Thử nhìn lại ngày 30/04/1975

Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng. Mỗi biến động, mỗi trăn trở lo toan của bất cứ ai, lớn nhỏ, bất cứ ở nơi nào trên thế giới đều trực tiếp chuyển đến mỗi mái nhà, mỗi căn hộ, mỗi con người Việt Nam trong nước cũng như hải ngọai. Thế giới chung quanh ta đã sải những bước thật dài hội nhập Toàn Cầu Hóa- TCH. Trong khi đó chúng ta vẫn mãi mê đấu tranh biết bao gian khổ, qua bao nhiều năm tháng rồi vẫn chưa có thể thay đổi tầm nhìn của nhau, để có chung một tầm nhìn về ngày 30-4-1975, đúng đắng hơn, công bình hơn nhất là phù hợp hơn với chân lý lịch sử.

Người cộng sản gốc Bắc gọi ngày 30-4-75 là ngày Giải Phóng Miền Nam, trong khi đó người cộng sản gốc Nam gọi là ngày Thống Nhất Đất Nước. Đó là những thông điệp ẩn tàng mâu thuẫn giữa những người cộng sản gốc Bắc và những người cộng sản gốc Nam (bên dưới vĩ tuyến 17) khi họ nhìn về ngày 30-4-75. Trong suốt 7 đời Tổng Bí Thư, khi nói về ngày 30-4, các ông TBT luôn luôn nhấn mạnh ý nghĩa ngày đó là ngày Giải Phóng Miền Nam, không một lời, không một lần, không một ông TBT nào nhắc đến cụm từ Ngày Thống Nhất Đất Nước. Sở dĩ những người cộng sản miền Bắc kiên trì bám chặt vào cụm từ “Giải Phóng Miền Nam” vì cụm từ này ẩn tàng ý nghĩa: Chính người Cộng Sản miền Bắc đã giải phóng miền Nam, và trên lý thuyết người Cộng sản miền Bắc tự cho mình có quyền cai trị miền Nam: kẻ nào giải phóng, kẻ đó có quyền cai trị, chỉ đạo những người được họ giải phóng. Trên thực tế sau ngày 30/4/75 người cộng sản miền Bắc đã vào khống chế, cưỡng đoạt, cai trị miền Nam một cách vô nhân đạo, tàn khốc và ác liệt hơn bất cứ một lực lượng xâm lăng nào của ngoại bang, như Tàu, Tây, Mỹ, Nhật…trong suốt 2000 năm biên niên sử của Tổ quốc. Người cộng sản miền Bắc tha hồ tước đoạt tài sản của nhân dân miền Nam, tù đày cải tạo hàng triệu người miền Nam, những thanh niên, những trí thức yêu nước già cũng như trẻ, nam cũng như nữ. Họ tha hồ hành hạ vùi dập sát hại người miền Nam trong các trại tù lao cải. Người cộng sản miền Bắc thẳng tay trấn át, vùi dập, thanh trừng ngay cả những người cộng sản miền Nam khi những người này chống đối lại đường lối cai trị tàn bạo và vô luân của người cộng sản miền Bắc. Đó là sự thật lịch sử và ý nghĩa của ngày 30-4-75 trong suốt 45 năm qua.

Ngày 6 tháng 4-2010, đột nhiên trên Tuần ViệtNam Net, nhà báo Huỳnh Bữu Sơn viết một loạt bài phóng sư với tựa đề:

– Đường Hòa Nhập của Nhân sĩ Chế Độ Cũ

– Trí thức của chế độ cũ góp sức cải tổ ngân hàng…

Với những tiểu đề

-Trí thức của chế độ cũ lần đầu tiên gặp ông Sáu Dân

-Trí thức chế độ cũ, gắng cưộc đời với thời vận dân tộc….

-Từ ‘ngủ dài đỡ đói’ đến Khu Chế Xuất đầu tiên…

Mãi đến bây giờ (2010) người CSVN mới có đủ can đảm đưa công trình cống hiến của Trí Thức Quốc Gia yêu nước ra trước ánh sáng lịch sử. Đó là lần đầu tiên những cụm từ ‘Ngụy Quân’, ‘Ngụy Quyền’, ‘Trí Thức Ngụy’, ‘Nhân Viện Nguy’… được chính thức thay thế bằng những từ đúng đắng hợp lý hơn: Trí thức Chế độ cũ, nhân viên chế độ cũ. Và đó cũng là lần đầu tiên một nhà báo cộng sản, ông Huỳnh Bữu Sơn, công khai ghi nhớ công ơn đóng góp của những nhà trí thức quốc gia miền Nam trong công cuộc xây dựng phục hồi kinh tế đất nước sau ngày 30-4-75. Một sự chuyển hướng nhẹ nhàng, nhỏ như vậy, mà phải chờ đến 35 năm sau đảng CSVN mới có đủ sức để làm việc ấy. Càng tệ hơn nữa, sự đóng góp vô cùng to lớn của những người trí thức quốc gia yêu nước trong việc xây dựng lại diện mạo quê hương, cải tổ kinh tế, cải tổ hệ thống ngân hàng, tài chánh định liệu từ giá cả sinh hoạt, luơng phạn, đến bảo vệ tiền Đồng vượt khỏi khỏi lạm phát phi mã những năm 80… Công trạng to lớn ấy, suốt 35 năm đã bị quên lãng, bị vùi sâu trong bóng tối, bị trù dập, bị phãn bội phũ phàng. Mãi đến ngày 6 tháng tư 2010 nhà báo Huỳnh Bữu Sơn mới hé mở cho cả nước nhìn vào hồ sơ hồ sơ đen tối phãn bội ấy của đảng CSVN đối với trí thức miền Nam sau ngày Thống Nhất Đất Nước.“Thế thì” mới biết người công sản ViệtNam luôn luôn bị vây hãm trong ý thức hệ chuyên chính vô sản một cách tệ hại, sư chuyển hóa của họ chậm chạp so với nhân dân ta cả nước, họ luôn luôn lửng thửng đi sau 90 triệu đồng bào cách xa hàng ngàn cây số hơn cả chiều dài khoảng cách giữa Hà Nội và Saìgòn. Đảng CSVN là lực trì kéo tiến độ dân chủ hóa, tiến độ toàn-cầu-hóa và làm chậm lại tiến độ phát triển kinh tế đất nước một cách tệ hại.

Cũng trên điên báo Tuan Viet Nam.net hôm 30-4-2010, người độc lại thấy xuất hiện bài viết:

Ba Điều Ước 30-4

của nhà giáo Phạm Toàn. Ông Toàn, bộc bạch:

“Có một hành động của tôi vào năm 1976, cứ nghĩ là sẽ giữ kín mãi trong lòng, sống để bụng chết mang đi. Nay tôi xin thổ lộ…tôi đã viết lá thư gửi một người mà tôi nghĩ đồng chí đó sẽ thấu hiểu mấy điều “vô cùng hợp lý”- Xin nói luôn là lá thư đó không có hồi âm…”.

BRA200258_local_728x90_A

– Điều ước thứ nhất của ông giáo Phạm Toàn là

Yêu cầu Xóa Thuế Nông Nghiệp cho Nông dân trong vòng 20 năm.

Lời yêu cầu này làm chúng ta nhớ lại những cuộc biểu tình nỗi dậy của giai cắp Nông dân, tá điền, trong thời kỳ tiền Cách mạng trước năm 1945, tại hầu hết nông thôn, thị xã, thành phố trong nước yêu cầu các phú nông, phú hào, địa chủ giảm bớt địa tô. Qua điều ước thứ nhất, phải chăng nhà giáo Phạm Toàn tố cáo nông dân sống dưới chế độ cộng sản không khác gì những tá điền trong thời đại phong kiến, và còn kém hơn nữa là khác, vì thuế nông nghiệp nặng hơn nhiều, tàn bạo hơn nhiều so với địa tô trong thời đại phong kiến. Chủ nghĩa Cộng sản tước đoạt mọi quyền sở hữu, tư hữu của người dân, sở hữu tài sản, sở hữu đất đai, rưộng vườn, sở hữu trí tuệ, ngay cả sở hữu chính mình. Đảng CSVN hô hào ‘kẻ thù của Cách mạng là chủ nghĩa cá nhân’…không có tư hữu, không có riêng tư trong chế độ Cộng sản…

– Điều ước thứ hai của ông Phạm Toàn là:

Xin đốt lý lịch toàn dân và viết lại từ ngày 1 tháng 5 nào đó…

Sở dĩ thế, vì dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa-XHCN- con người bị đối xử, bị phân biệt qua bản lý lịch. Bản lý lịch đã trở thành một công cụ, một lăng kinh, hình ảnh người dân được chính quyền cộng sản nhìn qua lăng kính này: sự thật bị bóp méo, gian dối được tô hồng. Qua điều ước thứ hai này có phải chăng điều ông muốn nói là hãy cùng nhau cố quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù vì tương lai dân tộc, tiền đồ tổ quốc…

– Điều ước thứ ba của ông:

Ông cố tình thúc đẩy đảng CSVN phải chủ động, kể từ hôm nay, yêu cầu Hoa kỳ và Liên Xô từ đây không được gửi khí giới qua đây mà chỉ gửi rất nhiều thanh niên nam nữ sang cùng với phát triển văn hóa nghệ thuật tạo ra cái mẫu để cho thế giới làm theo. Nói là để cho thế giới làm theo, là cách nói để tránh vạ miệng, nói cho đúng ra là phải nói cho thế hệ trẻ Việt Nam làm theo. Nhà giáo Phạm Toàn qua điều thứ 3 tố cáo ngày 30-4-75 là cái giá quá đắc cho cả nước phải trả vì thói quen tệ hại, cầu viện nước ngoài.

Trong quá khứ, thật sự sau thời kỳ Đổi Mới của ông Mười Cúc-Nguyễn Văn Linh, những năm cuối năm 80, có nhiều thay đổi, có nhiều chuyển hóa giống như điều ước của nhà giáo Phạm Toàn. Nhưng nó được thực hiện chỉ vì hoàn cảnh lịch sử, chỉ vì đòi hỏi từ tình trạng xã hội và kinh tế chớ không phải xuất phát từ sự giác ngộ của đảng CSVN, nhìn nhận quyền tư hữu của người dân, hay đốt sạch lý lịch quá khứ của toàn dân để tạo một xã hội bình đẳng hài hòa.

Theo yêu cầu của bạn bè, của báo Viet Nam.net, nhà giáo Phạm Toàn thử tìm ra một giải pháp đứng đắng, một cơ sở công bằng cho việc hòa hợp hòa giải dân tộc. Đáp lại những yêu câu này, ông Phạm Toàn viết:

“hòa hợp hòa giải dân tôc không thể diễn ra trong ảo tưởng tốt bụng, như trong những giấc mơ ban ngày…mà có lẽ phải cần hơn tới những gốc nhìn thực tế…Đàn con chỉ quay về tổ khi thấy tổ ấy xứng đáng để quay về…Hòa hợp hòa giải trong thời đại này phải là việc thực tế, không còn là việc tuyên truyền…Cái tổ này phải thực sư là một nơi có độc lập tự do hạnh phúc như mọi nơi mà con dân Việt đang sống…”

Chúng tôi xin khẳng định với nhà giáo Phạm Toàn, chúng tôi luôn luôn tin vào những dòng chữ sau đây của ông viết là đúng, là thích hợp với lịch sử:

“ Ta sẽ thấy ngay từ đầu, công việc hòa giải hòa hợp, tuy đặt ra chung cho mọi người Việt Nam ở khắp nơi trên trái đất này, nhưng nó phải và chỉ có thể thực hiện trước hết ở ngay trên mảnh đất Việt Nam… Đám con chỉ quay về tổ khi thấy tổ ấy đáng được quay về”./.

Đào Như
BS Đào Trọng Thể
Chicago, 30-4-2020

More Stories...