ngừng lan ra bốn phía, nên to lớn như hiện nay. Trước thời Tần, biên giới Trung Quốc tại phía nam chỉ đến sông Dương Tử và một phần đất tại các tỉnh Giang Tây, Hồ Nam, Giang Tô. Qua các thời Tần, Hán, không ngừng xâm lăng; chiếm trọn vùng đất phương nam, chiếm cả Việt Nam. Trải qua một ngàn năm đô hộ, Việt Nam dành lại nền độc lập, trong khi các vùng đất khác biến thành quận huyện của Trung Quốc. Kể từ đó Việt Nam đời nối đời chống Trung Quốc xâm lăng, lại tiếp tục mang gươm đi mở nước nên lãnh thổ tăng gấp đôi. Với địa lý liền núi, liền sông, lại sẵn đường để Trung Quốc xâm nhập thuỷ bộ; hãy tìm hiểu xem vì lẽ gì nước ta không bị Hán hoá.

A . Nền văn hoá độc lập.

Việt Nam ta ta có lịch sử trên 4.000 năm; những nước thuộc loại lâu đời như vậy, lịch sử buổi ban đầu thường được xây dựng bằng truyền thuyết. Truyền thuyết kể rằng xưa Đế Minh, cháu ba đời Viêm đế Thần Nông bên Tàu, đi tuần phương nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ tiên, sinh con là Lộc Tục. Lộc Tục đức tính toàn thiện nên Đế Minh yêu lắm, muốn truyền ngôi cho. Nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Nghi; bấy giờ Đế Minh mới lập Nghi làm vua nối ngôi, thống trị phương Bắc [Trung Quốc], phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, thống trị phương Nam [ Đại Việt]. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,Ngoại Kỷ quyển 1)

Truyền thuyết được xây dựng trên cơ sở Đại Việt là nước anh em, bình đẳng với Trung Quốc, chứ không phải là tôi tớ; bởi vậy quá trình lịch sử các triều đại  Đại Việt xây dựng một nền văn hoá có những nét khác biệt với Trung Quốc. Lịch sử ghi nhận những sự kiện như sau:

Sách Hậu Hán Thư (quyển 24, Mã Viện Liệt Truyện) đề cập đến việc Mã Viện mang quân xâm lăng nước ta vào năm 42, nhân bác bỏ 10 khoản luật Việt dưới thời Hai Bà Trưng, chứng tỏ thời đó luật lệ  2 nước Việt, Trung không giống nhau:

Viện đi đến đâu đều chia đất thành quận huyện, xây thành quách, thông ngòi rạch để lợi cho dân. Tâu rõ luật Việt và luật Hán, bác bỏ hơn 10 khoản. Dựa chế độ xưa, thân sức cho dân Việt rõ, để ràng buộc.”

[援所過輒為郡縣治城郭,穿渠灌溉,以利其民。條奏越律與漢律駁者十餘事,與越人申明舊制以約束之]

Đến giai đoạn độc lập, vào thời vua Lê Đại Hành năm Thiên Phúc thứ 8 [978], Sứ thần nhà Tống, Lý Giác, đến thăm nước ta lần thứ hai. Sau khi quan sát phong cách  nước ta lúc bấy giờ; Giác nhận thức rằng ngoài vòm trời Trung Quốc ra, còn có vòm trời Đại Việt với những nét văn hoá riêng biệt; nên lúc đến sứ quán bèn làm bài thơ bát cú đưa tặng, với hai câu kết như sau:

天外有天應遠照,

溪潭波靜見蟾秋。

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,

Khê đàm ba tĩnh kiến thiềm thu. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ quyển 1)

(Ngoài trời, lại có trời soi nữa,

Sông lặng khe đầm bóng nguyệt thâu.)

Nước ta cũng như phần lớn các nước châu Á khác, theo chế độ quân chủ giống như Trung Quốc. Tuy nhiên trong lúc thực hiện thể chế này, Việt Nam không hoàn toàn rập khuôn; với bản lãnh phân biệt đúng sai, chọn con đường phải, có lúc tự hào những chỗ vượt trội Trung Quốc. Trường hợp vua Đường Lý Thế Dân và vua đầu tiên đời Trần nước ta đều có miếu hiệu là Thái Tông, cả hai đều có mối bất hoà với anh em; nhưng vua Trần Thái Tông nước ta cố hoà giải, giữ được mạng sống cho người anh là An Sinh vương Liễu; riêng vua Đường Thái Tông thì giết cả 2 em là Kiến Thành và Nguyên Cát. So sánh đức độ ai hơn ai, nền quân chủ nào tốt hơn; vua Trần Dụ Tông với tư cách nhà phê bình sử, có bài thơ nỗi tiếng sau đây:




Đường Thái Tông dữ bản triều Thái Tông

Đường, Việt khai cơ lưỡng Thái Tông, 
Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong. 
Kiến Thành tru tử, An Sinh tại, 
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng. 

Dịch nghĩa

Đường và Việt đều có vua mở mang cơ nghiệp với miếu hiệu là Thái Tông, 
Vua của họ niên hiệu Trinh Quán, vua ta là Nguyên Phong. 
Việc Kiến Thành [nhà Đường] bị giết chết, còn An Sinh [nước ta] được sống, 
Chứng tỏ tuy đồng miếu hiệu, nhưng đức độ thì bất đồng.

B .Nền văn học chữ Nho đối kháng Trung Quốc xâm lược.

Thời xưa nước ta và các nước Nhật Bản, Cao Ly cùng chia sẽ với Trung Quốc  chữ viết; riêng Việt Nam dùng âm Hán Việt và gọi là chữ Nho. Nho [儒] do 2 chữ nhân [人] và nhu [需] gộp lại, có nghĩa là nhu cầu con người; ý nói chữ Nho là thứ chữ rất cần cho con người nói chung, chứ không phải dành riêng cho một nước nào.

Cùng với chữ Nho, Khổng Học từ Trung Quốc truyền bá vào Việt Nam. Người Việt ta tôn sùng Khổng Học qua những tư tưởng lành mạnh như: trung quân ái quốc, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; nhắm xây dựng một nước Việt Nam văn hiến. Tuy tôn sùng, nhưng không tin một cách mù quáng; đối với những tư tưởng phản tiến hoá, kỳ thị chủng tộc, ông cha ta không đưa vào kho tàng văn hoá Việt Nam.

Đơn cử, Luận Ngữ [论语] là bộ sách căn bản, ghi những lời dạy của Khổng Tử, được dùng làm sách giáo khoa. Nhưng trong sách này có những hạt sạn, như lời miệt thị các dân tộc lân bang với Trung Quốc là Di Địch [mọi rợ]. Cụ thể trong thiên Bát Dật [八佾], có lời phân biệt chủng tộc nặng nề như sau:

Di Địch chi hữu quân bất như chư Hạ chi vong dã

[夷狄之有君,不如诸夏之亡也.]

Có nghĩa là: Các nước Di, Địch [mọi rợ] tuy có vua; nhưng cũng không bằng Hoa Hạ [Trung Quốc] khi mất vua.

Trung Quốc gọi các nước nhỏ xung quanh là tứ Di [4 Di] gồm: Đông Di, nam Man, tây Nhung, bắc Địch. Đối với những tư tưởng kỳ thị chủng tộc như vậy, không được đưa vào kho tàng văn học Việt Nam đã đành; riêng các Sứ thần Việt Nam đến Trung Quốc, như Lê Quí Đôn vào năm Tân Mão [1761] đã làm văn thư phản đối nhà đương cục Quảng Tây dùng các từ ngữ như “Di quan” [quan Mọi], “Di quan kiến” [quan Mọi đến chào] vv…khiến viên Bố chánh Quảng Tây phải gửi văn thư khen văn hay và hứa không dùng chữ Di nữa:

Văn này rất hay, nói rất đúng lý….Nay Sứ thần đã đem sự này bày tỏ nên lời, đã được quan Tuần vũ bằng lòng nghe. Đã gửi một ống công văn truyền cho đạo Tả Giang và các phu, dặn từ rày trở về sau đừng hô chữ Di nữa và gọi là Cống sứ nước An Nam. Sứ có thể về nước thưa với Quốc vương được rõ….” (1)

Về phần Nho học ca tụng đạo lý làm người, trung với vua, với đất nước; hiếu với cha mẹ, tổ tiên giống nòi; cha ông ta đã dùng tư tưởng đó để chống Hán hoá, chống Trung Quốc xâm lược:

Trai thời trung, hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.

(Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)

Một bài thơ chữ Nho chống xâm lược hầu như chúng ta đều thuộc lòng, đó là bài Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, khẳng định lãnh thổ Đại Việt trường tồn, kẻ xâm lăng sẽ bị thất bại:

南國山河

南國山河南帝居
截然定分在天書
如何逆虜來侵犯
汝等行看取敗虛

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Dịch thơ:

Sông núi nước nam 

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

(Bản dịch của Trần Trọng Kim) 

Qua thơ văn phần trích dẫn, khẳng định dòng văn học chống Trung Quốc xâm lược đời nối đời trường tồn. Chiến đấu bằng ngọn bút, xây dựng nền văn hiến, không những đủ sức tự vệ chống Hán hoá, mà lại còn có mãnh lực thu hút rất nhiều  nhân vật thuộc dòng giống Trung Quốc tự nguyện hội nhập vào dân tộc Việt Nam. Lịch sử ghi nhận Hồ Hưng Dật, thuỷ tổ họ Hồ, gốc tỉnh Chiết Giang; Mạc Cửu người tỉnh Quảng Đông, lập nên tỉnh Hà Tiên; Trịnh Hoài Đức, gốc Phúc Kiến, Phan Thanh Giản, dòng dõi Minh Hương (4), đều là những khoa bảng và danh thần dưới triều Nguyễn.

 —————–

Chú thích:

1.Lê Quí Đôn đi sứ nước Thanh, Hoàng Xuân Hãn, diendan.org

2.Bỏ thân trăm họ làm công một người, Văn tế thập loại chúng sinh, Nguyễn Du.

3.Trong cuốn sách khảo cứu về lịch sử Chinh chiến dữ khí thủ: Minh đại trung Việt quan hệ nghiên cứu của Bácsĩ Trịnh Vĩnh Thường, Giáosư đại học tại Ðài-Loan; có lập biểu liệt kê 64 cuộc nỗi dậy tại Việt Nam dưới thời quân Minh đô hộ.

4.Minh Hương: người Trung Quốc chống Thanh, khôi phục nhà Minh thất bại, sang sống tại Việt Nam. 

More Stories...