Trường Dục Thanh

(Nguyên tên trường là “Dục Thanh Học Hiệu” = Giáo dục thanh thiếu niên)
Bài và ảnh Trần Công Nhung

Đã có cái nhìn khái quát về thành phố Phan Thiết, tôi ra bến cảng để hỏi tàu mai đi Phú Quí. Cảng tàu ở cuối đường Trưng Trắc cách trung tâm thành phố chưa tới cây số. Rất may, gặp một anh công nhân bến thật thà cho biết: “Tàu chạy lúc 9 giờ, ra ngày chẵn vô ngày lẻ, mang xe máy theo cũng được nhưng tốn lắm: 4 lần bốc xếp lên xuống hết 160 ngàn, 2 lượt cước phí 240 ngàn, xe không đã mất 400 ngàn. Vé người vô ra 240 ngàn, chú ra đảo thuê xe chạy có lợi hơn”.
Sáng hôm sau tôi theo xe ôm ra bến tàu, mới 7 giờ 30 mà khách và hàng hóa đã ào ạt xuống, hầu hết người đi buôn, hàng hóa toàn đồ khô đóng thùng, trái cây rau cải trong bao tải. Tôi xuống tàu không ai soát vé, có lẽ vé bán sau.

Dưới khoang tàu thiên hạ trải chiếu nằm dài dài, xem như sạp không còn chỗ trống, vả lại làm sao mình nằm xen giữa đàn bà. Thấy ba chiếc ghế trong góc, tôi nhanh chân đến ngồi vào một ghế còn trống, và làm quen với người đàn ông bên cạnh:
– Tàu chạy lâu mau thì ra đảo anh?
– 6 tiếng.
– Hôm nay biển có êm không?
– Êm, mà chú tìm chỗ nằm chớ ngồi chịu không nổi đâu.
– Còn chỗ đâu mà nằm.
Ông khách chỉ xuống:
– Dưới còn chỗ.
Giọng người ở đảo nửa ta nửa Chăm, khi họ nói nhanh mình chẳng hiểu gì. Tôi lần thang gác xuống tầng hầm thứ hai, tầng này cũng hai dãy sạp, vài ba người đàn ông nằm rải rác, hàng hóa thì đang tuôn xuống nhét cứng dưới chỗ nằm. Tôi lấy một chiếc chiếu trải cạnh ông già. Chỉ mấy phút sau, người đàn ông mách chỗ cũng xuống, nằm cạnh tôi. Anh hỏi:
– Chú ra đảo thăm bà con hả?
– Không, tôi đi cho biết, ngoài đó có nhà nghỉ chứ?
– Có, gần bến có mấy nhà.
– Tôi muốn thuê một chiếc xe máy chạy chơi quanh đảo, có được không?
– Dễ mà, người ta cho thuê thiếu gì.

Trong khi tôi hỏi chuyện thì ba bốn nhân công bốc xếp làm việc bên cạnh ồn ào không chịu nổi, phải lấy hai cục mousse nhét cứng lỗ tai. Bấy giờ tôi mới nhận ra: chiếu nằm, sạp ván bẩn thỉu hôi hám, ông già bên cạnh phì phèo khói thuốc liên tục. Hàng hóa nhiều thứ có mùi, người tiếp tục xuống, cười nói như ở chợ… Chừng hơn nửa giờ, tôi bắt đầu khó thở, không khí đặc lại, khoang tàu đầy dần, hơi nóng hầm hập, mồ hôi ri rỉ. Tôi rà lại cuộc hành trình của mình: 9 giờ tàu chạy, sớm lắm cũng 3 giờ cập bến, lên tìm được nơi nghỉ ngơi trời đã tối. Ngày mai 9 giờ tàu vào, khoảng thời gian thừa thẻo còn lại chắc đã làm được gì. Điều quan trọng là sau 6 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển, biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Hiện tại đã muốn ngộp thở rồi… Nghĩ đến cảnh người xuội lơ vì say sóng, phải nhờ người dìu lên bến… tôi vụt ngồi dậy, mang đồ lên, không đi nữa.

Ra khỏi con tàu người tôi khoan khoái nhẹ nhàng. Tôi mừng, may mà tính kịp, nếu không, đây cũng chẳng khác gì một chuyến vượt biển. Đi du lịch kiểu này chắc chắn chẳng thú vị gì. Trở về khách sạn lấy xe, tôi chạy thăm trường Dục Thanh. Anh nhân viên khách sạn chỉ đường: “Chú qua cầu Trần Hưng Đạo, rẽ phải theo đường Trưng Nhị, chạy đến dốc cầu Dục Thanh, trường gần ngay đó”.

Cầu Dục Thanh là chiếc cầu thứ ba đi từ cầu Trần Hưng Đạo. Lúc băng qua đầu cầu, tôi thấy mấy xe ca và một đám người lố nhố phía xa. Đúng là trường Dục Thanh. Cổng trường sườn gỗ xưa, mái ngói âm dương đã cũ, hàng rào gỗ nhẹ nhàng, riêng diềm mái đắp xi măng trông thật nặng nề.

Khuôn viên trường rộng vừa phải, kiến trúc bên trong nhỏ gọn, có nhiều khoảng trống cho cây kiểng hoa trái nên cảnh khoảng khoát dễ coi. Hai căn nhà ngang đầu tiên là lớp học, nhà gỗ, mái ngói âm dương. Nhà vách ván, có chỗ đóng mắt cáo, cửa bàn khoa, tất cả cùng một màu nâu đậm như màu ngói. Sườn nhà, bàn ghế toàn bằng gỗ quí, véc ni bóng loáng. Nhìn qua thấy từ cột kèo xuyên trến đến bàn ghế học trò đều được làm bởi tay thợ lành nghề. Tuy không hoa văn chạm trổ cầu kỳ như những ngôi nhà cổ các nơi, song không vì thế mà giảm đi giá trị nghệ thuật chế tác. Mọi thứ như được chăm chút cẩn thận, trơn tru mát mắt mát tay. Ba dãy bàn, mỗi bàn 4 người ngồi, bàn ghế học trò na ná bàn ghế của nhà trường ngày nay, nhưng bàn thầy thì khác, một bàn dài và hai ghế tràng kỷ hai bên. Trên trần nhà có bảng công nhận di tích… khá lớn, màu sắc chỏi với mọi vật trong phòng. Theo tôi những thứ này nên treo ở phòng làm việc của “ban quản lý” để khỏi làm hỏng nét hài hòa của di tích. Phía đầu hồi bên phải có dựng bia ghi lịch sử của trường. Bia trắng xây lớn quá (có lẽ của nhà nước bây giờ), tuy có hoa kiểng trang trí nhưng hình thức gần như bia “liệt sĩ” chẳng ăn khớp với ngôi trường cổ chút nào, từ xa cứ tưởng ngôi mộ. Nội dung bia chỉ mấy dòng nói về… thầy Nguyễn Tất Thành (NTT) chứ không nói gì lịch sử trường Dục Thanh.

BRA200258_local_728x90_A

Theo sử liệu trên Internet (vietgle.vn), lịch sử trường Dục Thanh được ghi nhận như sau:
Dục Thanh Học Hiệu là một ngôi trường do các sĩ phu Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận sáng lập năm 1907 để hưởng ứng phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng tại Trung Kỳ. Năm 1905, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, trong một chuyến Nam du ghé qua Bình Thuận, gặp danh sĩ Trương Gia Mô (1), ba cụ đã được giới thiệu với các ông Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh (là hai con trai nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông), và Hồ Tá Bang. Ba cụ đã truyền bá tư tưởng Duy Tân của mình. Với sự góp mặt thêm của các ông Ngô Văn Nhượng, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, sáu ông đứng ra sáng lập ra ba tổ chức với các nhiệm vụ Chính trị – Văn hóa – Kinh tế gắn liền nhau, tương ứng với chủ trương ba điểm “Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh” của phong trào Duy Tân hồi bấy giờ:

Dục Thanh Học Hiệu: Mở trường dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ, được thành lập năm 1907. Trường do ông Nguyễn Quý Anh làm Giám Hiệu, với hai giảng viên chính là Nguyễn Hiệt Chi và Trần Đình Phiên. Trường có 4 lớp học, số học sinh lúc cao nhất vào khoảng 100 học sinh, từ Sài Gòn ra, từ Đà Nẵng, Hội An vào, và nhiều nơi khác ở Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ, do nhiều bà con của các thân sĩ gửi gắm trọ học. Chương trình dạy của trường do Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội biên khảo, chú giải, được gửi vào Phan Thiết qua ông Đình nguyên hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, bạn thân giao của Trần Lệ Chất. Trường có nội quy rất nghiêm cho tất cả học sinh. Buổi sáng hằng ngày từ lúc 6 giờ sáng, chiều lúc 17 giờ, sau khi tập thể dục xong, học sinh xếp hàng thật ngay ngắn đi vào lớp. Vào lớp rồi, tất cả học sinh xếp tay vòng trước ngực hát bài ca ái quốc, dựa theo bài thơ Quốc Hồn Ca do Phan Chu Trinh viết vào năm 1907, được chọn làm bài học thuộc lòng cho mỗi môn sinh.
Liên Thành Thư Xã: Truyền bá các sách báo có nội dung yêu nước, được thành lập năm 1905.
Liên Thành Thương Quán: Làm kinh tế gây quỹ hoạt động, đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhân dân, được thành lập năm 1906.

Phía sau lớp học có căn nhà gác bằng ván gọi là Ngọa Du Sào (2) là chỗ làm việc, tiếp khách, luận bàn văn thơ và nhà Ngự (bảng đồng trên vách khắc “nhà Ngư”) làm nơi ở của thầy và trò xa nhà. Vườn sau có cái giếng được ghi chú là nơi hằng ngày thầy giáo NTT lấy nước, rửa mặt tưới cây… Ngoài ra còn nhà thờ ông Nguyễn Thông và công trình phụ xây cất sau này, nơi làm việc của ban quản lý, quầy bán quà lưu niệm… Đặc biệt vườn có nhiều chậu Bonsai đẹp, giá trị như Cừa, Si, Bồ đề, rất hợp với cảnh trường xưa. Rất tiếc (lại tiếc, cá nhân tôi gặp quá nhiều trường hợp như vầy và cũng đã ghi nhận xét suốt trong 10 tập sách đã in) những chậu kiểng giá trị như thế đều bị sơn trắng từ gốc lên đến nửa thân. Hôm đó có mấy người Nhật (hay Đại Hàn) “xí xô xí xào” trầm trồ, tôi đến bên nghe họ bình phẩm nhưng chẳng hiểu gì, họ chỉ vào mấy cây sơn trắng và tỏ vẻ khó chịu. Có thể họ phê phán cách chơi cây kiểng ngờ nghệch của người Việt mình.

Trong vườn cũng trồng nhiều cây ăn trái, vú sữa, bưởi, cam chanh… Những cây vú sữa đều mang tên các quan chức cao cấp (giống hệt Đền Đô ở Bắc Ninh). Đây cũng là điểm lạ. Không biết quí vị du lịch nước ngoài có thấy cây cối các nơi di tích mang tên người với đầy đủ chức tước học vị như nước ta?
Trường Dục Thanh là nơi đáng cho học sinh sinh viên đến xem và tìm hiểu, một bài thực tập “Ôn cố tri tân”. Xem để suy gẫm về lòng yêu nước của tiền nhân. Song người làm văn hóa, người viết sử thời nay đã không khách quan, khiến lịch sử bị méo mó, thiếu sót, lệch lạc, có hại cho hàng hậu bối. Xem qua một vòng trường Dục Thanh tôi có cảm tưởng như đây là… “nhà sàn” của “bác Hồ”, vì không thấy nói gì đến những danh sĩ đã góp công xây dựng ngôi trường đầy ý nghĩa này. Tuy nhiên vẫn ghi nhận được dấu tích một công trình giáo dục cổ xúy lòng yêu nước của thời đã qua. Điểm đáng khen là không khẩu hiệu, không nhạc tuyên truyền, cảnh ngôi trường cổ tưởng chừng vẫn còn nguyên.

Trần Công Nhung
Tháng 6, 2010

—————

tcn12164

tcn12162

tcn12163
(1) Danh sĩ Trương Gia Mô hiệu là Cúc Nông, tên tự là Sư Quản, Sư Thánh, biệt hiệu là Hoài Huyền Tử, thường gọi là Nghè Mô khi làm quan ở Huế (tuy ông không đỗ tiến sĩ nhưng sức học uyên thâm nên người đời gọi vậy), em Trương Gia Tuân. Nguyên quán ở Gia Định, sinh tại làng Tân Hào, chợ Hương Điểm, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
…Năm 1908, ông tham gia phong trào Duy Tân và bị bắt giam một thời gian ngắn ở nhà giam Khánh Hòa.
(2) Ngọa Du Sào rộng chừng 6m50 x 4m, là nhà nằm chơi (kiểu thư phòng, trà thất) do nhà thơ Nguyễn Thông dựng năm 1878, sau dùng làm nơi tiếp khách của trường.

More Stories...