Sóc Trăng

Bài- ảnh: Trần Công Nhung

 

Thăm hết các chùa quanh thành phố Trà Vinh chỉ mất hai tiếng đồng hồ. Mười giờ anh Ba Quí đưa tôi ra bến xe đi Sóc Trăng. Anh cho biết đi Sóc Trăng có đường tắt gần hơn bằng lối “Tiểu Cần Cầu Kè, mật khu mấy ổng hồi trước”, qua hai lần phà, chạy xe ôm cũng được nhưng hơi cực. Xe đò chậm mà đỡ mệt, chỉ phải chờ đợi và hứng chịu đủ thứ ồn ào nơi bến xe. Trời nắng gắt, ai cũng bịt mặt chống bụi, nhìn mà muốn ngộp thở…

Chuyến xe đi Sóc Trăng thật bầm dập, xe chạy đón khách lung tung, đã vậy tài xế và lơ xe lo hẹn hò với gái, tay lái tay phone, nhăng cuội chẳng coi khách ra gì. Ì ạch mãi hơn hai giờ mới về đến Sóc Trăng.

Một cậu xe ôm lóc chóc đến “bắt” tôi ngay nơi cửa xe, tôi không đi, anh ta muốn gây sự. Phải cẩn thận, bởi ngay lúc đầu vớ một người không đàng hoàng là hỏng cả chuyến đi. Khéo léo lắm tôi mới dứt được anh ta rồi qua quán nước bên kia đường. Sau đó, dò tìm một anh có tướng mạo đàng hoàng hơn. Tôi chọn anh xe đứng ngoài xa, dò xem anh có biết những điểm cần đi, tôi mặc cả bao luôn buổi chiều. Thường thường như vậy người ta tận tình hơn, mình cũng được việc. Còn chạy từng “cuốc”, mất thì giờ mà lại tốn kém.

Sóc Trăng du khách không nhiều nên sinh hoạt tại các khách sạn có vẻ trầm lặng, hỏi mãi mới tìm được phòng. Như mọi khi, tôi sắp xếp đồ đạc rồi lên xe đi ngay. Phố xá miền Tây không tấp nập ồn ào, Sóc Trăng sạch sẽ sáng sủa.

Du lịch các tỉnh miền Tây, thăm chùa là chính, đa số là chùa Miên. Các chùa không xa thành phố bao nhiêu, có thể thăm trong một buổi: Chùa Chén Kiểu, chùa Dơi, chùa K Leang, chùa Ðất Sét…

Trời như muốn mưa dông, hầm hầm, oi oi, tôi giục anh xe chạy nhanh cho kịp. Sóc Trăng ít xe đường vắng không ngại. Chùa Chén Kiểu (tên của người Việt), cách thị xã 7km, có cổng tam quan hơi lạ: Bốn trụ xây làm thành 3 lối, lối giữa rộng nhất, xe ô tô vào được, hai bên là cổng phụ, chỉ vừa một người đi. Trên 4 trụ cổng vuông lớn, chắc chắn, cao chừng 6m, có ba tháp, tháp giữa cao hơn tháp hai bên. Lối kiến trúc như kết hợp giữa Tây (phần dưới) và Ðông (phần trên). Bốn trụ cổng màu chu đậm, chạm hoa văn tỉ mỉ, có đắp mấy chữ “Chùa Sàlôn”. Lúc nãy anh xe ôm nói là chùa “Xam Roong”. Tuy là người địa phương nhưng ít ai để ý đọc đúng tên các đền đài di tích viết theo tiếng sắc tộc, thực tình cũng khó đọc cho đúng. Mái chùa có đầu Rồng nhưng đơn giản, không mảnh mai uốn lượn như mái chùa Việt. Ngôi chánh điện được gắn toàn mảnh chén kiểu và gạch men, từ cột, vách, đến mái, có lẽ vậy mà có tên: Chén Kiểu. Tam cấp, mỗi bậc một màu, rườm rà rối mắt.

Cảnh chùa vắng vẻ, không thấy có sinh hoạt gì, trừ mấy Sư trẻ làm tạp dịch trước cổng chùa. Thường thường tại các chùa Miên, các sư trẻ không trả lời những thắc mắc của du khách, chùa Sàlôn cũng thế, họ bảo tìm hỏi Sư Trưởng. Tôi đang ngắm nhìn một ngôi điện không lớn, đứng riêng lẻ, đẹp và trang nghiêm nhưng cửa đóng kín. Có nhà sư ngang qua tôi hỏi:

– Thưa Sư, kia cũng là Ðiện thờ Phật?

– Không, đó là nhà dành cho các Sư ở xa về nghỉ ngơi.

Sư thấy tôi đi một mình nên cũng không quan tâm, tôi xem qua một vòng, chùa “chén kiểu” có lẻ lạ mắt đối với người mình, còn với du khách không mấy ai để ý. Có vài người, không phải du khách, đang trầm trồ xem một bụi chuối trổ buồng dài trăm nải, loại chuối này trước đây khi mới có, đã gây xôn xao, dư luạân cho là điềm báo một “sự lạ ra đời”. Ðây chỉ là loại chuối kiểng, trái tí ti, không ăn được. Thấy tôi mang máy ảnh, họ kêu: “Chụp hình nè chú”.

Ở Sóc Trăng có hai chùa nổi tiếng là Chùa Dơi và Kleang, nhưng trên đường đi, hễ gặp chùa là anh xe ghé qua. Anh tỏ ra nhiệt tình và cũng thích công việc của tôi. Anh hỏi:

– Chú làm công tác vầy chắc được nhiều tiền?

– “Lương khoán” thôi, liệu cơm gắp mắm không lợi dụng cù cưa được đâu. Anh không thấy tôi đi như chạy giặc sao?

– Em thấy mấy cán bộ công tác sướng thấy mẹ, khách sạn toàn sao, nhà hàng thứ xịn. Lại còn em út nữa chớ!

– Ừ, cũng có nhưng mình khác.

Anh đưa tôi vào thăm chùa Chrui Tim Chás, chùa không lớn nhưng có vẻ xưa hơn chùa Chén Kiểu, có nhiều tháp. Vừa vào, thấy có vị sư già bước ra, lại giống người Việt, tôi hỏi đại:

– Thưa Sư…tên chùa là… khó đọc quá…

– Tên cũ là Trà Tiêm.

– Dạ, chùa có đã lâu?

– Mới 120 năm.

– Thưa, chùa dành cho người Miên hay có cả người Việt?

– Không phân biệt, tui là Lục Tà Lâm Ngọc Minh, người Việt.

– Dạ, chùa có nhiều Tháp lớn nhỏ là thế nào?

– Tháp trên nền Chánh Ðiện là của chư Ðại Ðức, tháp dưới sân là cuả Phật Tử xây cho cha mẹ ông bà.

Hỏi thăm vài điều rồi chụp chung tấm ảnh kỷ niệm với Sư Lục Tà, Sư lấy bút ghi địa chỉ để tôi gửi ảnh rồi tặng tôi luôn cây bút làm kỷ niệm.

Trời muốn đổ mưa. Chúng tôi nhanh chóng đi qua chùa Dơi.. Lúc còn cách chùa chừng 300m thì mưa ập xuống, phải núp vào quán bên đường. Quán chẳng có thứ gì ăn uống để lấy cớ mà núp mưa, tuy nhiên chủ nhà cũng nhiệt tình kéo ghế mời. Cơn mưa kéo dài chừng nửa tiếng nhưng cũng sốt cả ruột, còn một hai chỗ nữa, cố chạy cho kịp chiều nay.

Chùa Dơi là tên do người Việt gọi, hàng ngàn con dơi treo lủng lẳng suốt ngày trên những cây sao trong khuôn viên chùa, chiều tối mới đi ăn. Ðặc biệt là dơi không ăn trái cây trong vườn chùa. Chùa còn hai tên khác: Mã Tộc hay Ma Ha Túc, nhưng trên cổng vào chỉ đắp bằng chữ Kmer loằng ngoằng chẳng biết đọc như thế nào. Về kiến trúc, chùa theo phong cách chung của chùa Miên, không có nét đặc biệt. Hầu hết tường vách nhà chùa quét màu vàng nghệ, không có gì cổ kính. Cổng chùa cũng thế, lại mảnh khảnh đơn giản hơn chùa Sàlôn. Nhưng du khách thường đến thăm là do tiếng đồn “Rừng Dơi”. Ðến để xem dơi treo như quả trên cây, những con dơi to và dài màu lông chuột. lòng thòng trên ngọn cây sao cao vút. Trong chùa cũng có vô số tượng Phật, tượng Tứ Linh nặn bằng đất sét. Thấy có nhà Sư đi qua tôi hỏi thăm:

Thưa Sư, chùa Dơi có vẻ mới mẻ, không biết chùa có từ bao giờ?

– Chùa được dựng từ năm 1569, lúc đầu chỉ là tranh tre, mấy trăm năm qua, chùa được trùng tu nhiều lần, sau 75 chùa cũng xây dựng tôn tạo lại.

– Thưa, mùa hội của chùa vào thời gian nào?

– Vào ngày tết Nguyên Ðán Kmer, 12, 13, 14 tháng 4.

Tôi vừa hỏi chuyện vị sư xong thì có một anh chụp ảnh dạo đến chào:

– Chào chú, cháu xin phép hỏi thăm chú….

Tôi nghĩ, anh nầy hỏi về Nhiếp Ảnh chứ chẳng có gì, nhưng vì trời chiều lại mưa nên tôi vừa đi vừa nói:

– Ðược, 5 phút thôi nghe, vì tôi phải đi ngay.

– Ði đâu chú?

– Ði đâu là do anh xe ôm ngoài kia.

Anh thợ ảnh rút ra mấy tấm hình nhờ tôi giải thích:

– Cháu chắc chú chơi ảnh lâu năm, nhờ chú cho nhận xét, cháu mới tập chụp ảnh nghệ thuật.

Tôi ngắm nghía anh thợ ảnh trước khi “phê bình ảnh”. Tuy thợ ảnh nhưng có nét sáng sủa nhanh nhẹn. Anh đưa tôi hai tấm hình cỡ 5×7 vừa cười vừa nói: “Chú chỉ giùm cháu hay dở để cháu rút kinh nghiệm. Cháu chụp cái Mạng Nhện gần một cuốn film, hình Sư Sơn Tượng…”. Tôi nhìn sơ qua rồi nhận xét:

– Ảnh nghệ thuật cũng là ảnh chụp bình thường, chỉ khác ở chỗ: Ánh sáng, bố cục, đường nét, góc độ, nội dung gói ghém…

– Chú có thể nói rõ hơn cho cháu về tấm ảnh “Mạng Nhện”?

Tôi phải dừng lại và tóm tắt thật nhanh:

– Trước hết đề tài thuộc tĩnh vật quen thuộc, được chụp ngược sáng khá hay, nhưng chỉ mô tả đơn thuần chưa “mở” hay gợi ra điều gì mới nơi người xem. Muốn đưa một sự vật bình thường vào nghệ thuật, người sáng tác phải có cái nhìn khám phá, phải biết vận dụng tưởng tượng, ví dụ: Khi chụp mạng nhện, có thể liên tưởng đến một thứ cạm bẫy, vậy phải làm sao chuyển đạt ý tưởng đó đến người xem qua hình ảnh mạng nhện? Người nghệ sĩ cần vận dụng thêm các phương cách sáng tác như, cắt xén, ghép ráp, v.v… thêm vào yếu tố gì đó để có thể gửi gắm điều mình muốn nói. Tấm ảnh nhà sư cũng thế, đề tài này có thể cho một tác phẩm nghệ thuật bằng cách nhìn dưới một góc cạnh đặc biệt, dưới nguồn sáng đặc biệt, và tìm cho ra những đường nét độc đáo, nghĩa là không chụp như chụp ảnh lưu niệm.

Tôi nói một hơi, “nhà nhiếp ảnh” nghe rất kỹ nhưng lại tỏ ra hoang mang. Có lẽ tôi nói xa xôi và theo kiểu “diễn thuyết” nên phải rút lại:

– Bước đầu chụp ảnh nghệ thuật mà có tấm hình như vậy là khá lắm. Dần dần cháu sẽ nhận ra những điều chú nói. Bây giờ chú phải đi.

Tôi tìm anh xe, lúc này có một nhóm du khách người Âu vừa đến, họ chụp ảnh và ngắm nghía trước cổng chùa. Du khách thì lúc nào cũng từ tốn, mỗi cái cổng Tam Quan mà họ dừng một lúc khá lâu. Trầm trồ ngắm nghía, chụp ảnh, ghi chép…Mình thì cứ như “Digital” mọi thứ “set up” sẵn, nên phải thật nhanh nhưng phải chính xác…

Xe chạy được một đỗi, tôi thấy anh thợ ảnh chạy theo sau. Ðến chùa K Leang, anh cũng theo vào, anh quan sát tôi chụp ảnh, lâu lâu hỏi một câu. Tôi trả lời cho qua chuyện, vì tâm trí mãi lo công việc sao cho kịp giờ. Lúc này trời đã tạnh mưa và bầu trời hừng sáng lên.

Chùa K Leang có nét kiến trúc khá đặc biệt, mái lợp ba tầng, trang trí hoa văn công phu phức tạp hơn hai chùa vừa rồi, nhất là màu sắc đậm đà cổ kính, nét nghệ thuật Khmer thấy rõ, có thể nói chùa Kleang là ngôi chùa tiêu biểu về nghệ thuật kiến trúc của Khmer vùng đồng bằng Nam Bộ. Tôi rất thích “gam” màu của chùa, nó ấm áp thâm trầm, gợi lên cảm xúc rõ rệt và đặc biệt về văn hóa người Khmer. Khuôn viên chùa khá rộng nhưng rừng Sao không rậm như ở chùa Dơi, nhiều tháp mộ, có một ngôi tháp đang xây, trông bề thế và sang trọng, một người thợ cho hay, tháp của một gia đình Việt Kiều làm cho ông bà cha mẹ. Một hai nhà sư qua lại, hỏi thăm, họ cũng bảo tìm Sư Trưởng Lão. Vào dãy nhà trong, có bà già đang quét dọn tôi gạ chuyện:

– Thưa bà có Sư chánh đây không bà?

– Sư ở trong kia, chắc sắp đên giờ làm lễ buổi chiều.

– Chùa có đông các sư không?

– Có ba mươi ông Lục (Tăng?)

Vừa lúc vị sư già bước ra tôi hỏi nhanh:

– Xin Sư cho biết chùa Kleang có từ năm nào ạ?

– Từ 1533.

– Chùa khá lâu đời vậy có sinh hoạt gì khác những chùa khác?

– Có trường Bổ Túc Văn Hóa Pali, lớp 6 đến lớp 12 nội trú, nhà nước cho học bổng 160 ngàn đồng 1 tháng. Có 171 học viên toàn người Khmer.

Người ta cho biết chùa Kleang còn ghi lại nguồn gốc tên gọi Sóc Trăng: Vào thế kỷ 16 có vị quan tên Tác, cai quản vùng này và gọi địa phận thuộc quyền ông là Srosk Khleng, khi người Kinh đến lập nghiệp, họ gọi Sóc (Buôn, bản) Khalang, rồi dần dà thành Sóc Trăng. Các sư đã tụ tập về chánh điện làm lễ, có nghĩa là giờ thăm viếng chấm dứt.

Trên đường về, tôi ghé vào chùa Ðất Sét gần đấy. Thực ra đây chỉ là nơi tu hành của một cư sĩ: Ông Ngô Kim Tòng, ông đã có công tạo những hiện vật độc đáo suốt nhiều thập niên.: Ðặc biệt 8 cây nên nặng khoảng 200kg, thắp cháy liên tục suốt 70 năm. Ông qua đời năm 1970 và 2 cây nên nhỏ được thắp từ bấy đến giờ vẫn tiếp tục sáng. Ngoài ra còn nhiều tượng Phật, Linh Thú được nặn bằng đất sét.

Thấy tôi không còn thăm nơi nào nữa, người bạn ảnh trẻ ngỏ lời mời tôi đi ăn bữa tối. tôi nhận lời nhưng hỏi lại:

– Ở đây còn nơi nào đáng xem nữa không?

– Dạ có Công Viên Văn Hóa cũng đẹp.

Chúng tôi cùng đến “Công Viên Văn Hóa”, một dạng công viên giải trí cho tuổi thơ, nơi có nhiều trò chơi và các công trình nghệ thuật mang tính quần chúng. Hình ảnh nổi bật ở đây là hồ nước có nhà hàng, có hai con Rồng lớn đắp giữa hồ. Công viên không rộng lắm nhưng có nét đặc biệt, nơi vui chơi giải trí chụp ảnh rất thích hợp. Ngày nay công viên giải trí, tỉnh nào, thành phố nào cũng tập trung xây dựng. Tôi dạo quanh một vòng, cảnh đẹp mà vắng hoe.

Chỉ một lát là trời tối. Vào quán, trong khi chờ đợi thức ăn, anh bạn ảnh lại lôi thêm một số ảnh “ma két” ra hỏi tiếp. Anh cũng trao tôi tấm business card: “Chụp Ảnh Hưng”. Hưng tỏ ra hăm hở và muốn nghe nói về ảnh nghệ thuật.

– Thưa chú, lúc nãy chú bảo muốn cho ảnh Mạng Nhện trở thành tác phẩm nghệ thuật thì phải thêm bớt, vậy làm cách nào?

– Trong sáng tác nghệ thuật có nhiều khuynh hướng: Hiện thực, tượng trưng hoặc trừu tượng…tùy đó mà người nghệ sĩ, dàn dựng, lắp ghép. Em có thể bắt một con ruồi cho vào để có hình ảnh thực mà như một lời nhắn gửi ẩn dụ. Hoặc bóng bẩy hơn, dùng một ảnh mỹ nhân mờ mờ phía sau để có cùng ý tưởng. Nhưng nhớ làm cách gì thì cũng không nên thái quá, nghĩa là đi vào hoang tưởng, trừ khi muốn thể hiện một tác phẩm trừu tượng.

Suốt trong bữa ăn Hưng hỏi nhiều câu chứng tỏ lâu nay anh bị dồn nén khá nhiều về ước vọng nghệ thuật. Khi giã từ, Hưng nói câu cảm ơn chí tình: “Không ngờ cháu gặp được ông thầy giữa đường mà hay”. Tôi thì cảm ơn bữa cơm ngon miệng và nhất là có một kỷ niệm vui ở Sóc Trăng.

Mọi việc mà lúc nào khởi đầu cũng hứng khởi, kết thúc cũng vui vẻ thì cuộc sống luôn luôn thú vị, đường đời có “chông gai” mấy cũng coi thường. Trong mọi chuyến đi, qua nhiều miền quê hương, tôi thường có những giây phút bất ngờ như thế, nên cứ muốn đi hoài.

 

Trần Công Nhung

 

Tin sách

Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 11 tập đầu). Ðã có 2 tác phẩm mới: Vào Ðời (350 trang), Tình Tự Quê Hương (250 trang) xin liên lạc tác giả:

email: trannhungcong46@gmail.com,

(816)988-5040, hoặc add:

1209 SW. Hopi St.

Blue Springs, MO. 64015 (USA)

 

 

 

More Stories...