Thời Báo Vietnamese Newspaper

Tết tôi tuổi dại khờ

Phan Hạnh

Ai mang sau lưng một túi hành trang cuộc đời dài thì đều có nhiều kỷ niệm về ngày Tết để kể. Tôi cũng vậy, có điều là do trí nhớ kém, tôi đã quên nhiều chẳng nhớ bao nhiêu. Tôi quên vì hầu hết kỷ niệm của tôi không đẹp. Nhớ dai chi để bồi hồi, thà quên tuốt luốt cho rồi khỏe hơn.

Kỷ niệm xưa nhất mà tôi còn nhớ xảy ra chắc cũng đã gần bảy chục năm trước. Mỗi năm Tết đến, dù tôi không cố tình moi túi hành trang ký ức nhưng kỷ niệm vẫn cứ thấp thoáng hiện ra trong tâm trí.
Tết năm đó, nếu tính theo tuổi ta, tôi lên bảy. Đáng lẽ thằng bé bảy tuổi được hưởng một cái Tết bình thường, nhưng…

Ngày bãi trường nghỉTết, tan học, tôi ôm cặp đệm ra về. Trường làng cách nhà Ngoại khoảng một cây số. Theo lệ thường, tôi cuốc bộ chung với thằng bạn học cùng lớp tên Ngọ ở cùng xóm. Ông nội nó đặt cho nó tên Ngọ vì nó sinh năm Giáp Ngọ. Tôi sinh năm Quý Mùi, nhỏ hơn thằng Ngọ một tuổi. Cũng may là ông ngoại tôi không đặt tôi tên Mùi.Ngọ là tên trong giấy khai sinh, tên ở nhà của nó là Lì, lý do tại sao khỏi nói ai cũng biết.
Đang cùng nhau rảo bước, Ngọ lì xúi tôi:
– Ê Hạnh! Mầy dám đu bửng xe ngựa không? Thay vì lội bộ về nhà, mình đu bửng xe ngựa cho khỏe. Tao có thử rồi.
– Thử hồi nào sao tao không thấy?
– Bữa đó tao ở lại chơi đánh đáo nên về sau mầy.
Tôi là đứa nhút nhát thỏ đế nên vừa nghe nó đề nghị là đã sợ:
– Thôi mầy ơi. Tao không dám đâu.
– Có gì mà không dám. Đâu phải mầy đu một mình đâu mà sợ. Mầy đu với tao.
– Rủi ông đánh xe biết ổng la chết. Có khi ổng quất roi nữa.
– Mầy dở quá! Mầy ngồi thụp xuống thì ổng đâu có thấy. Mà nếu ổng thấy, ổng quất roi cũng không tới. Mầy tin tao đi.

Hồi đó tôi đâu có biết người lái xe ngựa được gọi là xà ích; tôi nghe ai cũng kêu là người đánh xe, chắc tại vì ổng hay quất roi hai bên hông xe.Thấy tôi im lặng không nói gì, Ngọ lì thuyết phục:
– Chừng nào có xe ngựa ngừng ở đây cho hành khách lên xuống; mình chờ xe vừa chuẩn bị chạy, mình thót lên tấm bửng phiá sau xe rồi ngồi thụp xuống. Chờ xe ngừng gần lối vô xóm nhà mình thì mình xuống rồi chạy. Ổng đâu có rượt theo đâu mà sợ. Mầy cứ bắt chước làm theo tao. Mầy thấy tao làm sao thì làm vậy. Kìa! Xe ngựa tới kìa!
Thế là tôi, biệt danh Hai Ròm do bạn trong xóm đặt, lý do tại sao khỏi nói ai cũng biết, làm gan bắt chước Ngọ lì đu bửng xe ngựa, làm một chuyến mạo hiểm để rồi hối hận.
Xe ngựa chạy, hai thằng đu ở cái bửng phía sau xe, đầu mọp xuống. Chẳng may xe chạy đã đến “lối vào xóm nhỏ”, không có hành khách nào xuống cả, xe không ngừng, cứ “ngựa phi đường xa”. Tính sao đây? Không dám réo cho ông đánh xe kìm cương ngựa ngừng lại, hai thằng bàn tính nhảy đại xuống đường. Ngọ lì bản lĩnh cao cường như hiệp sĩ ninja nên đáp xuống mặt đường nhựa an toàn; tôi tay mơ lọng cọng nhảy té đập đầu xuống lộ; giữa ban ngày tôi bỗng thấy ngàn sao lấp lánh.

Tôi ôm đầu lầm lũi lết về nhà, vô giường nằm vật, bỏ qua cái màn thông lệ “thưa ông Ngoại, thưa bà Ngoại, thưa Má, thưa dì Bảy, con đi học mới về”.
– Con làm sao vậy?, bà Ngoại hỏi.
– Dạ, con nhức đầu.
– Nhức nhiều hôn con?, ngoại rờ trán tôi. Tôi vội nằm ngửa ngước mặt lên để giấu cái ót sưng:
– Dạ cũng vừa vừa.
– Con có cảm thấy có gì khác lạ trong mình không?
– Dạ con mệt muốn nằm nghỉ.
– Nằm nghỉ cho khỏe đi con rồi chiều dậy ăn cơm con.
– Dạ.
Tôi nằm đó chỉ muốn rơi ngay vào giấc ngủ, muốn thiếp đi để khỏi bị cơn nhức đầu hành hạ nhưng có được đâu, mắt thì nhắm nghiền mà đầu cứ nghĩ ngợi lung tung. Tôi hối hận về hành động ngu dại đu bửng xe ngựa để ra nông nổi.
Tôi nghe tiếng chân người đến gần rồi ngồi nép nhẹ mé giường. Tôi đoán đó là mẹ tôi. Bà rờ trán tôi và nắm tay tôi.
– Con ngủ hay thức vậy Hoàng?
Tôi nằm im rưng rưng nước mắt. Chắc mẹ biết tôi thức nên hỏi:
– Con có làm sao không nói cho má biết đi con.
Nước mắt tôi chảy ra; một bàn tay của mẹ chạm lên mặt tôi. Tôi dằn vặt, nửa muốn giấu, nửa muốn kể sự thật với mẹ:
– Con… con… nhức đầu.
Tôi không hoặc chưa có đủ can đảm để nói thật. Tôi sợ mẹ lo buồn.
– Con ăn cơm được không hay để má nấu cháo con ăn?
– Dạ, con ăn cơm được.
– Vậy thì xuống nhà ăn cơm con. Con đi được không hay để má đỡ cho.
Tôi cố gượng đi xuống nhà rồi ngồi dựa cửa. Mẹ tôi mang lại cho tôi một chén cơm có chan sẵn canh bầu và hai con tép rang nguyên đầu nguyên đuôi.
– Con ăn hết thì nói má bới chén nữa cho. Ráng ăn hết đi con.
– Dạ.
Lạ quá, tuy bụng đói nhưng tôi ăn cơm không cảm thấy ngon. Tôi nhai nuốt từng ngụm cơm một cách khó khăn; tôi ráng ăn cho hết chén cơm, xong tôi cố gắng đứng lên đem chén đũa đặt lên cái bàn ăn tròn.
– Ăn nữa không con?, mẹ hỏi.
– Dạ thưa Má con không ăn nữa. Con muốn đi vô giường nằm nghỉ.
– Vậy con đi nằm nghỉ đi con.
– Dạ.

Tôi chóng mặt và đầu nhức bưng bưng. Không kịp lấy vỏ cua chà răng súc miệng, tôi nằm vật trên tấm vạt giường trải chiếu và lấy gối che mặt vì nắng chiều rọi qua kẽ vách ván bổ kho rất chói mắt khó chịu. Tôi nằm luôn suốt hai bữa không ăn uống gì, kể cả thuốc bắc, cứ uống vào là ói ra, ói cho tới mật xanh mật vàng. Có lúc tôi nực đổ mồ hôi, lúc khác thì nằm co người lại vì lạnh run; mẹ tôi phải lấy mền đắp cho tôi. Tôi ngủ mê man.
Mẹ tôi và mọi người trong nhà đều bận rộn chuẩn bị đón Tết. Mẹ là người đóng vai chính lo việc nấu nướng trong nhà, lại còn phải lo cho đứa con mới hai tuổi, là đứa em trai bụ bẫm của tôi, nên càng bận rộn thêm.
Có lúc tôi chợt tỉnh dậy, miệng khô đắng. Tôi thèm một cục đường phèn để ngậm trong miệng cho vị ngọt thấm qua lưỡi. Mẹ tôi chỉ cho tôi ngậm gừng và cam thảo để dằn ói.

Sáng sớm ngày Mồng Một, tôi vừa cựa mình thức dậy thì nghe tiếng mẹ tôi:
– Con đỡ nhức đầu chưa con? Mẹ hỏi và rờ trán tôi.
– Dạ con hơi đỡ một chút.
– Má đã nấu sẵn nồi lá ổi, con xông một cái cho khỏe; nhớ lấy khăn lông với nước nóng lau mình mẩy cho con. Tết rồi con cũng phải thay quần áo mới.
Tôi định nói với mẹ tôi là tôi có thể tự lo được nhưng quả thật là tôi còn yếu đi đứng chưa vững. Giúp tôi xông, lau mặt mũi mình mẩy và chải tóc cho tôi xong, mẹ tôi đưa cho tôi bộ quần áo mới và nói:
– Hôm nay có Ba con và Cậu Sáu con về. Con ráng tỉnh mỉnh cho Ba con thấy vui nha con.
Nghe Mẹ nói hôm nay Ba về, tôi bỗng cảm thấy như có thêm sức khỏe hơn. Ba tôi làm việc ở Sài Gòn, cả năm chỉ về quê thăm vợ con đôi lần. Ba hứa dành dụm đủ tiền rồi sẽ đón gia đình lên Sài Gòn sinh sống. Tôi mong sớm có ngày ấy.
Cậu Sáu tôi mở tiệm hình trên thành phố Mỹ Tho, cách nhà ngoại tôi chỉ hơn mười cây số, nhưng vì công việc làm ăn nên thỉnh thoảng mới về quê. Cậu chưa lập gia đình nên rất thương các cháu.
Tôi đỡ mệt và thấy đói. Bà ngoại tôi nói tôi mới hết bịnh không nên ăn cơm liền. Bà khuấy cho tôi một tô cháo bột mì tinh pha đường phèn là món tôi thích. Tôi ăn thấy ngon miệng. Bà còn cho tôi một viên xí muội cà na cam thảo để tráng miệng. Vẫn còn mệt, tôi nằm lại trên giường ở phòng trong. Chỉ cách một tấm màn che thay cho cánh cửa ở lối ra vào, tôi nghe bên ngoài đang nhộn nhịp cộng với mùi nhang thơm từ bàn thờ ở phòng ngoài. Tôi đoán là ông ngoại tôi đang cúng. Có một lần đám giỗ ông cố ông sơ tôi gì đó, ông ngoại tôi đang cúi xá trước bàn thờ. Vừa đi chơi về, từ ngoài nắng bước vô nhà, mắt ba chớp ba nháng, tôi thấy cái đầu búi tóc tròn trịa bên trên tấm lưng đầy đặn của ông mà tôi tưởng đó là bà ngoại tôi. Đó là dạo năm 1950, nhiều ông hơi già tồn cổ chưa chịu hớt tóc.
Trên bàn thờ có chưng nhiều hình mà tôi không biết là của những ai vì ít khi nào tôi dám nhìn lâu. Tôi chỉ đoán đó là hình ông bà cố hai họ nội ngoại, hình cậu Hai, hình dì Năm, hình cậu Tám là những người con của ông bà ngoại chẳng may mất sớm. Cậu Tám thì tôi có biết vì Cậu hay đi bắn chim bằng giàn ná thun và có dắt tôi theo làm đệ tử với nhiệm vụ là xách xâu mấy con chim tội nghiệp. Cậu chết mới năm trước, lúc chỉ mới mười sáu tuổi vì bịnh tim. Dì Năm tôi mất trước đó vì sanh khó tại nhà; cả hai mẹ con đều chết. Mẹ tôi thứ tư.
Nếu tôi không bị bịnh, chắc tôi cũng xớ rớ phụ Cậu Ba và anh Trung chùi mấy bộ lư. Tôi nhớ dường như là ở trong nhà có cả thảy là ba cái bàn thờ và ba bộ lư lận. Anh Trung, con trưởng của cậu Ba, là cháu nội đích tôn của ông ngoại tôi. Anh là người cháu nội rất ngoan, siêng năng và hiếu thảo. Xem như anh là người lớn tuổi nhất trong nhà ngoại tôi còn sống hiện nay.

Nằm một lúc, tôi cảm thấy đã bớt mệt, bớt nhức đầu chóng mặt và không còn dật dờ buồn ngủ ngáp tới ngáp lui nữa. Và tôi hơi đói. Mẹ tôi bước vào thăm tôi. Nhằm ngày Tết nên bà mặc áo dài cài nút bóp, nhưng một nút bị bung ra chỗ bụng. Tôi cười. Mẹ tôi nói:
– Mấy bữa rồi mới thấy con cười, Má mừng quá.
Tôi nói:
– Con cười Má gài nút áo dài hở bụng.
– Vậy hả?
Mẹ tôi thử gài nút lại nhưng nó vẫn cứ bung ra. Bà nói:
– Tại cái nút áo lờn rồi đó con. Thôi kệ, hai cái áo dài cũ kia Má bận chật hết vừa rồi. Tại Má có tật hay thấy đồ ăn dư lặt vặt mỗi thứ một chút dẹp mất công quá nên Má ăn cố hết cho gọn nên mập đó.
Mẹ tôi về nhà chồng năm mười tám tuổi, năm sau phải về lại nhà cha mẹ ruột để sinh ra tôi trong cái chòi dùng làm nhà bảo sanh gia đình bên mé mương. Nhà ông bà nội bên kia sông Chợ Gạo bị nạn giặc giã giữa quân đội Liên Hiệp Pháp với Việt Minh đánh nhau nên cháy rụi, cướp đi cả bảy mạng người, nhà tan cửa nát. Tôi lớn lên ở quê ngoại là tại vậy.
– Má ơi con đói bụng.
– Con muốn ăn gì Má lấy cho?
– Con thèm ăn cháo với nước mắm kho quẹt.
– Trời đất ơi! Mùng Một Tết ai mà đi ăn nước mắm kho quẹt hả con! Đồ cúng Tết nhiều món ngon lắm.
– Nhưng con thèm. Bà Ngoại nói mới hết bịnh nên ăn cháo cho lành.
– Tưởng gì chớ món con thèm Má chỉ cần nấu một chút là xong. Xuống dưới nhà chơi đi con. Có dì Bảy con với em Kiệt con ở dưới.
Dì Bảy chưa chịu lấy chồng. Dì thấy tấm gương dì Năm chết vì sanh khó nên dì sợ. Mối sợ đó còn truyền đến mấy người chị họ của tôi, con của cậu mợ Ba tôi. Các chị đều không chịu lập gia đình, chịu sống đơn chiếc với nhau nơi quê cũ cho tới ngày nay.
Dì Bảy là người lì xì cho tôi trước tiên. Dì sợ lấy chồng mà lì xì đứa cháu trai nào dì cũng khuyên “đừng thua bầu cua, để dành tiền lớn lên cưới vợ”.
Tôi ăn tô cháo với nước mắm kho quẹt ngon quá chừng. Ngon nhất là lớp nước mắm hơi khét đóng trong vành cái tô sành.

Cả nhà sắp sửa cúng trưa thì Ba tôi và cậu Sáu tôi về tới. Bề nào từ Sài Gòn về, Ba tôi cũng phải xuống xe ở Mỹ Tho trước, xong mới đón xe đò nhỏ về Chợ Gạo. Không ngờ lúc Ba tôi đang đi lơn tơn gần bến xe, cậu Sáu tôi thấy nên chở về luôn. Cậu chạy xe gắn máy, tôi quên không nhớ hiệu gì. Cậu cho tôi ngồi lên xe, tôi giả bộ rồ ga khoái lắm.
Ba tôi rời quê lên Sài Gòn kiếm việc làm đã mấy năm; tôi nghe nói ông đang làm thư ký kế toán ở Nhà Đèn Chợ Quán mà chẳng có ý niệm gì về công việc đó ra sao. Ông xoa đầu tôi; tôi rùng vai rút cổ vì vết trầy sưng sau ót tôi còn đau. Ông cho tôi một cây viết máy hiệu Parker kèm với bình mực và một cái bóp da bỏ túi. Tôi sung sướng với hai món quà này lắm. Cây viết có hộp đàng hoàng, có ngòi viết như vàng và đầu ngòi màu bạc. Ba tôi đã nạp mực sẵn, biểu tôi thử viết xem có thoải mái không. Tôi viết đi viết lại cả chục lần ba chữ “Con cám ơn Ba”. Cái bóp da thì vì túi quần áo tôi nhỏ quá đựng không vừa. Vậy là có bao nhiêu tiền lì xì tôi đều đựng hết vô bóp mới, đi đâu cũng thủ kỹ, tối ngủ thì dằn nó ở dưới gối.

Màn chúc Tết diễn ra rậm đám lắm tại vì cậu Sáu tôi muốn sẵn dịp chụp hình gia đình luôn. Cậu dàn cảnh sắp xếp ông bà ngoại tôi ngồi ghế ngay ngắn ở giữa; cậu sửa từng chi tiết vị trí đặt tay, vạt áo; cậu chọc cho mọi người cười tươi vì cậu đã kinh nghiệm rồi. Ông bà ngày xưa chụp hình chân dung ngồi thẳng người ngay ngắn, hai tay đặt trên đùi, ngồi im như khúc gỗ; hình chụp mà không thấy đủ tất cả hai tai, mười ngón tay là không chịu.
Cậu Ba tôi là phận con trưởng trong nhà nên cậu và vợ con của cậu mừng tuổi trước, tiếp đến là gia đình ba má tôi, sau đó mới tới phiên cậu Sáu rồi dì Bảy. Ai cũng nói gần như có một câu mẫu “Chúc sống lâu trăm tuổi” và chỉ cần thay đổi vai vế xưng hô. Tôi cũng nói “Con chúc ông ngoại bà ngoại sống lâu trăm tuổi” để nhận được một bao đỏ, trong đó có một tờ giấy bạc Đông Dương mệnh giá một đồng. Ông bà ngoại tôi chúc lại tôi “Con ráng học giỏi cho ba má con được nhờ”. Mọi lời chúc Tết năm xưa xem như trớt quớt hết vì ông bà ngoại tôi sống tới cỡ tám chục tuổi đã qui tiên; tôi thì học dở và ba má tôi cũng chẳng được nhờ.
Tối Mùng Một, sau khi cả nhà cơm nước xong, cậu Sáu tôi tổ chức một màn văn nghệ bỏ túi để giúp vui. Cả ban văn nghệ vừa đàn vừa hát chỉ có hai người là cậu Sáu tôi và cậu Hai Long, em họ của mẹ tôi. Một người đàn “mandolin”, một người đàn “banjo”, vừa đàn vừa thay phiên nhau hát, tiếng đàn nghe giòn giã, giọng ca tài tử cây nhà lá vườn của hai cậu đối với một thằng nhỏ thích văn nghệ là tôi như vậy là hay rồi. Tôi nhớ dường như bản ruột của hai cậu là bài “Khúc Nhạc Đồng Quê” với những câu “Quê hương tôi gió chiều về trong nắng vàng… Ven bờ sông ai chờ mong bao hình bóng… Ôi mênh mông cánh đồng làng trong nắng tàn… Bao người đang lo cày cấy mong ngày mai…” Tôi chẳng biết tên nhạc sĩ, tôi chỉ biết tiết điệu dồn dập vui vui, lời ca thì quá thích hợp với cảnh quê thanh bình thuở đó.

Dưới ánh sáng của hai cây đèn “manchon” treo bằng móc sắt dài từ trên trần nhà, mọi người trong đại gia đình ông bà ngoại trông tươi vui, kể cả tôi, dù vẫn còn yếu vì chưa hẳn khỏi bệnh. Vào buổi tối, nhà ngoại có thói quen ăn trái cây trước khi đi ngủ, chắc tại trái cây luôn luôn sẵn có trong vườn nhà. Mận, ổi, quít, vú sữa đựng cả thúng để trên sàn nhà, mạnh ai nấy lấy ăn. Má tôi lột cam sành dưa cho ba tôi, tôi và em tôi ăn.
Ánh đèn manchon sáng choang lôi cuốn vô số những con thiêu thân; từ ngoài bóng tối chúng lao vào ánh đèn để rồi bị ngã chết la liệt trên mặt bàn. Có những con chỉ ngất ngư bay loạng choạng trúng người này người nọ.
Đêm tàn, màn văn nghệ và ăn trái cây ngày đầu năm chấm dứt. Đứa em hai tuổi của tôi đã ngủ say; tôi cũng đã ngáp vắn ngáp dài, tay bốc một miếng vỏ cau, chấm một ít tro than để chà răng súc miệng rồi đi ngủ.
Xấp xỉ đã gần bảy mươi năm qua rồi còn gì. Mọi người trong gia đình ông bà ngoại tôi giờ đây không còn ai nữa cả: cậu mợ Ba, ba má tôi, cậu Sáu, dì Bảy đều lần lượt đã từ giã cõi đời. Những cây ăn trái trong mảnh vườn xưa cũng lần lượt trở nên già cỗivà ngừng sức sống, nhường chỗ cho những nấm mồ. Ngọ lì, đứa bạn xúi dại tôi đu bửng xe ngựa ngày xưa lớn lên làm tròn phận trai thời loạn, gắn hoa mai vàng trên cổ áo, Trung úy Đại đội Trinh Sát Sư Đoàn 7 Bộ Binh, để rồi mãi mãi đi vào lòng đất mẹ năm 1973 ở Giồng Trôm Bến Tre, vinh thăng Đại úy.

Phần tôi, tuổi dại khờ lăn lộn gần suốt bảy mươi năm, nay trở thành khờ lại, đi kể chuyện ngày xưa tưởng chỉ để dành cho chính mình. Chứng bệnh chóng mặt nhức đầu ói mửa không ăn không uống mấy hôm liền vẫn đeo đẳng suốt cuộc đời, mỗi năm cứ lại xảy ra đôi ba lần như nhắc chotôi mãi nhớ về kỷ niệm cái Tết năm xưa đó.

Toronto đầu năm 2019
Phan Hạnh

Comments are closed.

error: Content is protected !!