Thời Báo Vietnamese Newspaper

Ủn ỉn lợn heo!

Đoàn xuân thu

Miền Bắc gọi là lợn; miền Nam gọi là heo. Ai khoái từ Hán Việt thì gọi là trư, là thỉ. Bình dân học vụ nghe tiếng heo kêu thì gọi là “Con Ột”. (Còn con chim cú có tiếng kêu “éc éc” như con heo bị chọc tiết, bà con mình gọi là con chim lợn làm điềm xui lắm). Thấy hình mập ú, mặt nọng như heo thì gọi là “Ủn” hoặc “Ỉn” (Kim Jong Un, lãnh tụ Bắc Hàn là chú Ủn hay chú Ỉn), hoặc Lê Thanh Hải, bí thơ CS TP HCM, là “Hải Heo” vì cái gì đất cát của dân “giả” cũng “chạp chạp”.

Trong “Lục súc tranh công”: trâu, chó, ngựa, dê, gà, và lợn. Lợn là con xuất hiện cuối cùng. Thường thường “cà chớn tới nơi cà chớn tới”, đứa xuất hiện cuối cùng là đứa làm bự nhứt, làm xếp.
Trâu thì làm ruộng vất vả để nông dân có lúa đầy bồ. Có lúa, thì cần chó giữ nhà coi chừng ăn trộm. Để chủ nhà rảnh cỡi ngựa xem hoa mà chữ nhân gian gọi là đi “khám điền thổ”.
Còn dê, gà và lợn chủ yếu là để bà con mình ăn thịt. Dê thì có lẩu dê, gà thì nấu cháo xé phay, lợn hay heo thì cả hàng trăm món mà món nào cũng ngon hết ráo thế mới báo.

Đầu heo thì làm dưa, thịt heo thì kho, giò heo thì bánh canh hay bún bò Huế, ruột heo thì làm dồi, khìa. Ngay cả xương heo thì nấu nước súp cho tất cả các loại canh cho mì, hủ tiếu. Xương hầm rục còn dính chút thịt là xí quách. Mấy ông thần Lưu Linh rất khoái vì mềm, dễ gặm mà lại rẻ khi lai rai một xị đế. Gặm hết thịt chỉ còn lại xương thì con Mực đang ngồi chổm hổm kế bàn nhậu của ông chủ mình cũng nhìn tha thiết như muốn nói: “Cho Ki Ki cục xương đó đi!”
(Tui lại nhớ cái thời thơ dại, Má thương con mua mấy miếng da heo của bà gánh dạo quanh xóm rồi hái rau càng cua, bóp dấm với da heo luộc, chấm nước mắm tỏi ớt chua ngọt. Cái vị của món quê nghèo ngày cũ tui mang suốt thuở xa quê).

Mà không phải người phàm mắt thịt mới khoái thịt heo những kẻ khuất mặt, khuất mày ngồi trên bàn thờ cũng đều ưng bụng.
Vua tế lễ cũng cúng heo. Dân cưới hỏi, tiểu đăng khoa cũng cúng heo. Cưới vợ, lấy chồng làm phải làm “trò con heo” để con đàn cháu đống.

Con ăn đầy tháng cúng heo sữa quay. Con ăn thôi nôi lại cúng heo quay. Không giữ con, nó té u đầu là vợ chồng gấu ó, ngu phu (vợ ngu), ngu phụ (chồng ngu) giận nhau đánh lỗ đầu, chảy máu. Hương quản tới đòi đóng trăn cả hai, cho bỏ thói bạo hành gia đình, đành phải ít nhứt là một cái đầu heo cho viên chức hội tề ăn nhậu, nó mới chịu bỏ qua.
Mà trước khi nộp cái đầu heo cho bọn cường hào ác bá nầy nó ăn, nó dộng, người vợ Việt đảm đang bèn đem đầu heo đi nấu cháo, nộp cho chúng cái đầu; còn cháo thì chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.
Thành ngữ “mượn đầu heo nấu cháo” phát xuất từ giai thoại đó đa.
Kết luận con heo đã hy sinh toàn thể thân mình để phục vụ vẻ vang cho sự nghiệp ăn nhậu của chúng ta; vậy mà con người quả vô ân bội bạc!

Như chú Ba Ngô Thừa Ân đặt dóc truyện “Tây du ký” để dè bỉu con heo, phác họa Trư Bát Giới, mình người mặt heo lười biếng, đã ham ăn lại còn háo sắc.
Chê ăn như heo, rồi mập như heo, ngu như heo, chửi cả chi bộ đảng là “phường chó lợn” vì giành ghế bí thơ xã của mình.
Nói nào ngay không phải chỉ riêng Mít mình đem con heo ra mà chửi bới lẫn nhau đâu; Tây cũng vậy, vì có chuyện rằng: Một thằng Úc bán rượu trong “pub”, tức quán nhậu, có nuôi một con heo mọi Việt Nam làm thú cưng cho đỡ buồn vì hai vợ chồng nó khắc khẩu, hổng nói thì thôi, mà mở miệng ra là gây, là cãi miết hè.
Một hôm trời lạnh, nó đề nghị với vợ là: “Hay mình cho con heo vô nhà!” Con vợ hổng chịu: “Hôi lắm!” Anh chồng: “Thì cũng như anh, nó chịu riết rồi cũng phải quen thôi”.
Chỉ một câu vô ý làm tan vỡ tình ta, để hai đứa chia xa, người mỗi ngả nhưng vẫn còn để bụng thù nhau. (Thiệt là quá hưởn!)

Một hôm tình cũ ôm con vịt, thú cưng, dưới cánh tay vào quán của người xưa nhậu với người mới.
Chồng cũ bèn khiêm tốn chối từ phục vụ: “Sorry we don”t serve pigs in here”. (Xin lỗi ở đây chúng tôi không phục vụ cho những con heo). Em xưa bèn cãi lại: “Anh lầm rồi! Đây là con vịt chớ không phải con heo”. Chồng cũ bèn minh xác: “Tui đang nói chuyện với con vịt mà!”
Mà dùng chữ “pig” để chửi người mình căm ghét không phải chỉ riêng nước Úc nầy đâu mà nghe nói bên Italy tức Ý Đại Lợi cũng vậy.

Một em Ý mới vừa 19 xuân xanh nói với mẹ mình là thèm chua quá, mẹ đi chợ mua cho con một ký me dốt ăn cho đỡ thèm. Nước miếng chảy đầy mồm nè.
Kinh nghiệm thời thiếu nữ báo cho bà mẹ biết ngay là chuyện gì đã xảy ra với con gái cưng như trứng, hứng như hoa của mình. Bà bèn nằm lăn ra đất, tru tréo, khóc lóc: “Con heo nọc nào gây ra chuyện nầy! Mẹ muốn biết!”. “Mẹ ơi! Con mới hò hẹn đi ăn tối với chú ấy, “sugar daddy” (ông già hảo ngọt), chỉ có một lần hè! Đâu ngờ gây ra cớ sự tày trời đến thế nầy!”
Nàng bèn bốc phôn lên gọi ai đó. Nửa tiếng đồng hồ sau, một ông cũng quá nửa chừng xuân khoảng chục năm, tóc đà tiêu muối; mà muối nhiều hơn tiêu, dừng chiếc Ferrari cái cạch trước cổng nhà.
Trong bộ đồ vest của Armani, do Italian, nó cắt và may, bước vào phòng khách. “Xin chào! Xin chào! Con gái của bà đã cho tui hay chuyện rắc rối nầy rồi! Vì lý do riêng tư của gia đình, tui không thể nào cưới em được; nhưng khoan chửi, tui nhận toàn bộ trách nhiệm về trò con heo của mình. Tui sẽ trả tiền để con gái của bà đủ sống, không giàu sang lắm nhưng cũng dư dã đôi chút đến cuối đời!”

Thêm nữa nếu baby sanh ra là con gái, tui xin tặng một chiếc Ferrari, một biệt thự, lưng dựa vào bìa rừng, mặt trước nhìn ra biển; trong tài khoản ngân hàng của em là 6 con số có số 50 đứng đầu.
Nếu babby sanh ra là con trai cũng y như thế, vì thiệt tình tui thương con trai hoặc con gái đồng hạng chớ không có vụ trọng nam khinh nữ như mấy thằng “Mafia” khác.
Còn nếu sanh đôi, số tài sản và tài khoản nầy dĩ nhiên sẽ gấp đôi. Tuy nhiên xin thỉnh ý của bà; tui sẽ làm gì nếu không có đứa con nào hết?”

Người mẹ suy nghĩ một lát cho cặn kẽ rồi trả lời rằng: “Nếu trường hợp không may đó xảy ra thì ông lại hẹn hò, dắt con gái tui đi ăn tối lần nữa đi!”
Kết luận lười như heo, ngu như lợn, ham ăn, háo sắc, bẩn thỉu, ô uế không là gì hết nếu con heo nọc nầy có rất nhiều tiền.

Đó là chuyện heo bên Ý; còn đây là chuyện heo bên Mỹ.

“Một chú Sam chạy xe đến một trại nuôi heo tính mua về một con khoảng chừng 100 pounds. Chủ trại vô chuồng bắt ra một con, xong cúi xuống dùng răng cắn vào đuôi con heo, nhấc nó lên xong, đặt xuống, nhả miệng ra, nói: “Con nầy nặng hơn 100 pounds một chút”.
Chú Sam kinh ngạc, há hốc mồm: “Bộ bác tính gạt tui đấy hả? Bác làm sao cân heo bằng cách nầy cho được chớ?”
Viên chủ trại cười hè hè, gọi thằng con trong nhà ra: “Ê con lại đây, cân con heo cho ông nầy đi!”
Thằng con tuân lịnh bố, cúi xuống dùng răng cắn vào đuôi con heo, nhấc nó lên xong, đặt xuống, nhả miệng ra nói: “Con nầy cân nặng khoảng chừng 100 pounds”.
Chú Sam vẫn không chịu. Để thuyết phục khách hàng khó tính nầy, ông chủ trại heo kêu thằng con: “Vô nhà kêu mẹ mầy ra cân heo cho ông nầy”. Một lát sau thằng nhỏ chạy trở ra nói với bố: “Mẹ sẽ ra ngay sau khi cân xong chú phát thư”.
Rồi chuyện bên Hà Nội, một bà cụ có nuôi một con heo làm thú cưng để bớt nỗi cô đơn. Một hôm dọn dẹp đống đồ cũ định bán ve chai, kiếm tiền đi chợ. Thấy cái bình trà bằng đồng, bà cụ bèn mở nắp ra, lấy tay chùi cho nó bớt hoen rỉ.
Bỗng nghe bụp một cái, luồng khói trong bình tuôn ra, một ông thần đầu trọc lốc, cằm có cọng râu dê, hiện ra, đứng khoanh tay cúi đầu nói: “Thưa nữ chủ! Tạ ơn bà đã giải thoát cho ta sau 4 ngàn năm bị nhốt trong chiếc bình nầy. Ta sẽ ban cho nữ chủ ba điều ước. Ước gì được nấy”.
Quá đã. Một là: “Hãy cho ta trẻ đẹp như hoa hậu Ngọc Trinh nhé”. Bụp một tiếng, tóc bà lão đang bạc phơ bỗng đen tuyền như răng nhuộm. Da mặt xếp li cả đống, bỗng phẳng lì như mặt xa lộ Biên Hòa. Hai trái dưa leo thòng tới rún bỗng rút lên cái rẹt như hai quả tuyết lê.
Hai là giàu có như tỉ phú Phạm Nhật Vượng. Bụp một tiếng, túp lều rách nát của cụ bà chợt biến thành một lâu đài xa hoa hết biết.

Ba là hãy biến con heo mọi bấy lâu quanh quẩn bên ta thành một hoàng tử của lòng em, khôi ngôi tuấn tú như Đinh La Thăng trước khi vô hộp ngồi đếm 32 cuốn lịch vậy”.
Tổng cộng là ba tiếng bụp vang lên, xong ba điều ước như đã hứa, ông thần đèn biến mất để đi uống “beer” ôm.
Nàng dắt tay chàng vào khung trời viễn mộng, mong đàn lại bản tình ca bấy lâu tha thiết nhớ. Nhưng hỡi ôi chàng không làm ăn được gì hết ráo.
Hỏi cớ sự ra sao chàng mới thỏ thẻ giọng “eo éo” rằng: “Ai biểu hồi xưa em kêu bác Mười Đỗ đến làm chi?”

Anh bạn nhậu thấy tui biết nhiều chuyện heo quá nên ganh tị phong cho tui chức “chuyên gia heo”; còn hỏi là tui có quen với nhà thơ Ngô Thế Lân thời Lê mạt không?
Trời đất! Nhà thơ chết đã mấy mươi đời vương rồi, làm sao quen cho được? Nhưng bài thơ con chim lợn của tiên sinh thì tui biết.
“Than ôi, lạ thay! Tiếng chim lợn kêu. Năm canh kêu thét, gió thổi lạnh lẽo. Thái Sơn xiêu đổ, ban ngày tối mò. Đất bằng sóng cuộn, mây đen mờ mịt. Đàn hồng nhạn kêu thương bay tản nơi rừng chầm. Bầy sài lang đi ngang ngược trên lối đường lớn. Trong triều ngoài nội ai cũng nín hơi không dám nói. Than ôi, lạ thay! Tiếng chim lợn kêu!”
Xã hội nước ta thời Lê mạt, nhuộm một màu tối thê lương; xã hội trong nước bây giờ cũng vậy; tui chỉ ước một điều thôi chớ không cần tới ba, là con chim lợn đến đầu hồi nhà quan chức CS, chuyên nhũng nhiễu dân lành, kêu éc éc, làm điềm, đứa đó sẽ chết chắc 100%.

Happy Kỷ Hợi!
Đoàn xuân thu
Melbourne

Comments are closed.

error: Content is protected !!