Thuyền nhân Việt Nam và những ngày đáng ghi nhớ 1979

Trà Lũ Trần Trung Lương

 

 

Canada nổi tiếng khắp thế giới về lòng nhân đạo. Lịch sử còn ghi 3 việc bác ái phi thường sau đây: Cứu nạn đói ở miền bắc Trung Hoa năm 1920-21, cứu nạn đói ở Ethiopia bên Phi Châu năm 1984-1985, và cứu các thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từ năm 1979 và nhiều năm sau đó. Trong hai cuộc cứu đói, Canada chỉ đem thực phẩm, thuốc men và phái đoàn y tế tới, còn trong việc cứu thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam thì không những Canada mang thuốc men và phái đoàn y tế sang các trại tỵ nạn, mà sau đó còn nhận người tỵ nạn Việt Nam vào Canada.

Việc cứu giúp tỵ nạn Việt Nam bắt đầu từ biến cố Tàu Hải Hồng ở Hong Kong. Con tàu này chở hơn hai ngàn người tỵ nạn Việt và Hoa cập bến Hong Kong năm 1978, nhưng bị Hong Kong từ chối không cho lên bờ. Con tàu đã phải neo ngoài khơi và người tỵ nạn sống nheo nhóc khổ sở gần 2 tháng trên con tàu. Hình ảnh này đã làm xúc động cả thế giới. Canada đã bùng lên phong trào cứu người tỵ nạn Việt Nam chạy trốn bằng thuyền, danh xưng ‘Thuyền Nhân / Boat People’ có gốc từ biến cố lịch sử này.

Gia đình tôi may mắn trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền tháng 5, 1975, chuyến đi đầy sóng gió, nhưng đã tới được Thái Lan và chúng tôi được nhận vào Canada ngay từ đầu tháng 6, 1975. Lúc đó Canada chưa có chính sách đặc biệt giúp người tỵ nạn Việt Nam. Lúc đó ở Toronto đã có một hội tương trợ của các du học sinh VNCH mang tên là ‘Hội Ái Hữu Việt Kiều’, mấy năm sau mới đổi tên là ‘Hội Người Việt Toronto’. Năm 1979 khi cao trào người tỵ nạn Việt Nam bùng lên thì Hội liền được chính quyền Canada trợ cấp tài chính để có sức giúp chính phủ tiếp rước đồng bào. Ba nhân viên đầu tiên của Hội năm 1979 là Ông Đỗ Trọng Chu, Cô Hoàng Ngọc Dung và tôi. Lúc đó Hội chưa có trụ sở, chính phủ Canada liền cho phép Hội lập một văn phòng trong tòa nhà mang tên là Ontario Welcome House ở số 8 đường York, gần bờ hồ. Chúng tôi được phép sử dụng mọi phương tiện trong tòa nhà này để cùng với cơ quan chính phủ đón tiếp đồng bào thuyền nhân đang tới theo diện bảo lãnh của chính phủ.

Văn phòng của Hội lúc đó trở thành tụ điểm của các phóng viên Canada và quốc tế. Họ đến đây hằng ngày để lấy tin trực tiếp và làm phóng sự về người tỵ nạn vừa tới Canada và đang được chúng tôi hướng dẫn. Báo chí, truyền thanh và truyền hình suốt ngày đêm đưa tin về người tỵ nạn Việt Nam.

Và phong trào tư nhân bảo trợ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đã bùng lên từ đây, nổi nhất là phong trào Operation Lifeline mà tôi có tham gia từ đầu.

Tôi xin ghi lại các sự kiện sôi nổi nhất trong mấy tháng cuối năm 1979 khi cao trào thuyền nhân lên cao nhất.

 

  1. Ngày 5.3.1979, Bộ Di Trú Canada và Giáo Hội Tin Lành Mennonite đã ký một thỏa hiệp chung. Theo thỏa hiệp, Giáo Hội Mennonite được phép bảo trợ bao nhiêu người tỵ nạn Việt Nam cũng được. Năm 1979 chính phủ Canada có chương trình bảo trợ 5.000 người tỵ nạn Việt Nam, nhờ thỏa hiệp này, con số đồng bào tỵ nạn Việt Nam đến Canada đã tăng lên rất nhiều.
  2. Ngày 1.6.1979, Bộ Di Trú Canada ký một thỏa hiệp tương tự với Giáo Hội Tin lành Presbyterian cho phép Giáo hội bảo trợ người tỵ nạn Việt Nam không hạn định, giống y như đã ký với Giáo hội Mennonite.
  3. Ngày 15.6.1979, chính quyền Mã Lai tuyên bố sẽ đuổi hết 76 ngàn người tỵ nạn Việt Nam đang trú trong các trại tỵ nạn ra biển và sẽ bắn những ai tìm cách trở lại. Dư luận Canada bùng lên về tin dữ này. Đồng bào Việt Nam vừa tới Toronto đã kéo đến tòa lãnh sự Mã Lai biểu tình phản đối. Hội Người Việt đã gửi ngay thư phản đối tới tòa đại sứ Mã Lai và đồng thời gửi thư tới LHQ và các tòa đại sứ xin can thiệp và giúp đỡ người tỵ nạn. Canada liền tuyên bố nâng con số nhận tỵ nạn Việt Nam từ 5 ngàn lên 8 ngàn theo diện chính phủ bảo trợ. Hội Y Sĩ Canada gửi văn thư yêu cầu chính phủ phải nhận 30 ngàn thuyền nhân chứ không phải chỉ 8 ngàn.
  4. Trong suốt tháng 6 và tháng 7 năm 1979, báo chí Canada đã viết rất nhiều và rất dài về thảm cảnh các thuyền nhân Việt Nam trong cảnh vượt thoát cũng như thảm cảnh nheo nhóc ở các trại tỵ nạn. Ông Đỗ Trọng Chu và tôi xuất hiện rất nhiều lần trên các cơ sở truyền thông Canada để nói về thảm cảnh tỵ nạn Việt Nam và xin các nơi cứu giúp.
  5. Ngày 25.6.1979, tại miền St. Paul ở Toronto, đơn vị bầu cử của Bộ trưởng Di Trú đương quyền Ron Atkey, một số tư nhân Canada tự đứng lên thành lập một ban bảo trợ thuyền nhân Việt Nam, nhóm này mang tên ‘Committee to Save Boat People’. Đứng đầu nhóm là Ông Howard Adelman, giáo sư triết học của Đại học York. Chỉ 2 ngày sau, nhóm này đã quyên góp được 15.000 đồng. Nhóm này đã lên tiếng kêu gọi các đơn vị bầu cử khác theo chân St. Paul để bảo trợ thuyền nhân Việt Nam. Chỉ 2 tuần sau đó nhóm St. Paul đã góp được đủ tiền để bảo trợ 50 người tỵ nạn. Rồi đơn vị Rosedale và Misssissauga cũng thành lập xong nhóm bảo trợ. Ông Đỗ Trọng Chu là người đã tham gia vào cả 3 nhóm tiên phong này.
  6. Đồng thời với nhóm của GS Howard Adelman ở Toronto, tại thủ đô Ottawa bà Đô trưởng Marion Dewar cũng xúc động về thảm cảnh thuyền nhân Việt Nam nên bà tự đứng lên hô hào dân thủ đô bảo trợ thuyền nhhân Việt Nam. Bà đặt tên cho chương trinh bác ái này là ‘Project 4000’ với lòng ao ước là dân thủ đô sẽ bảo trợ tối thiểu 4000 người. Dân chúng Ottawa đã đáp ứng lời kêu gọi này rất tích cực. Đêm khởi xướng Project 4000 được diễn ra giữa tháng 7, 1979, tại vận động trường lớn nhất thủ đô Ottawa. Lúc đó ban tổ chức chỉ mong sẽ có 500 người tới, không ngờ số dân chúng thủ đô đã đến dự lên tới hơn 2.000 người, trong đó có Đức Tổng Giám Mục Công Giáo thủ đô, Đức Giám Mục Giáo hội Tin Lành. Ngay đêm này đã có hơn 400 người ghi danh lập nhóm bảo trợ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam. Sau này, bản đúc kết của Bộ Di Trú cho biết số người tỵ nạn Việt Nam được bảo trợ đến thủ đô theo ‘Project 4000’ đã đạt được con số ao ước của bà Đô trưởng Dewar.
  7. Chiến dịch OPERATION LIFELINE phát động ở Toronto.

Sau khi thành công trong việc thành lập được những nhóm bảo trợ ở đơn vị St. Paul, Rosdale và Mississauga, GS Howard Adelman liền nghĩ tới việc phát triển công việc bác ái này ra toàn quốc. Ông cùng với các thân hữu và Ông Đỗ Trọng Chu, đại diện của Hội Người Việt, bàn nhau thành lập một kế hoạch lớn cứu người tỵ nạn còn kẹt bên các trại ĐNA. Chương trình mang tên ‘Operation Lifeline / Đường dây cứu người tỵ nạn Việt Nam’. Chương trình này được các cơ quan truyền thông phổ biến rộng lớn khắp nơi. Tư gia của GS Howard Adelman biến thành trụ sở của chương trình cứu trợ, làm việc ngày đêm. Việc cứu giúp và bảo trợ thuyền nhân Việt Nam bùng lên khắp nước. Không những ba chúng tôi làm việc ở văn phòng 5 ngày trong tuần mà hai ngày cuối tuần còn đi đến các nhà thờ và các cơ sở tư nhân để nói về người tỵ nạn Việt Nam và xin họ cứu giúp. Ngoài chúng tôi ra, toàn ban chấp hành của Hội và những người đã đến đây sớm, ai biết tiếng Anh thì đều tham gia đi nói chuyện khắp nơi. Ở đâu người ta cũng xin chúng tôi tới nói chuyện. Chúng tôi còn nhớ tên một số những vị này, như Ông Nguyễn Trường Thọ, Ông Đào Mộng Xuân, BS Nguyễn Tường Vân, BS Phạm Văn Diệu, Chị Nguyễn Thanh Xuân, các ông Vũ Anh Tuấn, Ngô Thế Hoành, Nguyễn Thính, Phạm Văn Bảo, Huỳnh Trang Tỉnh, Lê Phục Hưng, Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Thanh Hoàng, Nguyễn Đăng Thịnh, Phạm Hương…

Nhận thấy công việc của Operation Lifeline mỗi ngày mỗi lớn, chính phủ liền mời GS Adelman đưa văn phòng của phong trào về địa điểm 8 York St, Toronto, tức là tòa nhà của Ontario Welcome House mà Hội Người Việt đang được sử dụng. Thế là từ đây, Welcome House và Hội Người Việt ở lầu 1, Operation Lifeline ở lầu 2, cả 3 cơ quan làm việc với nhau rất mật thiết, và trọng tâm là tiếp đón và giúp đỡ các thuyền nhân tỵ nạn từ các trại ĐNA sang.

  1. Ngày 17.7.1979, Tổng Giáo Phận Công Giáo Toronto tuyên bố sẽ nhận bảo trợ người tỵ nạn Việt Nam vô thời hạn.
  2. Ngày 18.7.1979, chính phủ Canada tuyên bố sẽ nhận thêm người tỵ nạn Việt Nam lên tới con số 50.000 cho đến năm 1980, theo diện ‘DC1’ tức diện chính phủ bảo lãnh.
  3. Ngày 20.7.1979, Liên Hiệp Quốc tổ chức một hội nghị bàn về người tỵ nạn Việt Nam. Có 72 nước tham dự. Dịp này, bà Ngoại trưởng Canada Flora MacDonald đọc một bài diễn văn nổi tiếng lên án chính sách độc tài sắt máu của CSVN là nguyên nhân đã gây ra thảm cảnh tỵ nạn này, đồng thời bà hô hào các nước cứu vớt người tỵ nạn.
  4. Ngày 23.7.1979, báo Toronto Star đăng nơi trang nhất hình bà Cornblum và 4 người tỵ nạn mà bà bảo trợ vừa tới Canada. Sau đó bà đã xuất hiện nhiều lần trên TV để nói về thuyền nhân Việt Nam. Bà luôn ca ngợi sự dũng cảm vượt biển, cảnh khổ sở nơi trại tỵ nạn và kêu gọi mọi ngươi bảo trợ thêm.
  5. Xin lắp điện thoại tư nhân. Trong thời gian này, văn phòng Hội Người Việt nơi chúng tôi làm việc vẫn sử dụng chung một đường dây điện thoại của Ontario Welcome House, tức là điện thoại của chính phủ: (416) 965-3021. Đường dây này trở nên quá tải vì quá nhiều người gọi vào để hỏi về thuyền nhân Việt Nam, nên chúng tôi đã gọi cho văn phòng BELL để xin họ gắn một đường dây nữa. Họ trả lời là họ không thể gắn một đường dây tư nhân vào một tòa nhà của chính phủ. Tôi đã xin họ cho một đặc ân vì nhu cầu phục vụ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đang tới dồn dập. Nghe tới tiếng ‘Boat People’ một cái là họ chấp thuận liền, và văn phòng Hội đã có thêm ngay một đường dây mới (416) 369-1030 từ tháng 7, 1979.
  6. Ngày 28.7.1979, chuyến bay đầu tiên của không lực Canada chở 159 đồng bào tỵ nạn tới Toronto. Phi trường Toronto đã tràn ngập phóng viên, và ngay lập tức các đài truyền thanh truyền hình đã làm các phóng sự sôi nổi. Trong đoàn người ra đón tiếp đồng bào có đoàn của Hội Người Việt và Hội Operation Lifeline đông nhất và được chú ý tới nhiều nhất…
  7. Ngày 21.8.1979, một phái đoàn các bác sĩ Canada lên đường sang thăm các trại tỵ nạn Việt Nam ở ĐNA, trong đó có BS Phạm Văn Diệu và Ông Trần Thi Lương làm thông dịch viên.
  8. Đêm Telethon 25.8.1979. Hiệp hội các đài truyền hình Thiên Chúa Giáo cùng với đài quốc gia CBC đã tổ chức một đêm cứu trợ đặc biệt để gây quỹ cứu trợ thuyền nhân Việt Nam. Bộ trưởng Di Trú Canada và ông thống đốc Hong Kong đã xuất hiện trên đài để kêu gọi sự giúp đỡ của mọi người. Bốn gia đình thuyền nhân tỵ nạn vừa đến Canada cũng được mời lên đài. Họ phỏng vấn trực tiếp, và tôi làm thông dịch viên. Tôi nhớ mãi cảnh cảm động này: khi nghe các chuyện người tỵ nạn kể, nhiều nhân viên Canada làm việc trong đài đã khóc, ngay cả người phỏng vấn và người quay máy cũng khóc. Đêm đó đài thu được một triệu đồng.
  9. Từ sự thành công của đêm Telethon trên đây, đài CBC còn tổ chức một đêm cứu trợ nữa, dài 3 giờ, cũng để nói về thảm trạng thuyền nhân Việt Nam và kêu gọi mọi người giúp bảo trợ.
  10. Có thể nói mấy tháng cuối năm 1979 toàn cõi Canada sôi nổi về việc bảo trợ thuyền nhân Việt Nam. Nơi nào cũng muốn làm một cái gì cho thuyền nhân. Ngày 23.9.1979, Hãng Pepsi Cola đã bảo trợ một chuyến thăm viếng Thác Niagara cho 90 thuyền nhân Việt Nam vừa tới Toronto. Hãng này nhờ chúng tôi giúp họ tổ chức chuyến đi. Khi 2 xe bus chở đồng bào tới Niagara thì ông thị trưởng Niagara và ông dân biểu liên bang của miền này đã đến tận xe chào mừng và bắt tay từng đồng bào. Hai xe chở thuyền nhân Việt Nam đã được tiếp rước rất trọng thể.
  11. Ngày 26.9.1979, bốn giáo hội lớn của Canada đã ký một bản tuyên ngôn nhiệt liệt ủng hộ chính phủ Canada trong việc cứu trợ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam và đưa họ tới Canada định cư. Ký văn kiện lịch sử này là Đức Hồng Y Carter đại diện Công Giáo, Ngài Rabbi Plaut đại diện Do Thái Giáo, Đức Giám Mục Garnsworthy đại diện Anh Giáo, và Dr Ray đại diện United Church of Canada. Xưa nay rất hiếm việc ký kết văn thư chung như thế này.

 

Trên đây là mấy biến cố lớn và sôi nổi liên hệ tới đồng bào thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn mà tôi còn nhớ được. Nói về ‘cái tôi’ là điều kiêng kỵ, nhưng vì nó mang một dấu ấn lịch sử liên hệ tới nhiều người, nhất là những đồng bào thuyền nhân tới Canada vào dịp này, nên tôi mạo muội viết ra như trên đây. Mỗi lần nghĩ tới những ngày tháng được làm việc ở Hội Người Việt Toronto chung sức với Operation Lifeline và Ontario Welcome House để đón tiếp và giúp đỡ đồng bào, tôi đều cảm thấy hãnh diện, sung sướng, và hạnh phúc tràn đầy.

Hiện nay, trong danh sách ‘Hội Viên Danh Dự’ của Hội Người Việt Toronto có tên GS Howard Adelman người lập ra Operation Lifeline cứu người tỵ nạn Việt Nam, tên Bà Peggy MacKenzie giám đốc Trung Tâm Ontario Welcomw House chủ nhà, tên Ông John Craig luật sư đã giúp Hội Người Việt bảo trợ 4 gia đình thuyền nhân đầu tiên, tên Cụ Đỗ Trọng Chu là người đã cộng tác lập ra Operation Lifeline và giúp đỡ đồng bào tỵ nạn không mệt mỏi trong nhiều năm.

Canada là một nước vĩ đại về nhiều mặt. Riêng mặt thâu nhận và giúp đỡ người Việt tỵ nạn chúng ta ở miền đất hạnh phúc này là một việc bác ái phi thường. Không những các chính phủ Canada đều bác ái, không những dân chúng Canada đều bác ái, mà ngay cả các giới truyền thông Canada, trong suốt thời gian sôi động, đều ca ngợi và cổ võ việc cứu giúp thuyền nhân Việt Nam; tôi không hề thấy một cơ quan nào lên tiếng nói xấu hay chê trách hay ngăn cản việc giúp đỡ chúng ta. Xét theo tỷ lệ dân số thì Canada là nước đón nhận người tỵ nạn Việt Nam nhiều nhất thế giới.

Chúng ta và con cháu chúng ta phải biết ơn, nhớ ơn và trả ơn nước Canada thân yêu này trọn đời.

Toronto, Xuân Quý Tỵ 2013

Trà Lũ TRẦN TRUNG LƯƠNG

 

More Stories...