Thời Báo Vietnamese Newspaper

Thú vui ngày Tết

Trần Hữu Thuần

Sắp Tết rồi. Quanh năm, cách làng Hoan chừng ba bốn làng, ngày mưa như ngày nắng, chợ phiên họp đều đặn một tháng một lần vào ngày rằm để nông dân trong vùng trao đổi sản phẩm với nhau hoặc với con buôn. Tháng cuối năm, chợ vẫn họp vào ngày rằm nhưng ngoài các thức quen bày bán quanh năm, chợ còn đặc biệt bán các thức cần dùng cho ba ngày Tết. Từ hôm mười bốn, các bà cô nấu trầm kết gội đầu, háo hức đợi sáng đi cho kịp phiên chợ. Gà vừa gáy, các cô chải tóc, bôi một tí giấy bao nhang lên môi, một tí phấn nụ lên má cho môi đỏ hơn má trắng hơn ngày thường. Từ hôm trước, các cô nhẹ nhàng lấy ra đôi guốc, sang thì guốc sơn, kém hơn thì guốc mộc, nằm yên đâu đó từ khi xỏ chân vào lần trước cách nay ít nữa cũng đã chừng ba bốn tháng hoặc lâu hơn, chùi rửa sạch sẽ để hôm nay mang vào chân. Mặt trời chưa lên, hàng tốp người đã lũ lượt kéo nhau đi thành hàng dài trên đường đất, trên bờ ruộng. Những đôi bàn chân vốn quen đi chân không khỏi lúng túng khập kha khập khiểng khi phải lê thêm đôi guốc. Để theo kịp, có cô đành xách guốc đi chân không, đến gần chợ mới lại mang guốc vào.
Ở nhà, lũ trẻ ngóng mẹ đi chợ về để được quà Tết đặc biệt, mong như mong mẹ chợ về. Món quà Tết thứ nhất không thể thiếu cho trẻ em là cái tu huýt. Tu huýt bằng đất sét nung hình con gà to chừng ba ngón tay người lớn sơn xanh sơn đỏ lòe loẹt, phía đuôi gắn lá mía thổi vào kêu te te, trên lưng có một lỗ tròn như lỗ ống sáo, bấm lỗ ti, mở lỗ te, ti te ti te. Món thứ hai là cây mía. Tại sao cây mía lại là quà Tết không thể thiếu cho trẻ em? Có phải tại mía là loại cây hiếm vì quanh vùng làng Hoan không một gia đình nào trồng mía cho dẫu vườn nào cũng trồng đủ loại cây, kể cả vài loại cây rừng như cây bứa không?

Phiên chợ bắt đầu khi có người thứ nhất đến bày hàng ra bán. Phiên chợ Tết đặc biệt còn có các người bày ra các thứ chỉ bán một năm một lần dùng cho ngày Tết. Đó là các nguời bán tranh gà tranh lợn và các ông đồ viết câu đối. Người bán tranh bày các bức tranh gà tranh lợn màu sắc lòe loẹt xanh đỏ, cách riêng tranh con vật chủ của năm đó. Người bán chữ bày các câu đối viết mực đen đen nhánh hoặc mực vàng lóng lánh; năm nào năm nấy câu đối câu liễn đều không chút thay đổi.

“Thay đổi không được mô. Nông dân không biết chữ Nho, thay đổi nhiều họ đọc không được là ế.”
Bán tranh hay bán chữ, người bán đều bày hàng trên đất hoặc treo tòng teng trên bất cứ chỗ nào có thể treo được. Năm nay 1946, năm Bính Tuất, năm Con Chó, tranh con chó được bày khắp chỗ, từ nét vẽ mộc mạc đến chân phương, từ một con đến cả bầy, từ nhiều màu sắc đến một màu xám xịt, tất cà nằm chen chúc nhau không theo một hệ thống nào rõ rệt. Đây là nơi ồn ào náo nhiệt nhất sau các hàng bán tu huýt. Chẳng ai cần hiểu tranh nói lên điều gì, người ta bỏ tiền mua chỉ vì tranh nhiều màu lòe loẹt vui mắt người nhìn và vì tranh vẽ các con vật quen thuộc với cuộc sống nông thôn.

Các ông đồ chữ nho vào thời quốc ngữ không còn dạy được ai để kiếm chút tiền nuôi sống mình và vợ con đành bán chữ thánh hiền cho dân quê làm vật trang trí Tết. Dân mua câu đối câu liễn về lấy hên cầu phước, chẳng đọc được cũng chẳng cần hiểu ý nghĩa mấy chữ loằng ngoằng trên giấy, hoàn toàn tin tưởng vào lời thầy đồ giảng giải.
“Thầy ơi, mấy chữ treo đó là chi rứa thầy?”
Kéo mắt kính trễ xuống sống mũi, ngước đôi mắt kèm nhèm nhìn theo ngón tay bác nông dân đang chỉ, thầy đồ hỏi lại:
“Bức ni hả chú? Đó là tân niên đại cát. Mấy câu như rứa viết hàng ngang, treo rời, không phải câu đối.”
“Không phải, không phải, bức tê tề. Mà tân niên cái chi nghĩa là răng?”
“Là năm mới hoàn toàn may mắn. Còn bức tê là xuân đáo phúc lai.”
Không đợi bác nông dân hỏi, ông đồ chỉ vào từng chữ, giải thích:
“Xuân là mùa xuân, xuân đáo là xuân đến; phúc là hạnh phúc, phúc lai là hạnh phúc đến. Mùa xuân đến, hạnh phúc lại đến theo. Hay không?”
Bác nông dân cười nhưng lắc đầu:
“Hay thì có hay, nhưng….”
Ông đồ cười khẽ, chặn lời, nói ngay:
“Rằng hay thì thật là hay; Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.”
Bác nông dân ngơ ngác nhìn ông đồ, chẳng hiểu ông đồ muốn nói gì. Ông đồ hỏi:
“Bác thấy răng? Có mua không, tui viết?”
Bác nông dân lắc đầu, nói tiếp câu nói bị ông đồ chặn ngang:
“Dạ, Thầy giải thích nghe hay, nhưng tui chẳng biết thời buổi ni hạnh phúc có còn tới được nữa không.”
Ông đồ chỉ một câu khác:
“Không câu nớ thì câu ni, được không tui viết?”
Ông đồ ngiêng đầu ngắm nghía công trình của chính ông. Bác nông dân hỏi:
“Thầy cắt nghĩa trước đã, tui mới biết có mua được hay không.”
“Tứ thời xuân tại thủ; Bách hạnh hiếu vi tiên.”
“Nghĩa là chi, Thầy?”
“Bốn mùa mùa xuân khởi đầu; Trăm đức hạnh, hiếu là đầu tiên.”
Bác nông dân gật gù:
“Câu ni hay đó, dài nhưng có ý nghĩa.”
“Rứa mua hí?”
“Dạ, Thầy viết cho tui đi. Nhưng Thầy lấy bao nhiêu?”
“Tui lấy ông mười tiền.”
So kè qua lại, ông đồ chấp nhận giá bác nông dân đưa ra, lòng thầm buồn khi nghĩ đến cha mẹ ông đã vất vả cho ông theo đòi nghiên bút, những mong ông kiếm được chút công danh làm rạng rỡ tông môn. Nào ngờ, giờ đây công danh rạng rỡ tông môn ông đạt được là ngồi lê đít bán chữ nuôi miệng. Ông thầm nghĩ:
“Bán chữ, mà mô phải đắt khách cho cam.”
Ông đồ mơ màng nhớ lại ngày chữ thánh hiền được nâng niu coi trọng, tờ giấy rơi xuống đất phải được trang trọng nâng lên cao. Ông mài mực, buồn rầu nhìn mực đen đặc quíu trong chỗ lõm trên chiếc nghiên cũ thật cũ. Chiếc nghiên này là quà học trò biếu ông ngày ông đậu Tú tài. Sau đó, ông không còn nhận thêm được quà đăng khoa nào nữa vì mấy keo thi Hội ông đều không vượt qua được. Tuổi cao, ông Tú hoặc thầy Tú là chính ông mở căn giữa ngôi nhà lá ông thừa hưởng từ cha mẹ thành một nơi dạy học. Hàng ngày, nhìn lũ học trò nằm bẹp trên bộ phản giữa nhà, mím môi mím miệng viết hoặc lắc lư đọc, ông nghĩ đến câu phú của Nguyễn Công Trứ, Ngày ba bữa, bụng rau kêu bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no, và câu đối của Cao Bá Quát, Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi. Hai câu đó ghép lại nói lên đủ hết tình cảnh của ông, công không thành danh không toại.

Ông đưa bàn tay cầm ngọn bút lông, ba ngón trên chụm lại cầm cán bút, hai ngón còn lại làm điểm tựa giữ cho cán bút thẳng góc với mảnh giấy đỏ trải trên chiếc chiếu đặt trên mặt đất. Vung tay, ông đảo lia lịa túm lông đã thấm mực đen xuống tờ giấy. Những nét ngoằn ngoèo thay nhau hiện ra. Xong một tờ, ông dịch người qua bên trái một chút rồi tiếp tục vẽ chữ lên tờ thứ hai. Loáng một cái, hai vế đối đã yên vị trên hai khổ giấy ngang chừng hơn gang tay, dài chừng bốn năm gang. Nhìn ông đồ lẩm nhẩm đọc lại với vẻ hài lòng, nhìn những cục chữ nằm im lìm trên giấy, bác nông dân nhẩm lại câu cắt nghĩa của ông đồ để khi đem câu đối về nhà bác còn có thể giải thích cho vợ con và cho bà con lối xem nếu có ai hỏi. Bác mỉm cười khi nhận ra dẫu sao bác cũng còn có chút văn hơn người cùng xóm bác, không hiểu văn thì ít ra cũng còn chuộng văn.

Năm nay, không khí làng không như những năm đã qua. Lo âu vì chuyện thời thế dồn dập, đa số dân làng gần như quên mất ngày mừng năm mới cổ truyền của dân tộc. Mồng một Tết, cả nhà vào mừng tuổi Mệ Ngoại đang bệnh nặng. Nằm trên giường bệnh, Mệ lì xì cho con cháu rồi mệt nhọc hỏi:
“Năm ni Tết nhất ra răng? Chắc không vui hỉ? Có Bài Chòi Cờ Người chi không?”
Ba Hoan thay mặt cả nhà trả lời:
“Dạ không, Mạ.”
“Rứa thì buồn chết.”
Ngày Tết bình thường, dân làng chơi các môn cờ bạc nặng nhẹ. Hạng nhẹ, bình dân chơi Bài Tới, Cờ Chồng còn gọi là Tam Cúc, hốt me, hốt lú, sang trọng hơn chơi Xăm Hường, chung cho sang hèn là Tứ Sắc, Bài Xẹp. Tập thể có Bài Chòi. Hạng nặng có xóc dĩa.
Xóc dĩa có hai cửa, chẵn và lẻ, quyết định do mặt sấp nghĩa của bốn đồng tiền. Nhà cái đặt bốn đồng tiền, mỗi đồng đã sơn một mặt đen một mặt trắng, lên một cái đĩa sành nhỏ trên úp một cái bát rồi bắt đầu lắc đều nhịp. Bốn đồng tiền reo hồi hộp trong bát. Đặt bát dĩa xuống chiếu, nhà cái hô lớn:
“Đặt đi, đặt đi.”
Chiếu phân thành hai bên, bên chẵn bên lẻ. Một người bàn:
“Lẻ là cái chắc, rền bốn cái chẵn rồi.”
Nhiều người góp ý:
“Chắc đúng đó, lẻ một quan nì.”
Người ta đua nhau đặt tiền vào cửa lẻ. Ước lượng chênh lệch giữa số tiền đặt cửa lẻ và tiền vốn, nhà cái hô lớn:
“Bán cái!”
Bán cái nghĩa là nhà cái nhường ăn thua lần mở bát đó cho người nào đứng ra mua. Một người quần trắng ái dài đen sạch sẽ hô lớn:
“Tui bắt.”
Người chơi nhìn lên, xì xào:
“Ông Bộ.”
Ông Hương Bộ là thành viên của Hội đồng Hương tề lẽ ra không được đánh bạc bị Hội đồng cấm. Do máu me, ông thỉnh thoảng chợt hiện chợt biến nhảy vào bắt cái cầu may. Nhà cái hô:
“Đặt xong chưa? Bán cái. Cất tay.”
Đó là lệnh cho người chơi rút tay ra khỏi chiếu, không thể thay đổi số tiền đã đặt trên chiếu hoặc ăn gian rút tiền lại khi nhà cái mở bát. Đứng lên nhìn về phía ông Bộ, nhà cái khoanh tay:
“Mời ông Bộ mở bát.”
Ông Bộ từ tốn tựa cán dù đen vào cạnh tủ dùng làm bàn thờ, bỏ đôi dép cạnh cây dù, cười hề hề rồi vén chiếc quần lụa ngồi xuống chỗ nhà cái vừa nhường. Ông nhỏ giọng nói:
“Cất tay. Cất tay.”
Rất chuyên nghiệp, ông Bộ xoay cái bát úp trên dĩa. Cái bát xoay lượn trên chiếc dĩa nhanh như chong chóng nhưng không để lộ các đồng tiền bên trong. Nhanh như cắt, ông Bộ vươn tay chặn chiếc bát đang xoay nhấc lên, miệng hô lớn:
“Mở nì. Hai trắng hai đen, chẵn.”
Trố mắt nhìn chiếc đĩa nhỏ trên chiếu, mọi người ồ lên:
“Lại chẵn. Ôi, rền chi mà rền chết người, tới năm lần rồi. Đổi dĩa đổi tô đi.”
Nhà cái bứt đầu bứt tóc vì đã nhìn sai tiền ra trên dĩa, thầm oán trách bị tổ trác. Trong nghề xóc đĩa, nhà cái thường là tay cờ bạc chuyên nghiệp với đủ mánh khóe gian lận. Nhà cái thường chỉ gian lận bằng cách khéo léo xoay bát thế nào để có thể nhìn rất nhanh vào các đồng tiền sấp ngữa ra trên dĩa bên trong bát. Nhìn ông Bộ vơ bên lẻ chung bên chẵn, nhà cái tiếc hùi hụi nhưng chẳng dám hé môi, chỉ nói đưa khen ông Bộ:
“Ông Bộ hên thiệt, tui không thể nghĩ được rền đến năm bát như rứa.”
Ông Bộ gom tiền, đứng lên, xỏ dép bước ra khỏi chiếu. Nhà cái nói:
“Ông Bộ không đánh nữa răng?”
Ông Bộ cười:
“Chút cho vui thôi, tui mô dám. Ai mỏng mép méc ông Xạ là chết tui.”
Chủ nhà líu quíu chờ sẵn cạnh ông Bộ, đợi ông Bộ cho tiền xâu là ngữa tay lấy, vái vái cám ơn ông Bộ vì số tiền hậu hĩnh. Tiền xâu là tiền nhà cái hoặc người mua cái cho nhà chủ sau mỗi lần thắng.
Cờ chồng, nơi khác gọi là tam cúc, gồm các quân Tướng Sĩ Tượng Xe Pháo Mã Tốt hay Chốt như cờ Tướng, cao hơn hết là quân Tướng, thấp nhất là Tốt. Bộ cờ gồm hai màu, đen hoặc xanh và đỏ. Nếu hai quân ngang cấp, quân đỏ thắng quân đen. Mỗi người tuần tự bốc quân gỗ đã sắp thành chồng hoặc người làm cái chia quân giấy, mỗi người tám quân nếu bốn người chơi. Nếu chỉ có ba người, tám quân thừa sẽ để trên chiếu, người nào không ăn được quân cờ tay trên đánh ra sẽ bốc cho đến khi có quân ăn được hoặc không còn quân nào trên chiếu nữa. Người nào ăn được quân cuối cùng là người thắng cuộc.

Hốt me hoặc hốt lú dùng một số đồng tiền hoặc bất cứ thứ gì có thể bốc lên một nắm và đếm được, lần lượt trừ đi mỗi lần bốn đơn vị cho đến khi còn lại nhóm cuối cùng nhiều nhất là bốn. Nếu cuối cùng còn lại một thì gọi là yêu, hai là lượng, ba là tam, bốn là túc. Trò chơi này chẳng biết xuất xứ từ đâu, đếm bằng phương ngữ Trung Hoa nào, và cũng chẳng biết tại sao lại không đếm theo thứ tự từ nhỏ đến lớn yêu lượng tam túc mà lại đếm không theo thứ tự nào tam túc yêu lượng. Học giả Huình (sic) Tịnh Paulus Của ghi trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị rằng “Hốt me là bày cuộc chơi tiền” có “bốn cửa là tam túc yêu lượng.”( )

Bài Chòi lại là môn cờ bạc tập thể phổ thông ở Miền trung; tập thể không hiểu theo nghĩa nhiều người cùng chơi một lúc mà là nhiều người tham gia vào trò chơi. Ngày Tết rảnh rỗi, trai gái già trẻ được nghỉ việc đồng ruộng túa ra bãi bài Chòi để chơi thì ít mà coi người khác chơi và để nghe hát thì nhiều. Có thể nói bài Chòi là nhà hát lộ thiên bình dân vì cách rao bài đã là một bài ca, chưa tính ca tuồng xen kẻ giúp vui. Điệu rao bài Chòi thay đổi tùy địa phương, Bình Trị Thiên khác Nam Ngãi Bình Phú, Miền Nam khác Miền Trung. Các bài ca cổ giúp vui thường là các trích đoạn hát bộ ca theo phong cách địa phương, ngày nay còn cả các bài tân nhạc. Người chơi phần lớn là phụ nữ. Tháp tùng các bà các mẹ là một vài bạn trẻ và nhiều là trẻ em. Các bạn trẻ, gái nhiều hơn trai, giúp bà giúp mẹ đoán câu thai tức bài ca người xướng rao về con bài bốc được cho người chơi đoán. Bộ bài chòi gồm hai mươi bảy hoặc ba mươi ba lá tùy theo số lều được dựng, là bộ Tam cúc biến thể, với các tên gọi trở thành bình dân tùy địa phương như con Nọc đượn, con Nghèo, con Học trò. Với giá tiền có tính cách mua vui hơn là sát phạt, người chơi mua ba con bài hoặc rời nhau thay đổi mỗi lần mua, hoặc từng bộ ba viết sẵn trên một tấm thẻ.

Gọi là bài Chòi vì người chơi ngồi trên các chòi, chín hoặc mười chòi, dựng tạm bằng tre lợp tranh cao hơn mặt đất chừng mét hơn mét bước lên bằng mấy nấc thang tre. Chòi đủ chỗ cho ba bốn người ngồi. Tùy thế đất, chòi có thể dựng thành hai dãy song song quay mặt vào nhau, dãy này cách dãy kia một khoảng sân chừng ba bốn mét, hoặc thành một vòng tròn. Cắt ngang một đầu sân hoặc ở giữa vòng, nhìn ra sân trống, người ta cất một chòi rộng hơn dành cho quan viên giám sát buổi chơi và ban điều hành. Ban điều hành gồm ba bốn người bao quát hết mọi việc, vừa hô thai, vừa phụ họa người hô thai tức câu đố về con bài bốc được, vừa rước và trao phần thưởng, vừa giúp vui xen kẽ.

Ban nhạc bài Chòi lớn nhỏ tùy khả năng ban tổ chức và số lượng nghệ nhân có thể có được, cơ bản gồm đàn nhị, kèn ba lá, trống con, mõ, chiêng, sanh, và phách, đôi khi thêm một trống đại cầm chầu. Miền Trung, điệu hát bài chòi cơ bản là điệu hát dùng cho Hát Bội thịnh hành hai vùng Quảng Nam và Bình Định, có nhiều đoạn xuống Xề như thể sắp vào Vọng cổ nhưng không. Câu hát thường theo một thể điệu lặp đi lặp lại nghe như ngâm thơ hoặc nói lối ngân nga đầy cảm xúc. Một đặc điểm là tiếng đàn và kèn đi khá sát câu hát, không tùy tiện tách rơi như trong cổ nhạc miền Nam quen gọi là cải lương. Cây nhị có thể không có nhưng cây kèn ba lá thì bắt buộc phải có vì một mình nó cùng với trống con cũng đã thành ban nhạc. Kèn tí te, đàn í e, trống lùng tùng, mõ lóc cóc, chiêng cheng cheng, tất cả hòa vào nhau thành giàn nhạc đệm.

Theo tiếng sanh phách giữ nhịp, người hô thai nâng hộp đựng thẻ bài làm bằng một ống tre một đầu còn mắt vừa đi vừa ca bài kiểm tra số quân bài, tay chân mua may theo cử điệu hát Bội. Mỗi quân bài rút ra được rao to và đặt vào một ống khác. Kiểm tra đủ, ống quân bài sẽ được cắm vào một trụ tạm thời có thể lắc qua lắc lại để xáo quân bài.
Buổi chơi bắt đầu. Hiệu hát dạo, thường là một vài câu chúc Tết:

Hiệu tôi kính chúc đôi lời,
Xin chúc Năm Mới mọi người an khang,
Gia đình thịnh vượng bình an,
Phúc lộc đầy tràn, phú quí thăng hoa.

Rồi bắt đầu vào ý chính:

Gió xuân phảng phất ngọn tre,
Hai bên cô bác lặng nghe bài chòi.

Rút được thẻ quân bài trong ống, người cầm thẻ sẽ hô thai. Thai là câu đố với nội dung không trực tiếp nói đến quân bài rút được, khó dễ hay dỡ tùy trình độ hiệu, thường không quá khó để người chơi có thể đoán ra. Người đoán ra thai sỏ mõ, ban điều hành đến cho biết đoán đúng hay sai. Nếu đoán sai, các chòi còn lại tiếp tục đoán. Hết lượt các chòi nếu vẫn không ai đoán đúng, ban diều hành sẽ rút quân khác và hô lại.
Đi mô cọ xiểng đi hài,
Cử nhơn không đậu, tú tài cũng không
.
Không cử nhân không tú tài thì đúng là còn đang đi học, vì đi học mới đi hài, đi cày cuốc thì không. Vậy, lời giải là anh học trò, Con Trò.
Nửa đêm gà gáy le te
Muốn đi rón rén đụng nghe cái ầm.

Câu này không phải câu đố để giải mà chỉ là câu dựa vào tiếng đồng âm, nghe cái ầm tức là Con Ông Ầm. Chòi nào đoán trúng đủ ba con sẽ hô lớn:
“Tới.”
Dàn nhạc lập tức thay đổi cung điệu chào mừng chòi thắng cuộc trong khi ban tổ chức đến kiểm tra để chắc chắn trúng cả ba quân bài. Tiền trúng giải đặt trên khay có cắm cờ được bưng đến tận chòi tới. Ban đều hành trao tiền thắng cho người chủ chốt, sau đó rót một chung rượu chỉ mời người chủ chốt mà thôi, không mời người cùng ngồi trên chòi. Tiền thắng của bài Chòi là tiền các chòi mua quân đóng vào, trừ đi tiền điều hành đã được qui định. Người ta nô nức đến chơi không phải với chủ tâm cờ bạc mà với chủ tâm vui Xuân và cầu may đầu Xuân. Do vậy, người thắng người thua đều ra về với nụ cười hể hả, luôn miệng chúc nhau năm mới an khang thịnh vượng phát tài phát lộc.

Một thú vui khác trong ngày Tết là cờ Người. Cờ Người đây không phải là loại nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã đét đồn lên đánh mà là cờ Tướng chơi trên bàn cờ nền đất, quân cờ Tướng Sĩ Tượng Xe Pháo Mã cũng không làm bằng gỗ bằng ngà mà bằng người thật đóng vai các quân. Người đóng quân cớ thường là võ sinh biết đi quyền và sử dụng thương, đao, kiếm, hoặc ít nữa là người biết múa may trông như đánh võ. Người đóng vai quân cờ thường mặc trang phục và cầm binh khí đúng vai trò đang đóng, trên trang phục có viết tên quân cờ. Hai người đấu cờ, thường là các tay cờ có hạng trong làng, đánh cờ trên bàn cờ đặt trong nhà, có trọng tài sẵn sàng phân xử và hô lên nước cờ mỗi đấu thủ đi quân. Nghe trọng tài hô, một người cầm loa chỉa ra bên ngoài hô lớn nuớc cờ:
“Đỏ đi tiên, Chốt bảy tấn một.”

Trên sân bàn cờ, người đóng vai quân Chốt ở vị trí số bảy múa thương, đấm đá, rồi tiến lên một nấc trong tiếng trống thúc quân vang rền. Người rành cờ bình phẩm với bạn bè:
“Chà, Đỏ dùng thế tiên nhân chỉ lộ, rõ ra là người rành cờ.”
Lại có tiếng loa:
“Xanh đi, Pháo hai bình ba.”
Người bình phẩm lại nói:
“Nhất định Xanh biết Đỏ dùng tiên nhân chỉ lộ nên đi pháo hăm dọa.”
“Hăm là hăm cái gì?”
“Hăm tấn chốt bắt chốt Đỏ. Đỏ không dám bắt chốt của Xanh vì nếu bắt, Pháo nhảy Tượng chiếu tướng, Đỏ mất xe.”
Quân cờ bên ngoài lại múa đao múa võ đi đến vị trí. Loa lại rao:
“Đỏ đi, Pháo hai bình năm.”
Người bình phẩm lại lên tiếng:
“Đỏ phản công biến thế.”
“Biến là biến thế nào?”
“Thế xuất quân này nguyên phải phản công bằng Pháo tám bình năm, nhưng Xanh đi Pháo hai bình năm. Chà gay cấn đây.”
“Xanh đi, Tượng ba tiến năm.”
Người bình phẩm:
“Đúng rồi, không lên Tượng là nước sau bị Pháo trống ngay.”
Loa rao:
“Đỏ đi, Mã hai tiến bảy.”
“Xanh đi, Xe chín tiến hai.”
Cứ thế, hai người đấu cờ bên trong điều động quân cờ bên ngoài khi tiến, khi thối, khi chém giết nhau trong tiếng trống thúc quân vang lừng, tiếng reo hò của người coi khi thấy nước cờ hay, hoặc la ó khi nước cờ sơ hở. Nhiều người trong họ cá tiền bạc nhằm mua vui không nhằm sát phạt. Xong một trận.
Trận kế tiếp, loa rao:
“Đỏ đi tiên, Pháo hai bình năm.”
Người bình phẩm lại lên tiếng:
“Cha chả, hôm nay thực đã con mắt, Đỏ có lẽ sử dụng thế Phản Hoa Mai.”
Người bạn nói:
“Bác coi bộ giỏi cờ dữ, răng không ghi tên đấu cho vui?”
“Bác nói rứa chơ tui chỉ biết sơ sơ thôi, thi đấu tôi kham răng nỗi. Tôi có cái bệnh hồi hộp, khi mô gặp chuyện là tim đánh loạn xà ngầu chẳng còn suy nghĩ chi được nữa.”
“Ra rứa, tui mô có dè. Rứa theo Bác, Xanh sẽ chống lại bằng thế đánh nào?”

“Nếu đúng bài bản thì còn tùy, vì thế Phản Hoa Mai ni có tới bảy cách phản khác nhau, nào là Đương đầu pháo trực xa phá bình phong mã, nào là Pháo đầu phá tiên chốt vân vân. Cứ coi nước tới là có thể đoán ngay hai bên dùng thế nào.”
Loa rao:
“Xanh đi, Mã tám tiến bảy.”
“Đỏ đi, Mã hai tiến ba.”
“Xanh đi, Tốt ba tiến một.”
Người bình phẩm nói ngay:

“Chừ thì khá rõ rồi, đúng là Pháo trực xa phá bình phong mã.”
Người bạn hỏi:’
“Nếu đúng rứa thì ai thắng?”
“Không thể nói chắc vì còn tùy biến thế, chẳng ai đem nguyên thế cờ ra đánh vì mình biết thì người ta cũng biết, phải biến thế rồi hoặc tìm cách đến hồi kết của thế xuất quân hoặc qua hồi kết của thế cờ khác.”
“Có lý.”

Loa rao. Quân tiến quân thối. Trống thúc quân. Người coi reo hò la ó tở mở. Trận cờ này nối tiếp trận sau cho đến trận chung kết. Trên đường về, người bình phẩm bảo bạn:
“Cờ tướng học theo bài bản, nhưng xuất quân hoặc tiến quân đều phải biến thế để đối phương không đoán được ý mình.”
“Rứa thì học bài bản để mần chi?”

“Để một là nếu đối phương sử dụng các thế bài bản, mình biết trước để phản công hoặc lợi dụng để biến thế theo ý mình.”
“Rứa hèn chi cờ tướng cao thấp khó mà đo lường.”
Niềm vui Tết dân dã ngày trước đơn sơ và thanh bình như một thuở đất nước thanh bình. Ôi, ngày vui đó nay còn đâu.
Trần Hữu Thuần

( ) Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, NXB Rey, Curiol & Cie, 1985, tr. 447, cột 1, định nghĩa 10.

Comments are closed.

error: Content is protected !!