Thời Báo Vietnamese Newspaper

TẾT TUỔI THƠ TÔI

BS Huỳnh Công Toàn

TẾT TUỔI THƠ TÔI (1)

Ký ức “Tết… tuổi thơ tôi” trước hết là những ngày mưa và lạnh.Mưa từ tháng mười, mười một rỉ rả cho đến tết.Gần tết số ngày nắng càng nhiều hơn và đến tết hoặc chậm lắm là mồng hai thì trời hửng nắng. Gần tết mà trời cứ mưa mãi thì mạ tôi sẽ ngẩng mặt lên trời gọi lớn: “-Ôn ơi ôn, gần tết rồi, nắng đi ôn ơi!”. Hồi nhỏ tôi luôn tin rằng nhờ thế mà ngày hôm sau trời nắng!
Khoảng đầu tháng chạp nhà tôi bắt đầu chuẩn bị tết. Đầu tiên là chuyện lo đồ mặc tết, không đặt may quần áo sớm, đến cận tết thì không ai nhận may nữa. Có lẽ đó là cái gánh nặng nhất cho ba mạ tôi vì nhà có đến sáu, bảy anh chị em. Bây giờ khi chỉ lo áo quần tết cho bốn đứa con tôi mới thấy ba mạ tôi hồi ấy thật giỏi
Khi chúng tôi xúng xính trong những bộ áo quần, giày dép mới thì tết đã đến gần. Không khí tết bắt đầu từ khi tiếng pháo đì đùng cúng đưa ông Táo về trời, và đến khi hội chợ hoa phía tả ngạn sông Hương khai trương thì không khí tết đã thấy rõ ràng. Người Huế yêu hoa, cây cảnh nên chợ hoa tết luôn đông vui và đẹp với nhiều sắc hoa, sắc áo.
Cùng với chợ hoa là hội chợ tết.Hội chợ tết làm không khí chợ hoa náo nhiệt hẳn lên. Khoảng mười gian hàng nhỏ, che bằng phên tre quay mặt vào con đường chính trong hội chợ, mỗi gian hàng là một trò chơi như cá ngựa, xóc bầu cua, ném lon, ném vòng, lô tô hoặc lâu lâu có tổ chức bài chòi. Mang lại không khí náo nhiệt nhất trong hội chợ là cửa hàng lô tô, đó là một dạng quay xổ số cho đến khi có người trúng thì dừng. Mỗi lần trái banh nhỏ ghi một con số có hai chữ số rơi ra từ lồng quay là người quản trò hát lên một câu, họ có cả một kho câu hát, thừa câu để hát từ con số một đến chín mươi chín.
Bao giờ cũng vậy, khi anh em tôi được nghỉ học là ba tôi cho tất cả đi chơi hội chợ tết. Chen lấn, ruợt đuổi, “núp-tè-chạy-bắn”, nhìn ngẩn ngơ mấy món đồ chơi hoặc ngẩng mặt nghe người quản trò lô tô rao: “Cờ ra con mấy, con mấy gì đây, con bảy gì đây…” là thú vui của bọn con nít chúng tôi. Còn việc xem hoa, cây cảnh là việc của người lớn, như ba tôi.Những ngày cận tết là những ngày náo nhiệt nhất, còn khi tết đến rồi thì tết vui nhưng lại mang một sắc thái khác.
Chiều ba mươi tết không khí trầm lắng hẳn đi, ngoài đường vắng hơn, mọi người đều ở nhà cúng rước ông bà về ăn tết. Trong nhà mọi người nói năng nhỏ nhẹ hơn, tôi thường cảm thấy rõ không khí thiêng liêng của ngày cuối năm. Cứ khoảng ba giờ chiều, khi mạ tôi đã nấu nướng xong, bày thức ăn ra tô, đĩa và anh em tôi sắp đặt lên bàn thờ ông bà xong là ba tôi mặc chiếc áo the màu đen, thắp nhang khấn vái. Ba tôi khấn lâu và nhỏ nên… cho đến giờ tôi vẫn không biết ba tôi nói gì với ông bà. Tôi hỏi thì ba tôi cười và bảo “Ba mời ông bà về ăn tết”. Qua làn khói nhang tôi thường hình dung những bóng người lúc ẩn lúc hiện …lúc nhỏ tôi cứ nghĩ là có ông bà về ăn tết thật.
Bữa ăn chiều ba mươi tết chỉ có người trong nhà: ba mạ tôi và anh em chúng tôi. Ăn uống xong, từ khoảng tám giờ tốí chúng tôi lại bận rộn với một công việc thú vị khác: Không biết mua từ lúc nào, cứ đến giờ này mạ tôi lấy ra một xấp tranh giấy. Có 4 loại tranh in mộc bản hai màu lên những tờ giấy dó khoảng 20 x 40cm: hình bé trai cầm bút, bé gái cầm hoa, phụ nữ cầm quạt còn đàn ông thì – sướng hơn – không phải cầm gì cả. Ba tôi bảo đó là những hình người sẽ cúng lên trời thế mạng để chúng tôi được sống nơi Dương thế. Chọn tranh phù hợp với lứa tuổi, trên đó chúng tôi viết câu: “Thế mạng sanh nhơn” và ghi tên từng người vào. Ba tôi có học chữ Hán lúc nhỏ nên ông viết trước bằng chữ Hán, chúng tôi bắt chước “vẽ” lại trên những bức tranh khác. Sau này, khi già hơn, ba tôi thường quên nhiều chữ, ngồi chờ ông viết để chép lại rất lâu, tôi này sinh “sáng kiến” viết chữ Việt theo kiểu chữ Hán. Nhờ vậy mà việc viết “Thế mạng sanh nhơn…” dễ hơn nhiều.
Trước giao thừa nhà tôi có một mâm cúng, đó là cúng vong (là các anh, chị hoặc em tôi, sa, sẩy hoặc hữu sinh vô dưỡng). Mạ tôi nói: lo cho con ở Dương cũng phải lo cho con ở Âm, vì thế năm nào cũng mua quần áo giày dép mũ nón hàng mã trước, cúng và đốt vào lúc này.
Lễ Hành Khiển phải cúng vào đúng vào giờ khắc chuyển sang năm mới, đó cũng là dịp đưa các tấm tranh “Thế mạng sanh nhơn” về Trời. Lúc này nhiệm vụ của tôi là treo pháo, phong pháo một trăm viên xếp thành hai hàng đều đặng chen lẫn với bốn viên pháo tống, đẹp và thơm mùi thuốc súng. Việc phân công người châm lửa bao giờ cũng làm nổ ra những cuộc cãi vã om xòm, và chỉ ngừng lại khi ba tôi chỉ định.
Lúc mạ tôi đã chuẩn bị xong mâm lễ và ba tôi thắp nhang xong thì bắt đầu đốt pháo. Cầm que nhang, vừa thích vừa run, châm lửa, khi thấy xịt lửa vàng khè là tôi vất que nhang “ba chân bốn cẳng” chạy ra xa. Đùng Đùng … Đùng Đùng Đoành….phong pháo nỗ dòn, ít pháo xịt chứng tỏ năm đó mọi việc đều suôn sẻ.Năm mới bắt đầu khi viên pháo cuối cùng nổ. Anh em chúng tôi đứng quanh chúc tết ba mạ, nghe ba mạ chúc tết từng đứa và – quan trọng nhất – là nhận tiền lì xì .Lúc này phải thật ngoan, không được cãi nhau, không được xị mặt, và nhất là không được khóc vì nếu không là sẽ “xui” cả năm.
Khi tất cả các phong bao li xì đã nằm yên trong túi áo, ăn thêm một chút, chúng tôi đi ngủ để chuẩn bị đi về làng vào sáng hôm sau – Mồng một tết.
……………
TẾT TUỔI THƠ TÔI (2)

…………………….


Làng nội của tôi nổi danh với câu ca dao: “Con gái Nam Phổ, ở lỗ trèo cau” ***. Cau làng tôi thì nhiều, gần như nhà nào cũng có, nhưng con gái “ở lỗ” để trèo thì… tôi chưa từng thấy. Tôi chỉ thấy đàn ông – có mặc quần – trèo cau thôi!
Ba mạ tôi bảo ngày đầu năm nhà không thể đóng cửa cho nên sáng mồng một chỉ có ba và anh em tôi về nội, mạ tôi phải ở nhà đón khách đến chúc tết. Ở nhà với mạ là một đứa con gái, chọn trong những đứa con xung phong vì “thương mạ nhất”.Bù lại mạ tôi và đứa em gái sẽ về nội vào chiều mông ba tết để dự cúng đưa.
Đông người, xe cộ khó khăn nên tốt nhất là… đi bộ. Xuất hành từ sáng sớm, anh em tôi vừa đi vừa đùa nên quãng đường năm cây số cũng không xa lắm. Trái với những ngày giáp tết, lúc này đường vắng vẻ, có lẽ mọi người còn ngủ để bù cho một đêm giao thừa thức trắng.
Từ đường lớn rẽ vào làng, đầu tiên là chợ Mai, nhưng đến tết thì lại gọi là chợ Gia Lạc. Ba tôi kể: chợ Mai họp suốt năm, nghỉ ba ngày tết. Trong ba ngày tết, cũng trên mảnh đất của chợ Mai người ta họp chợ gọi là chợ Gia Lạc. Chợ tết Gia Lạc chỉ họp từ mồng một đến mồng ba, đây là sáng kiến của ông hoàng Nguyễn Phúc Bình, con vua Gia Long để các “Mệ” và dân trong vùng đến chơi xuân.
Chợ Gia Lạc nhỏ nhưng hàng hóa mua bán trao đổi trong chợ khá phong phú. Từ những thứ gia dụng như chén, đĩa, cơi trầu, quả hộp… cho đến pháo, tranh tết, mứt, bánh kẹo… Thức ăn thì gồm đủ các thứ thịt: thịt heo quay, thịt bò thui, rau quả và tôm cá.
Nhưng thường chúng tôi chỉ quan tâm đến đồ chơi. Đồ chơi trong chợ Gia Lạc ngày ấy đối với bọn trẻ con chúng tôi thật tuyệt vời. Đó là con chim, con cá, nải chuối, buồng cau, hoặc quả cam, quả khế nho nhỏ, có khi còn có ông trạng cưỡi ngựa bạch, bà Trưng Trắc cưỡi voi… nặn bằng bột sắn nhuộm đủ màu sặc sỡ. Loại đồ chơi lớn hơn nặn bằng đất sét như con heo bỏ ống, con gà trống sơn đỏ vàng sặc sỡ, gọi là con “tò he”, thổi vào đuôi phát ra tiếng kêu ..te …kéo dài và vang xa. Những đồ chơi dân gian bán ở chợ Gia Lạc ngày ấy đã để lại trong tôi những ký ức ngọt ngào.
Thường chúng tôi mất hàng giờ để vui chơi và mua đồ chơi trong ngôi chợ nhỏ này. Món đồ chơi đi vào ký ức tuổi thơ tôi là cái “lùng tung” (đến giờ tôi cũng không biết gọi thế nào cho đúng). Đó là một mảnh tre dài, bề ngang khoảng 3cm, uốn thành vòng tròn, phất giấy 2 mặt tạo thành một cái trống nhỏ đường kính bằng lon sữa bò, gắn vào cái que tre. Hai sợi chỉ, một đầu mỗi sợi có gắn hạt đất sét lớn bằng hạt gạo khô queo, đầu kia đính vào tang trống. Dùng tay lăn nhanh que tre lui tới hạt đất sét sẽ đánh vào mặt trống nghe lùng tùng lùng tùng rất vui tai.
Thỉnh thoảng ở chợ Gia Lạc chúng tôi gặp các hội bài chòi.
Bài chòi ở quê tôi thường chỉ tổ chức vào dịp đầu năm, từ mồng ba tết đến mồng sáu tết. Trên một khoảng đất rộng, người ta dựng lên chín cái chòi gồm một chòi ở giữa gọi là chòi mẹ, trước mặt chòi mẹ là một khoảng đất trống, dọc hai bên người ta dựng hai dãy chòi con, mỗi bên bốn chòi, nhìn mặt vào nhau. Chòi cao khoảng hai mét, rộng đủ hai người ngồi, làm bằng tre, mái và vách là những tấm lá tranh đan. Trong mỗi chòi có một hoặc hai người ngồi, trước mỗi chòi con có buộc cái mỏ làm bằng ống tre kín hai đầu, khoét thủng ở giữa một đường dọc.
Một người đàn ông, mặc áo the màu đen, tay cần cái ống tre xóc nhiều lần để một thẻ tre có khắc hình con bài trồi lên, ông ta rút ra đọc rồi đọc to lên một câu văn vần hoặc một câu ca dao để mọi người suy đoán tên con bài, sau đó xướng lên tên con bài. Sau mỗi lần xướng lên như thế chòi nào có con bài trùng tên con bài mới xướng thì gõ mõ cốc, cốc, cốc, cốc để người đàn ông mang con bài đến. Lâu lâu lại nghe một hồi mõ dài, đó là chòi trúng đủ ba con bài, tức là chòi đó tới.Người đàn ông cầm chiếc cờ bằng giấy hình tam giác đến cắm lên chòi đánh dấu cho một lần thắng.
Chơi ở chợ Gia Lạc chán chúng tôi tiếp tục đi vào làng. Qua chiếc cầu nhỏ chúng tôi rẽ trái rồi đi dọc theo một con hói thêm khoảng một cây số nữa là đến. Ông nội ở chung với gia đình bác tôi. Đoạn đường này ngắn nhưng hồi còn nhỏ tôi lại sợ nhất vì đường đi ngang đền thờ “Ông Hổ”. Tôi chưa từng vào đền nhưng đi ngang qua bức bình phong có đắp nổi mặt Ông Hổ tôi thấy sợ sợ là… Khi đi ngang qua đây lần nào tôi cũng kính cẩn dỡ mũ cầm hai tay úp trước ngực, cúi đầu và cố tỏ ra ngoan ngoãn. Nhưng khi qua khỏi đền là tôi chạy ào lên và khi rẽ vào xóm nhà nội thì tôi vừa tung mũ lên trời vừa hét vang để ông tôi và bác tôi biết chúng tôi đã về.
Ông nội tôi có 2 người con là bác tôi và ba tôi. Bác tôi rất thích đốt pháo, tết nào bác cũng mua nhiều pháo để đốt. Bởi vậy, khi cha con tôi về đến nhà nội, chào hỏi xong xuôi, bác gọi tôi ra sân và giao một phong pháo dài để treo lên và… đốt, đó là những tiếng pháo đầu tiên ở nhà nội vào sáng mồng một tết. Mỗi lần như thế bác bảo “đốt pháo để các cháu vui!” làm tôi cảm động đến rơi nước mắt.
Ở nhà nội rất vui, chúc tết ông, hai bác, được tiền lì xì, chạy chơi với các anh chị con bác, đi thăm mộ bà Nội, hoặc theo ba tôi đi thăm bà con trong làng. Chúng tôi ở lại ăn trưa, thường là bánh chưng, bánh tét, thịt gà, thịt kho tàu, cá chiên hoặc món ăn “Tây” là thịt bò xà lách …. Có năm tôi bắt chước người lớn ăn chay, đến ngày mồng hai, nhớ lại món ăn ở nhà nội hôm mồng một mà “tiếc đứt ruột”.
Chiều về, mạ tôi “báo cáo” lại cho ba tôi khách đến thăm và chúc tết.Đứa em ở nhà thì khoe số tiền được lì xì. Vì chỉ có một mình nên nó được lì xì nhiều nhất, một lần nữa tôi lại thấy tiếc đứt ruột pha lẫn một chút ganh tỵ. Hồi ấy tôi hay ao ước cứ đến Tết là mình biến thành “Tề Thiên Đại Thánh”, một nửa ở nhà lấy tiền lì xì, một nửa đi chơi về nhà nội.
(Còn tiếp)
…..
HCT
*** thật ra là: “Con gái Nam Phổ ở lỗ trông (nom) cau”.

TẾT TUỔI THƠ TÔI (3)
………………..


Ngày mồng hai cả nhà đi về ngoại.Dẫn đầu đoàn người khá đông đúc là mạ tôi. Trong chiếc áo dài hoa màu đậm, hoa tai vàng có nạm viên ngọc bích, dây chuyền vàng cũng có viên ngọc bích khá lớn, một chút son, trông mạ tôi khác hẳn ngày thường. Tôi thường “ngắm” mạ khi bà chuẩn bị xong và thấy bà lạ lẫm, không giống người phụ nữ suốt năm lam lũ nuôi con. Những lúc như thế tôi cảm nhận được rằng mạ mình thật đẹp, hiền và sang trọng.
Lẽ ra ba tôi phải ở nhà tiếp khách – như mạ tôi ngày mồng một – nhưng có lẽ không chịu nỗi sự “cô đơn” nên ba tôi cũng âm thầm đi thay quần áo mới: bộ vét màu đen, chiếc cà vạt xám. Ba tôi xuất hiện khi mọi người sửa soạn ra khỏi nhà, mạ tôi “hứ” một tiếng, ba tôi cười, mạ tôi cũng cười đồng ý cho ba đi theo. Được sự “chuẩn y” của vợ nhưng ba tôi vẫn như người biết lỗi, không sai bảo ai, tự mình khóa cửa nhà rồi cùng đi. Hai ông bà sóng đôi đi sau đàn con trông thật hạnh phúc. Theo tôi nhớ thì chỉ có dịp tết ba mạ tôi mới đi cùng nhau, còn ngày thường thì ai lo việc người đó không như vợ chồng tôi bây giờ thường đi nhậu, đi hát karaoke, đi uống café với nhau.
Suốt ngày mồng một ông bà ngoại thường đi chùa, đi am “Cô Tôn” nên chỉ có ngày mồng hai mới về thăm ông bà được. Cả nhà tôi đi bộ, thẳng một đường, băng qua con đường nhựa lớn, ngày thường xe nhà binh chạy ầm ầm nhưng tết thì khá vắng vẻ, đi thêm một đoạn đường nữa là đến đầu ngõ đi vào nhà ngoại. Khởi đầu con ngõ này là một cái hồ rau muống nhỏ, chúng tôi đi men theo bờ hồ, tiếp đó là nhà đứa bạn học của tôi, nhỏ Phương, ở nhà thường gọi là “Tám”. Năm nào cũng vậy, nhỏ Phương đứng ở sân nhà, cười với tôi bằng nụ cười rạng rỡ, hàm răng trắng và hình như là …sún. Đi thẳng vào ngõ này, nhà ngoại tôi nằm cuối cùng, trước nhà là một bức bình phong xây gạch, ẩn sau khóm cây lớn, lẫn với những bông hoa trang, hoa địa lan chin chít. Tôi thường ra đây ngắt những cánh hoa trang, đưa cọng hoa lên miệng hút, vị ngọt nhẹ nhàng đi vào ký ức tôi suốt đời không quên được. Mỗi dịp tết cậu tôi thường mắc đèn vào khóm cây trước bức bình phong, những ánh đèn chớp nháy trong tôi như những biểu tượng về căn nhà của Ngoại.
Hồi đó tôi thấy nhà ngoại thật lớn, nằm giữa một vườn cây rộng. Hai căn xếp hình thước thợ, nối nhau bằng một hành lang nhỏ, hai bên hành lang này là đường sân trước vào và đường đi ra sân sau, ở đó có mấy cái lu chứa nước mưa thật lớn. Khoảng sân trước, sau bình phong là một am thờ nhỏ, là giả sơn trên cái bể cá, cây cối um tùm. Tôi còn nhớ cái giếng bên trái ngôi nhà, giếng lúc nào cũng đầy nước, có khi nước cao hơn cả mặt đất.Hai chú voi bằng sứ làm đôn cho hai chậu hoa lớn đứng hai bên cửa chính. Tối tối, bà Ngoại tôi – trong chiếc áo lam – quỳ ở đó hướng ra am và tụng kinh nho nhỏ mãi cho đến tận khuya.
Ngày mồng hai ở nhà ngoại chỉ có ông bà.Dì và cậu tôi thường đi chơi, đi chúc tết nên ít khi gặp. Sau này khi chú dì tôi và các em ở căn nhà dưới tôi cũng ít gặp vào dịp tết, có lẽ gia đình dì đi về nhà ông bà nội của các em. Ở nhà ngoại, chúc tết ông bà, sau khi nhận tiền lì xì, anh em chúng tôi lang thang khắp vườn, mon men ra tận cái am thờ nằm ở cuối vườn, tò mò nhìn qua bức mành tre và cảm thấy không khí thật thiêng liêng và huyền hoặc.
Sau khi ba mạ tôi nói chuyện, chúc tết ông bà ngoại xong, cả nhà tôi đi sang nhà ông bác (anh của ông ngoại tôi). Ngôi nhà cổ, lớn, những đồ dùng toàn bằng gỗ, cổ kính và sang trọng. Ngăn bàn thờ đầy khói hương, nằm sau bộ trường kỷ, huyền bí với đầu óc non nớt của tôi.Thêm vào đó là con beo nhồi bông lớn đứng ở bên trái ngôi nhà chính. Tết nào về đây sau khi chúc tết xong, tôi cũng ra đứng trước mặt nó ngắm nghía, nhìn thẳng vào mắt nó, hai hòn bi ve lớn, có khi lại mon men đến vuốt ve cái cổ mịn hay sờ vào chiếc lưỡi đỏ lòm thè ra ngoài và hỏi nó “Beo ơi! Sao mày không đi chơi tết mà đứng đây hoài vậy?”.
Hồi đó tôi thích nhất là đốt pháo, mấy đứa bạo gan thì cầm pháo trên tay, đốt rồi ném. Tôi non gan hơn không dám cầm pháo ném nên tôi làm một cây súng bắn pháo, dùng que nhang châm lửa, tim pháo đứt, viên pháo xịt lửa và bay ra xa …xịt..xịt ..Đùng!, nghe thật sướng. Có lần viên pháo lọt vào lai quần ba tôi (hồi đó đàn ông hay mặc quần lai lật), xịt…Đùng…tiêu mất cái quần!, tôi tái mặt, nhưng may là tết, sợ xui nên ba tôi chỉ cười.
Cứ thế, đi chơi với mấy đứa bạn trong xóm, đi xem xi-nê, ngày vui qua dần và… hết tết. Đến sáng mồng bốn tết, tất cả anh em chúng tôi phải ngồi vào bàn học, lấy giấy bút ra và làm cái việc mà ba tôi gọi là “Khai bút”. Câu đầu tiên phải viết là “Đầu năm khai bút, bút khai ba” và viết tiếp theo là những lời tự hứa công việc phải làm được trong năm mới về chuyện học hành. Viết xong dán lên tường, chỗ mình thường ngồi học.Tôi ngồi viết khai bút, lòng buồn rười rượi, vừa buồn vừa tiếc, vì phải chờ đến một năm nữa mới lại được đón tết. Tôi cứ mong tết mãi mà không biết rằng cứ mỗi lần tết đến xuân về là mình lại thêm một tuổi và tuổi thơ cứ thế dần trôi đi mất.
“Thuở ấy xa rồi, xa quá xa!”
Vâng! Đã xa lắm rồi những ngày tết tuổi thơ tôi, ông, bà, bác, ba, mạ tôi đều đã đi xa…xa mãi mãi. Bây giờ mỗi lần tết đến xuân về tôi lại rưng rưng thắp lên bàn thờ những nén nhang tưởng nhớ.
Và những hình ảnh “Tết tuổi thơ tôi” ngày ấy cứ mãi quay về…/.
*** thật ra là: “Con gái Nam Phổ ở lỗ trông (nom) cau”.
HCT

Comments are closed.

error: Content is protected !!