Stock, what is it?

Nguyễn Thơ Sinh

 

Không ít người trong chúng ta đã từng nghe nói đến stock – cổ phiếu. Nhưng thực ra cổ phiếu là gì, nhiều người nghe nói về nó, hiểu lờ mờ về nó, thậm chí có người nghĩ mình hiểu cặn kẽ, nhưng nói đến mối tương quan giữa cổ phiếu và thị trường chứng khoán, nhất là sự lên xuống bất ngờ của nó, họ vẫn thấy nó như thiếu thiếu cái gì đó.

 

Theo định nghĩa, cổ phiếu là: A type of security that signifies ownership in a corporation and represents a claim on part of the corporation’s assets and earnings. Như vậy cổ phiếu là cổ phần sở hữu tài sản của một công ty. Người mua cổ phiếu mua một phần sở hữu của một công ty. Người ta gọi họ là cổ đông. Cổ đông là người làm chủ một phần của một công ty. Và cổ phiếu là những đơn vị tài chánh; chứng thực họ làm chủ bao nhiêu phần trăm (%) của một công ty. Trong thuật ngữ tiếng Anh, cổ phiếu (stock) còn được biết qua những danh từ khác như shares hay equity.

 

Có hai loại cổ phiếu: common stockspreferred stocks. Người làm chủ các cổ phiếu thuộc loại common stocks có quyền bỏ phiếu quyết định đến các đường hướng chiến lược của một công ty. Trong khi đó người làm chủ các loại cổ phiếu thuộc nhóm preferred stocks không có quyền bỏ phiếu tại các cuộc họp cổ đông hay của công ty.

 

Nhưng chủ các preferred stock được chia tiền lời do công ty làm ăn phát đạt gọi là dividends trong khi đó người mua common stocks thì không. Đồng thời chủ các preferred stocks đa số nắm nhiều tài sản trong công ty nên lãi suất và lợi ích của preferred stocks cũng cao hơn chủ các cổ phần common stocks. Ví dụ: chủ preferred stocks được nhận dividends trước những chủ common stock. Khi công ty phá sản, phải phát mãi tài sản, những chủ cổ phiếu preferred stocks sẽ được đền bù trước những chủ cổ phiếu nhóm common stocks.

 

Chủ cổ phiếu – như đã bàn, được gọi là cổ đông. Tiếng Anh gọi họ là stockholder (hay shareholder) là người làm chủ bao nhiêu phần trăm (%) của một công ty, tùy vào số % cổ phiếu người ấy đã mua. Nếu như một công ty chuyển tài sản của mình thành 1.000 cổ phiếu, cá nhân A làm chủ (tức đã mua 150 cổ phần), cá nhân B mua 400 cổ phần, cá nhân C mua 100 cổ phần, trong ba trường hợp này ta có cá nhân A làm chủ 15% công ty, cá nhân B làm chủ 40% tài sản của công ty, cá nhân C làm chủ 10% tài sản công ty. Số còn lại 35% sẽ thuộc về những người khác (hoặc do công ty giữ lại)…

 

Với người không mấy quan tâm đến đầu tư và thị trường chứng khoán, khái niệm cổ phiếu, cổ phần không ảnh hưởng nhiều đến những sinh hoạt đời sống của họ. Tuy nhiên với những ai có hứng thú và tỏ ra quan tâm đến nền kinh tế chung, khi nói đến những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn có tiếng tăm, người ta sẽ nghĩ đến giá trị cổ phiếu của các doanh nghiệp này. Tại sao? Vì họ đang quan tâm đến sự ổn định của thị trường cổ phiếu. Vì cổ phiếu là linh hồn của nhiều dạng đầu tư. Nó là hàn thử biểu đo nhiệt độ của nền kinh tế tư bản. Và nói về đầu tư dài hạn, stocks là một lựa chọn lý tưởng nhất. Nói khác đi: Stocks are the foundation of nearly every portfolio. Historically, they have outperformed most other investments over the long run. Nói vậy để thấy người có của thường bỏ vốn ra đầu tư vào cổ phiếu. Đây là hình thức đầu tư phổ biến nhất.

 

Trong bối cảnh bình thường tự nhiên, thị trường chứng khoán niêm yết các loại hình cổ phiếu và trái phiếu (bonds – chúng ta sẽ bàn vào một dịp khác) hoạt động bình thường. Giá bán lên xuống và lượng cổ phiếu được bán ra/ mua vào diễn ra khá tấp nập. Tuy nhiên tính biến động rất nhanh của giá cổ phiếu, nhiều người ở Việt Nam (đặc biệt tại quốc nội) đã nghĩ đến đầu tư cổ phiếu là chuyện đỏ đen. Họ nói về đầu tư cổ phiếu một cách gần gũi hơn: Chơi cổ phiếu!

Mua cổ phiếu thực ra chính là đầu tư (tuy có những rủi ro nhất định). Đến như ra một tiệm nail hay mở một tiệm phở cũng còn rủi ro mà (!) Ngoài ra, giá cổ phiếu lên xuống trên thị trường chứng khoán đôi khi chỉ phản ánh tương đối chính xác giá trị của cổ phiếu của một công ty. Ví dụ như công ty A làm ăn thua lỗ nhiều năm liền vì có những thất thoát và yếu kém trong quản lý điều hành, giá cổ phiếu của công ty A sẽ giảm nhanh; nhất là khi có những nguồn tin rục rịch phá sản hay đóng cửa. Nhưng khi công ty A đó quyết định sẽ có ban lãnh đạo mới; giám đốc điều hành CEO mới là người có thực tài (và ông này có những mối quan hệ thân cận với các giới chức đầy quyền lực). Thông tin này được công bố. Chỉ qua một đêm thôi, giá cổ phiếu của công ty A này sẽ tăng vọt lên một cách bất ngờ.

 

Hoặc khi kinh tế xuống dốc, hoặc sắp sửa có những biến động bất ổn về mặt chính trị, thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng vạ lây. Ví dụ như trường hợp của Greece (Hy Lạp) trước sức ép của Châu Âu bắt Greece phải có những kế hoạch cải tổ kinh tế kiểu thắt lưng buộc bụng, Greece không còn lựa chọn nào khác nếu như họ không muốn nhìn thấy đồng Euro biến mất khỏi nước họ. Đứng trước tình trạng đó, giá cổ phiếu của các công ty làm ăn tại Greece bỗng nhiên bị vọp bẻ. Thiên hạ hoảng hốt. Họ tranh nhau bán đi cổ phiếu của mình. Làm gì ư? Thu hồi vốn về cho chắc ăn. Bán gấp. Lấy tiền về. Mua ngoại tệ mạnh. Mua vàng trữ… Cảnh tình hết sức nhốn nháo. Ít nhất dân đầu tư tìm mọi cách đừng mất tiền bởi giá cổ phiếu của họ tuột dốc thê thảm. Mà giá cổ phiếu bị mất có khác nào tiền của họ bị bốc hơi.

 

Cuối tháng sáu, Greece buộc phải đóng cửa thị trường chứng khoán của mình. Đây là cách duy nhất và cũng là cách can thiệp cuối cùng vạn bất đắc dĩ trước khi thị trường chứng khoán của Greece rơi vào tình trạng sụp đổ hoàn toàn. Khi đóng cửa, thị trường chứng khoán sẽ ngừng các hoạt động giao dịch. Tức mọi hoạt động tại thị trường chứng khoán sẽ bế quan tỏa cảng. Người ta làm thế để ngăn chặn cảnh dân chúng ồ ạt bán tháo các cổ phiếu, càng khiến cho tình trạng cổ phiếu lao đầu xuống vực. Vì người bán nhiều quá mà ít người mua sẽ khiến cho giá cổ phiếu tuột dốc không thắng.

 

Sau thời hạn đóng cửa 5 tuần lễ liên tục tại Greece; khỏi bàn, với dân mua bán cổ phiếu tại thị trường chứng khoán, đây là một quãng thời gian rất dài. Nên biết vận tốc các giao dịch diễn ra tại sàn giao dịch nhanh như chớp. Thế mà phải đóng cửa đến 5 tuần. Rồi khi vừa mở cửa, mấy tiếng đồng hồ của ngày đầu tiên chỉ số chứng khoán chung ASE (Athens Stock Exchange) tại đây giảm hẳn xuống 22%. Cuối ngày vực lại ở mức 16%. Trong đó các cổ phiếu ngân hàng bị tuột giảm nặng nhất, 30%. Không có gì là khó hiểu, vì tình hình tiền tệ tại Greece rất bất ổn. Nên cổ phiếu của các ngân hàng bị mất 1/3 giá trị là điều được coi là tất-nhiên-phải-xảy-ra.

 

Dĩ nhiên tình hình kinh tế phải xấu lắm mới dẫn đến cảnh thị trường chứng khoán buộc đóng cửa. Nhưng sau khi được mở cửa tình hình cổ phiếu tại Greece vẫn không khá hơn là mấy. Evangelos Sioutis, một chuyên viên phân tích tài chánh của Công ty Guardian Trust, giải thích: There’s a sense of panic. Lo sợ đã dẫn đến tình trạng bán tống, bán tháo. Ông cho biết thêm trong bối cảnh hỗn loạn, nhiều tay đầu nậu cổ phiếu đã nghĩ đến chuyện bán đổ bán tháo để gỡ gạc vốn lại vì nếu kinh tế Greece suy sụp, mọi cái sẽ trở thành giấy lộn. Sau cùng ông kết luận: There are no buyers. The outlook is not clear. Không có người mua, tất cả trở thành ế ẩm hết!

 

Thông thường khi thị trường chứng khoán của một nước biến động sẽ kéo theo những biến động tại những nơi khác. Lần này thị trường chứng khoán thế giới vẫn bình chân như vại trước biến động xảy ra tại Greece. Đây là điều chẳng sáng sủa gì lắm cho Greece. Nhất là cổ phiếu của các ngân hàng tuột dốc không phanh, dù chính phủ đã ra lệnh cấm dân chúng rút tiền ồ ạt. Nhưng hình như nỗi lo sợ trong dân chúng đã khiến chính phủ cũng phải chào thua.

 

Tương tự như thị trường chứng khoán tại Trung quốc được chính phủ Trung quốc liên tục bơm tiền vào để cứu nguy. Điều này sẽ có những tác động nhất định (lên các thị trường chứng khoán). Nhất là vào thời kinh tế hiện đại – Chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhất là bối cảnh các doanh nghiệp tập đoàn lớn càng ngày càng lao vào con đường ăn-xổi-ở-thì, tức họ không màng gì đến xây dựng thương hiệu lâu bền mà chỉ nghĩ đến chuyện làm sao có được những bản báo cáo tài chánh hấp dẫn nhất trong thời điểm hiện tại. Họ nghĩ đến chuyện làm hài lòng cổ đông, nâng giá trị cho cổ phiếu tại các báo cáo tài chánh, nhưng điều này rất nguy hiểm. Bởi lẽ các cổ phiếu không sinh lợi, thiên hạ không thích nữa. Họ sẽ bán. Nhiều người bán sẽ biến các cổ phiếu đó mất giá. Tình huống xấu nhất là cổ phiếu đó bị gỡ khỏi thị trường niêm yết. Nếu thương hiệu không mạnh, giá trị cổ phiếu của những công ty này sớm muộn gì cũng sẽ vỡ như bóng bóng.

 

Cổ phiếu là vậy. Nó là chứng minh chủ sở hữu của người mua nó. Tuy cổ đông làm chủ những cổ phiếu của một công ty, trên mặt giấy tờ là tài sản hẳn hoi; nhưng khi công ty đó làm ăn thất bại, phá sản, cổ phiếu của bạn gặp những khó khăn, giá trị của chúng bị tuột dốc. Lúc đó, vẫn trên mặt giấy tờ, bạn làm chủ nhưng giá trị tài sản của bạn đã bốc hơi gần hết rồi. Đó là lý do nhiều ông chủ có tài sản dựa vào cổ phiếu chỉ qua một đêm mất số tiền bạc tỷ (thỉnh thoảng chúng ta vẫn nhìn thấy).

 

Nguyễn Thơ Sinh