Thảm kịch vượt biên thế kỷ 21!

Chu Nguyễn

Bước sang thập niên thứ hai tân-thiên-niên, làn sóng vượt biên tới Mỹ từ các quốc gia nghèo khó ở Nam Mỹ tăng cao tới mức báo động và thế giới phải nhìn nhận chúng ta lại chứng kiến một cuộc “khủng hoảng nhân sinh” (humanitarian crisis) mới mà nạn nhân là trẻ thơ.
Phần sau đây dựa vào phần tường thuật của hai ký giả Luiza Ch. Savage và David Agren trong bài Running for their lives (Đào tẩu để sống còn) đăng trên tờ MacLean’s số tháng 7, 2014.

Tình trạng bất ổn do băng đảng hoành hành ở các thành phố như San Salvador (thủ phủ của El Salvador, một quốc gia nhỏ bé ở Nam Mỹ) khiến cho đám thanh thiếu niên bị dồn vào đường cùng và phải lũ lượt rủ nhau đi tìm đất sống ở tận phía bắc là Mỹ quốc.
Con đường phải trải qua trong chuyến Bắc du không phải là dễ dàng mà vô cùng cam go và nguy hiểm. Có tới được “đất hứa” phần đông kẻ sống sót phải bị tạm giam và chưa biết ngày nào mới thấy “thiên đường hạ giới” mà chúng mơ ước. Mối ám ảnh trong trại tập trung là bị đuổi trở về quê hương nghèo khó đầy bạo lực chập chờn trong giấc ngủ của lũ trẻ tha hương.
Jimmy Sánchez là một trong số hàng chục ngàn thiếu niên Nam Mỹ phải bỏ quê hương vượt 4000km tới biên giới Mỹ. Tại sao tuổi thơ lâm cảnh phải đi tìm đất sống? Jimmy sinh trưởng trong một thành phố có mức án mạng cao nhất thế giới, dân cư đông đúc, đường phố đầy băng đảng mà dân địa phương thường gọi là bọn maras như băng Mara Salvatrucha (hay MS-13) và Calle 18. Chúng làm đủ việc phạm pháp và thường xuyên tống tiền những kẻ muốn sống yên ổn tại nhà của mình.
Băng đảng ở đây chơi súng nhiều hơn dao, và chuyện bạo hành đổ máu thường xuyên xảy ra trên phố phường. Hai băng lại giao chiến và tuyển “binh” trong đám học sinh ngây thơ. Kẻ nào chống cự là ăn đạn vào đầu theo đúng luật giang hồ: “thuận ta thì sống, chống ta thì chết!”
Jimmy chỉ còn cách ra đi vì có mẹ làm y tá ở Miami. Cậu bé 13 tuổi, mảnh khảnh, quyết định: “một là chết bờ chết bụi hai là thành công thì đoàn tụ với mẹ sau 6 năm xa cách và có cơ hội sống cho ra sống vì nghe nói ở Mỹ có tự do, tính mạng con người được bảo đảm và có biết bao cơ may mở ra cho kẻ muốn xây dựng tương lai.”
Tháng Sáu 2014, được mẹ gửi tiền về San Salvador, Jimmy từ biệt bà nội tìm đường vượt biên và cậu biết rõ không cô độc vì lứa tuổi cậu phải bỏ phố nghèo ra đi không phải hàng trăm mà hàng chục ngàn người. Chặng đầu tiên của cuộc hành trình từ San Salvador tới biên giới Mỹ là đáp xe bus, xe hỏa tới Arriaga, Mexico rồi từ đó vượt biên tây nam của Mỹ quốc.

Con số thiếu niên Nam Mỹ tìm đất sống ở Mỹ mỗi năm một tăng cao. Trong năm 2014, cho tới tháng Bảy, cơ quan thuế quan và biên phòng của Mỹ (US Customs and Border Protection) đã giữ 57.000 trẻ em không có cha mẹ đi theo, tìm cách lén lút vào Mỹ. Con số này so với năm ngoái tăng gấp đôi và nếu so với năm trước nữa thì gia tăng gấp bốn lần. Phần lớn số trẻ này tới từ những quốc gia nghèo khổ và nạn bạo hành leo thang thuộc Nam Mỹ như El Salvador, Honduras và Guatemala. Chúng đã phải vượt một con đường xuyên suốt Mexico trên những chuyến xe lửa chở hàng hết sức nguy hiểm có hỗn danh là xe tử thần La Bestia (the Beast) chuyên chở những hành khác lậu chen chúc trên nóc xe, bất chấp rủi ro gây thiệt mạng hoặc què quặt cho những kẻ bó buộc phải coi thường sinh mạng.
Những đứa trẻ con nhà khá giả có thể đáp những chuyến bus do bọn buôn người tổ chức và cha mẹ một trẻ phải trả cho chúng hàng ngàn Mỹ kim. Một số trẻ còn chịu cảnh trấn lột, tấn công và cả bị hãm hiếp khi tới được vùng hoang mạc biên giới Mexico và Mỹ.
Vào 9 tháng 7, một ủy viên cơ quan biên phòng Mỹ là Gil Kerlikowske trình bày vấn đề với một ủy ban của Thượng viện Mỹ: “Chúng tôi đề cập tới một số lượng lớn trẻ em, không có cha mẹ đi kèm, đã tới biên giới của chúng ta, trong tình trạng đói khát, kiệt sức, hoảng sợ và rã rượi.”
Chính quyền Mỹ trước tình trạng này đã phải thay đổi cách ứng phó từ bình thường sang coi như ở tình trạng khủng hoảng. Cơ quan liên bang phụ trách dịch vu khẩn cấp (Federal Emergency Management Agency – FEMA) đã cấp tốc tìm cách đưa những thiếu niên này ra khỏi nơi giam giữ và cho vào ở các trại tạm trú, thường là các trại binh ở Texas, California và Oklahoma. Tại đây chúng được săn sóc y tế, chích ngừa và theo dõi tâm lý. Tuy nhiên, vấn đề không phải làm thế là giải quyết xong vì con số trẻ em “di tản” có thể lên tới 90.000 trong năm nay.
FEMA vốn được thành lập để đối phó với những trường hợp thiên tai như bão lụt, động đất, nhưng lần này phải đối phó với “cơn sóng thần di dân” vô cùng mãnh liệt mà Tổng thống Mỹ Barack Obama phải gọi nó là một cuộc “khủng hoảng nhân sinh” (humanitarian crisis). Tuy nhiên, phe chống đối cho rằng chính Tổng thống với chính sách mềm mỏng với di dân trẻ em, đã tạo ra cơn khủng hoảng chứ không phải tự nhiên mà có, vì Obama với đường lối di dân của ông, đã khuyến khích cha mẹ của thiếu niên ở Nam Mỹ buộc con họ vượt hàng ngàn cây số bất chấp hiểm nguy để tới cho được nơi có cơm no áo ấm!
Cảnh trẻ em phải nằm chen chúc trên sàn nhà tại các trại tập trung, phủ trên người những tấm mền của hội Hồng Thập Tự và nhân viên biên phòng phải thay lót cho chúng đã khiến quốc tế quan tâm và cơn bất bình về chính kiến bùng lên.
Giới hữu trách của Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc (United Nations High Commissioner for Refugees) đã yêu cầu Mỹ cho phép những trẻ thơ này quyền tị nạn, một thông lệ chỉ áp dụng cho nạn nhân bị ngược đãi vì sắc tộc, tôn giáo hay chính trị mà thôi.
Nhưng Obama muốn trục xuất chúng trở lại quê hương cũ. Trong tháng 7/2014, Tổng thống yêu cầu Quốc hội cho phép chi một khoản mới lên tới 3,7 tỉ Mỹ kim để giúp tạm thời săn sóc trẻ em xin “tị nạn” và nhanh chóng xét duyệt các trường hợp của chúng tại những tòa án dành cho di dân. Ông cũng xin với Quốc hội cho quyền thực hiện biện pháp gửi chúng trở về nơi xuất phát ngay khi chúng tới Mỹ.
Vào ngày 9 tháng Bảy, Obama nói với các ký giả: “Khi chúng ta đối đãi đúng mức với những trẻ em này thì cha mẹ chúng phải biết rằng cho con cái đi như vậy là một việc vô cùng nguy hiểm và không thể có việc các em có quyền ở lại Mỹ.”
Theo luật hiện hành thì chỉ những trẻ “di dân” từ những quốc gia sát cạnh Mỹ như Mexico và Canada thì sẽ bị gửi trở về ngay nơi biên giới. Còn trẻ em từ các quốc gia khác thì được hưởng chế độ bảo vệ theo luật chống buôn người. Luật này buộc giới hữu trách Mỹ phải trông nom chúng và cho chúng ở với thân thích, người bảo trợ hay tại các nơi săn sóc để đợi tòa án chuyên trách về di trú xét xử. Nhưng hệ thống pháp lý này bị tắc nghẽn với 375.0000 trường hợp đang đợi tòa mở hồ sơ, một con số quá cao! Theo Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, thủ tục cho một trường hợp có thể đòi hỏi thời gian hàng tháng hoặc hàng năm và chỉ có khoảng chừng một nửa số trẻ em được triệu tập có mặt tại tòa trong phiên xét xử. Được thể, bọn buôn lậu, thường được gọi là sói lang (coyotes), rỉ tai với cha mẹ rằng “hễ con họ tới được Mỹ là ăn chắc được ở lại đó.”
Rick Jones, phó giám đốc chi nhánh địa phương của tổ chức Dịch vụ Cứu trợ Công giáo (Catholic Relief Services) ở San Salvador, cho biết bọn sói buôn người thường thúc giục cha mẹ rằng: “Cho con đi thôi! Thời điểm này là ngon nhất”, và “Người ta bùi tai lắng nghe, vì mức bạo hành phố phường quá cao. Nếu ai đang tuyệt vọng vì tình hình chung quanh sẽ nghe theo lời dụ dỗ chẳng khác nghe nhạc êm tai.”
Lời nhỏ to kiểu trên, lôi cuốn các di dân bất hợp pháp ở Mỹ đang làm việc với đồng lương còm cõi, sống ngoài rìa xã hội nhưng vẫn nuôi giấc mộng tái ngộ cùng con cái. Họ cho rằng khi trẻ tới được biên giới là chính quyền Mỹ sẽ cho nhập Mỹ. Viễn ảnh đoàn tụ quá cao nên họ dốc hết tiền dành dụm gửi về cho con vượt biên! Cuối cùng họ thất vọng khi quá muộn.
Chính sách đưa những trẻ em vượt biên không có cha mẹ đi kèm được gửi vào nơi săn sóc thực ra có từ thời George W. Bush, nhưng các nhà chỉ trích cho rằng thời Obama chính sách này lại mềm dẻo hơn nên khuyến khích cha mẹ cho con em dấn thân vào cuộc phiêu lưu tìm đất hứa. Một trong những chính sách bị phê bình là DACA (Deferred Action for Childhood Arrivals) nới rộng thủ tục hội nhập cho trẻ vượt biên tới Mỹ được áp dụng vào năm 2012 dưới thời Bộ trưởng An ninh quốc nội Janet Napolitano.
Tổng thống Obama còn ủng hộ đạo luật DREAM Act có điều khoản dễ dàng hơn giúp di dân bất hợp lệ được hưởng quy chế thường trú. Mặc dù DACA và DREAM Act không áp dụng cho những người mới tới nhưng chúng tạo cho dân vượt biên cảm tưởng trẻ em tới Mỹ được hưởng chế độ đãi ngộ nhân đạo.
Chính quyền Mỹ cố gắng ngăn làn sóng trẻ em di tản và mặc dù Phó Tổng thống Joe Biden đã tới Nam Mỹ yêu cầu các lãnh tụ ở những nơi này nên tìm cách ngăn cản phụ huynh gửi con em vượt biên và truyền thông Mỹ đã chi bộn ở các quốc gia Nam Mỹ để nói rõ chính sách Mỹ không khoan nhượng đối với trẻ di tản. Nhưng toan tính của chính phủ Obama vẫn bị chỉ trích là không đủ.
Có một điều nghịch lý là trong mười năm gần đây chính phủ Mỹ đã mở ra một cuộc chiến biên giới (border war) trong vùng biên giới Mỹ-Mễ và đã tiêu tốn hàng trăm tỉ Mỹ kim để thiết lập một vòng đai dài 1000km với đủ phương tiện điện tử từ camera tới bộ phận cảm ứng để ngăn chặn kẻ vượt biên. Họ cũng tăng cường gấp đôi nhân viên biên phòng và điều hành cả loại máy bay không người lái để giám sát biên giới. Thế mà công cốc! Vì sao? Dân vượt biên, từ trẻ em tới các phụ nữ có con thơ, không lọt qua bức tường nhân tạo kiên cố, mà tìm tới ngay các đồn biên phòng và trình diện để hy vọng được ở lại Mỹ vì lý do nhân đạo.
Mới đây, Tổng thống Obama ngỏ lời với báo chí về khó khăn này: “Vấn đề không phải là có một ai đó lọt được lưới biên phòng mà ở việc chúng ta mỗi lần bắt được từng nhóm khá đông số người này.”
Tại sao đàn bà, con trẻ ở nhiều quốc gia Nam Mỹ lại bỏ xứ ra đi bất chấp hiểm nguy và tủi nhục dù trong tình trạng không chiến tranh?
Có hai lý do chính. Trước hết là những quốc gia như El Salvador, Honduras và Guatemala rất nghèo mà mật độ dân số lại quá cao nên người dân quá khổ cực, làm sao lo cho con cái nên người. Hơn nữa, ở những thành phố lớn như San Salvador nạn bạo hành mỗi lúc một bành trướng. Văn phòng chuyên trách về tệ nạn ma túy và tội hình sự (Office on Drugs and Crime) của LHQ ước lượng ở Honduras tỉ số án mạng lên tới mức 90 trong 100.000 dân và 40 ở Guatemala và El Salvador (gấp đôi tỉ lệ này ở Mexico).
Bạo hành lan tới trường học, học trò bỏ lớp hoặc di tản hoặc gia nhập các băng đảng tới mức báo động như một hiệu trưởng trường tiểu học ở Olancho, Honduras là Hector Urbina than thở, rằng trong năm 2013 ông phải giảm lớp vì học sinh bỏ đi quá nhiều, năm nay 2014 chỉ còn 143 mạng so với năm ngoái có 200 ghi danh.
Người ta cũng phàn nàn, học trò nhỏ bị cha mẹ coi như cái khiên để hy vọng vượt biên sang Mỹ trót lọt. Hiển nhiên họ cũng chấp nhận hy sinh vô bờ bến kể cả tài sản, an toàn và tính mạng.
Vì đâu nên nỗi? Hành trình “Bắc du” muôn vàn đắng cay vì đường dài khó vượt và muôn vàn quỷ quái ngăn cản. Nào là bọn buôn người, băng đảng ma túy, nào là giới hữu trách tham nhũng. Có biết bao nạn nhân bị bạo hành và hiếp dâm đến mức phụ nữ vượt biên, nhất là các thiếu nữ phải mang theo thuốc ngừa thai hay chích phòng cấn thai vì khó tránh bị hãm hiếp dọc đường.
Một nghiên cứu của viện sức khỏe công cộng của Mexico ở Tapachula, biên giới với Guatemala, vào năm 2011, cho biết gần như một phần ba phụ nữ vượt biên bó buộc dùng “sex” để trao đổi với dịch vụ được tài xế xe bus hay xe tải đưa đi tìm địa đàng.
Gretchen Kuhner, giám đốc cơ quan chuyên trách về phụ nữ di tản (Women in Migration) ở Mexico City cho rằng “nạn nhân không còn coi việc này là bị hiếp dâm nữa mà phải coi nó là thủ tục cần thực hiện”.
Bi đát như thế nhưng nhiều trẻ như Jimmy cuối cùng lại bị gửi trả về El Salvador vì bị giữ lại nửa đường khi mới tới Chiapas của Mexico. Cậu bé bị tạm giam trong trại dành cho dân di tản bị bắt giữ ở San Salvador và rồi sẽ bị gửi về phố cũ… và nếu muốn sống thì phải tuân theo luật hè phố!

Chu Nguyễn

More Stories...