Thời Báo Vietnamese Newspaper

Tô Thùy Yên và Trường Sa hành!

Chu Nguyễn-Hoàng Yên Lưu

Trường sa của Việt nam từ ngàn năm qua trường tồn trong sóng gió biển Đông nhưng gần đây bị thế lực bành trướng phương Bắc dòm ngó lấn chiếm và đe dọa bằng đủ chiêu bài từ kinh tế, văn hóa tới quân sự.
Niềm tin không phai: Đảo sẽ vĩnh viễn thuộc giang sơn gấm vóc Lạc hồng vì hải đảo không đơn thuần là đất đai biển cả, là đảo dân, mà là nơi kết tụ văn hóa Việt, tinh thần Việt như bài Trường sa hành của một nhà thơ hiện đại, Tô Thùy Yên ca ngợi. Mặc dù tác giả mới qua đời hạ tuần tháng 5, 2019 nhưng Trường sa hành còn mãi trong lòng mỗi người Việt yêu mến quê hương mỗi khi nghe nhắc tới những cái tên xây dựng bằng mồ hôi hay xương máu tiền nhân: Hoàng sa-Trường sa.

Cuộc chiến đã qua gần nửa thế kỷ, 1975-2019, một khoảng thời gian khá dài nhưng trải qua như một cơn ác mộng. Bi hài vẫn tiếp tục diễn ra trên sân khấu đời, đất nước vẫn bị xâu xé bởi thù trong, giặc ngoài. Chẳng mấy ai quên được những hình ảnh bi thương nhất trong chiến cuộc và cũng không mấy ai không cảm thấy đau nhói trong lòng mỗi khi đọc lại bài Qua sông sáng tác năm 1964 ở tuổi ngoài 20 của một nhà thơ Miền Nam:

Tiếp tế khó-đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó-Sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày chưa lấy xác
Thây sình mặt nát lạch mương tanh…

Người ghi là một chứng nhân và hơn nữa là một nhà thơ nổi tiếng trong giai đoạn văn học 1954-1975 tại miền Tự do, nhà thơ Tô Thùy Yên.

Một tài liệu cho biết Tô Thùy Yên tên thực là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, cựu học sinh Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa, Saigon, từng là sĩ quan cấp tá trong quân lực VNCH và cũng từng nếm mùi lao tù hơn mười năm sau 1975 trước khi tới Mỹ định cư.

Thân nhân nhà thơ cho biết, năm 1964, ở tuổi tay trắng mộng đầy, nhà thơ nhập ngũ, đến năm 1975 giữ cấp bậc thiếu tá chiến tranh chính trị và có nhiều dịp theo sát binh sĩ nơi chiến trường.

Theo nhà thơ Du Tử Lê, thơ Tô Thùy Yên bắt đầu xuất hiện trên báo chí từ năm ông 16 tuổi. Gia nhập nhóm Sáng Tạo thành hình năm 1956, cộng tác đều đặn với nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, chủ trương nhà xuất bản văn học Kẻ Sĩ. Từ đó nổi danh trên thi đàn và với giới trẻ, cùng với Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng và Nguyên Sa…
Sau 1975, sau khi ra tù, Tô Thùy Yên và gia đình sang Mỹ định cư năm 1993, ban đầu đến Minnesota, do nhạc sĩ Cung Tiến bảo lãnh. Đến năm 2000 thì gia đình chuyển về Houston, Texas.
Nguồn tin mới nhất cho biết, Nhà thơ Tô Thùy Yên qua đời lúc 9 giờ 15 phút tối Thứ Ba, 21 Tháng Năm, tại Houston, Texas, hưởng thọ 81 tuổi, sau một cơn đột quỵ và được đưa vào một trung tâm trị liệu từ Thanksgiving năm ngoái và từ đó đi lại khó khăn..

Tô Thùy Yên là cây bút trẻ trong nhóm Sáng Tạo cùng với Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại được nhiều độc giả trong thế hệ trưởng thành sau hiệp định Genève yêu thích.

So với những nhà thơ đồng thời nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 như Nguyên Sa, Cung trầm tưởng…thì Tô Thùy Yên có số lượng thi phẩm tương đối ít. Phải chăng ông là con người trầm mặc, có xu hướng thoát khỏi thế giới thi ca ước lệ còn tồn đọng từ thuở Thơ mới (1932) mà tìm ra con đường sáng tác mới hơn, từ ngôn ngữ tới thể thơ và nhất là cảm xúc và tư duy. Tuy nhiên, ông tỏ ra không chìm đắm trong thế giới tân thi ca mà dung hòa được sự canh tân với vần điệu, cùng tư tưởng quen thuộc của dân tộc nên thơ của ông có sức lôi cuốn mạnh đối với đa số độc giả chọn lọc.
Thơ Tô Thùy Yên tạo nên một nguồn cảm hứng lạ độc đáo, rất trữ tình cho dù mang nhiều dấu vết suy tư. Hỉ nộ ai lạc trong thơ ông có cường độ cao, biểu hiện dưới hình thức mạnh mẽ, cứng cỏi từ vần điệu cho tới hình ảnh. Tiếng lòng nhà thơ như bật ra từ bất bình, từ mâu thuẫn và từ lửa đạn, chết chóc và bi thương. Đọc thơ ông người đọc có cảm tưởng xem những vần thơ của một triết nhân dấn thân vào đời và chỉ thấy cõi vô thường hữu hạn đầy khảm kha bất bình nên chẳng mấy lúc không bận tâm suy nghĩ. Thơ ông cũng là tâm trạng của một chiến binh, tham dự cuộc chiến nhưng vẫn không nguôi suy nghĩ về cuộc chiến và thân phận người trong cuộc. Tranh của ông không bình thản như tranh của một họa sĩ đi tìm cái đẹp mà nó quằn quại như tranh trúc của Trịnh Bản Kiều và tranh tôm của Tề Bạch Thạch, nhất là tác phẩm điêu khắc của Auguste Rodin (1840-1917), “The Thinker” hay Le Penseur. Vì ở bức chân dung “Người suy tư,” (đầu tiên có tiên là Thi nhân- Le Poète )- nên nhiều người nhận ra có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy và chất thơ.
Đã xuất bản: Thơ Tuyển (một ấn bản tại Đức năm 1994, một ấn bản tại Mỹ năm 1995), Thắp Tạ (năm 2004).
Năm 2018, ông cho ra mắt “Tô Thùy Yên – Tuyển Tập Thơ,” gồm 96 bài thơ, gộp lại những bài từng đăng báo, trước và sau 1975.
Chúng ta thử đọc bài nổi tiếng của ông, bài Trường sa hành thì thấy rõ nhận xét đã trình bày:

TRƯỜNG SA HÀNH

Toujours il y eut cette clameur,
toujours il y eut cette fureur…
Saint John Perse (Exil)

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sông nước,
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.

Mùa đông bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ,
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên.

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục,
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh.

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
Đám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần,
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.

Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảnh đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức, âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng.
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
Con chim động giấc gào cô đơn.

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa.
Anh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nức hoa niên

Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.
3-1974
(Tạp chí Văn)

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Căn cứ vào lần đầu xuất hiện trên tạp chí Văn là tháng 3, 1974, bài Trường sa hành, gợi ta nhớ tới trang sử bi thảm của miền Nam khi Hải đảo Hoàng sa lọt vào tay bọn cướp biển phương Bắc. Lịch sử ghi lại những trận đụng độ giữa hải quân Việt nam Cộng hòa và bọn xâm lược vào trung tuần tháng 1, 1974. Lực lượng xâm lăng quá mạnh, quá hung bạo lại ra tay bất ngờ, nên nuốt trôi Hoàng sa.
Bài Trường sa hành ra đời mấy tháng sau, hẳn đã ghi lại tâm tư của một nhà thơ trong cuộc chiến, nặng lòng với núi sông. Thử đọc lại Trường sa hành sẽ thấy dấu vết lịch sử ghi lại tâm trạng nhà thơ lúc đó ở tuổi chưa đầy bốn mươi ra sao.

Trước hết không quên, Trường sa hành, lại một bài hành đi vào văn học bên cạnh những bài Tống biệt hành của Thâm Tâm và Hành Phương Nam của Nguyễn Bính. Hành là một thể kể chuyện như Bạch Cư Dị ghi lại cuộc tiễn đưa ở bến Tầm dương trong bài Tỳ bà hành và Lý Bạch ghi lại một chuyện tình đẹp trong Trường can hành. Thể hành là thể thích hợp với loại trữ tình, tác giả mượn bài hành để tả tình, tả tâm trạng mình.

Trường sa hành là tâm trạng của nhà thơ trước một khung cảnh thiên nhiên mênh mang và tịch liêu có rất nhiều kỳ thú nhưng cũng là nỗi lòng người lính khi ra trấn đảo trước tình hình hải đảo có thể xảy ra một cuộc bão dông.
Hình ảnh Trường sa ít được ghi trong văn chương như các danh lam thắng cảnh hay địa danh lịch sử khác ở quê hương.
Nhưng may mắn thay, lần họa hiếm này nó lại được họa lại một cách thành công nhất. Trương Hán Siêu viết Bạch đằng giang phú, Hoàng Cầm viết Bên kia Sông Đuống, Quang Dũng viết Đôi mắt người Sơn tây và Tô Thùy Yên viết Trường sa hành đã làm cho tên đảo trở thành bất hủ.

Không gào thét giọng căm thù, không cường điệu bằng hình ảnh ước lệ, cố tình tạo sự lạc quan giả tạo và tinh thần giữ đảo kiên cường dù chiến tranh biên giới 1979 còn sờ sơ trước mắt, như một nhà thơ, Trần đăng khoa trong bài Đợi mưa trên đảo Sinh tồn, thuộc quần đảo Trường sa:

Chúng tôi ngồi ôm súng đợi mưa rơi
Lòng thắc thỏm niềm vui không nói hết
Mưa đi! Mưa đi! Mưa cho mãnh liệt
Mưa lèm nhèm, chúng tôi chẳng thích đâu
Nhưng không có mưa rào thì cứ mưa ngâu
Hay mưa bụi… mưa li ti… cũng được
Mặt chúng tôi ngửa lên hứng nước
Một giọt nhỏ thôi, cát cũng dịu đi nhiều
Ôi hòn đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu
Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo
Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương đầy gió bão
Chúng tôi như hòn đá ngàn năm, trong đập nhịp tim người
Như đá vững bền, như đá tốt tươi..

(Trích Đợi mưa trên đảo Sinh tồn- Mùa khô 1981)

Khác hẳn vần điệu trên, Trường ca hành phô bày tâm tư một cách tự nhiên, chân thực. Lời thơ rõ ràng bình dị mà sống động. Ngôn ngữ chất phác, rắn rỏi như những nhát đục đẽo xem ra nhẹ nhàng nhưng bén nhậy của người tạc tượng, tạo thành một tác phẩm hoa mỹ vừa cứng cáp, thể hiện sóng cả và bão bùng bên ngoài thiên nhiên và trong tâm tư tác giả (Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế, Đám cây bật gốc chờ tan xác, Như những tầng buồn lay động mãi, Mặt trời chiều rã rưng rưng biển …)

Đọc bài hành, sẽ thấy có sự hòa đồng giữa cảm xúc nhân sinh và vũ trụ bao la, giữa biến cố thời sự và tiến trình vô tận của lịch sử. Thi nhân đã xóa cái riêng và làm nổi bật cái chung, cái riêng là cảm xúc cá nhân trước một biến cố lịch sử, nay đã có dịp hòa đồng vào tư duy siêu hình, vào cái chung là bi kịch của một dân tộc trong một thời đại bạo hành.
Như đã trình bày, Tô Thùy Yên, khéo kết hợp giữa mới và cũ một cách sáng tạo. Bút pháp này ở tác giả với ngôn ngữ miền Nam chất phác và gợi hình, tỏ ra quen thuộc với độc giả từ khi thi nhân còn ở tuổi ngoài ba chục trong bài Anh hùng tận:

Dựng súng trường, cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều
Đây ngã ba sông, làng sát nước
Xuồng ba lá đậu kế chân bàn
Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt
Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang
Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn
Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng
Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương
Thiệt tình, tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen.

Sau mười ba năm trong nhà tù, cảm xúc đi sâu hơn nhưng lắng xuống, tư tưởng có dịp mở rộng và dâng lên cao vượt khỏi thời cuộc mà nghiêng về kiếp sống của con người trong bài Ta về:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Trường sa hành không nặng về tính chất hoài cổ và ca tụng chiến công bản triều như Bạch đằng giang phú của Trương hán siêu, Trường sa hành là bài ca hùng tráng của muôn đời, như sóng gió biển Đông, đủ uy lực duy trì sự sống của con người và của hải đảo. Ở đây ta có dịp thấu hiểu hơn về tác giả, sẽ cảm nhận có sự giằng co giữa bạo lực, níu con người xuống thấp và ý chí con người vươn lên cao, giúp giải phóng tâm tư vào thế giới tự do vĩnh cửu.
Ngòi bút của Tô Thùy Yên thực là có thần, hình ảnh “đảo chếnh choáng” chỉ có người từng có duyên với đảo mới thấy rõ là câu thần vì hòn đảo nhỏ sóng vỗ miên man chẳng khác gì hòn đảo say:

Lính thú mươi người lạ sông nước,
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.

Mà chỉ có kẻ tới đảo rồi mới thấy hình ảnh này thực sống động, đọc lại nghe như tiếng sóng còn vỗ trong tâm tư và gió biển còn làm rát làn da mặt dù đã rời xa đảo mà đi gần tới thơ:

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
Đám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi
?

Nhưng cảnh ở đây chỉ để tả tình, diễn ý, chẳng khác cảnh :

Thuyền một lá đông tay lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt dòng sông

Mà Bạch Cư Dị xúc động tả lại tâm trạng mình ở nơi đất trích khi nghe tiếng tỳ bà. Còn hai câu này:

Bóng chiều không thẫm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Thâm Tâm viết nỗi lòng kẻ ở người về khi tống biệt chứ chẳng phải vẽ cảnh chiều tà.

Cảnh của Tô Thùy Yên chẳng phải cũng chỉ làm phương tiện tả lại những rung động sâu thẳm trong phần hồn hay sao:
Như những tầng buồn lay động mãi

Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.
Còn nữa, cảnh “mặt trời chiều rã rưng rưng biển” đã khiến nhà thơ cảm thấy như:
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Cảnh làm người cảm và cảnh cũng làm cho người suy nghĩ đến thân phận mình, thân phận của kiếp người và của muôn vật hữu hạn:

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

Suy nghĩ của nhà thơ đầy sáng tạo và rất nhân bản. Ông nhìn cây dừa trong gió mà viết một câu thấm thía:

Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Còn có liên tưởng nào độc đáo khi nhà thơ nhìn bãi lân tinh mà nghĩ tới:

Bãi lân tinh thức, âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưn
g.

Với Trường sa hành, càng đọc càng thấy như lạc vào một thế giới hình ảnh kỳ lạ và ngôn ngữ mãnh liệt và dù muốn không suy nghĩ nhưng không thể không nghĩ, không suy và muốn đừng cảm xúc nhưng làm sao tránh được đà lòng. Ngôn ngữ nhà thơ dùng như ảo thuật lôi cuốn người đọc mãi không ngừng. Độc giả không tin ư? Hãy đọc mấy câu này thì rõ:

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa.
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nức hoa niên

Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.

Nhân cái tang lớn của văn học tự do, xin được thắp một nén nhang chiêu hồn quá khứ!

Chu Nguyễn-Hoàng Yên Lưu

Tô Thùy Yên

Comments are closed.

error: Content is protected !!