Rồi lá thay màu!

Vậy đó! Rồi mùa hècũng lẳng lặng qua đi tự lúc nào. Hạ qua, nắng ấm nay nhường bước, trao trả mùa thu ngọn gió thu. Thu mới vào thu, gió lạnh hơn. Những ngày vàng ánh nắng trên phương bắc, dạo này không còn nắng ấm của mùa hè. Nắng đấy, nhưng trong nắng có gió se lạnh trên làn da trần. Mới mấy tuần trước còn nóng oi bức của mùa hè, hôm nay gió thu mơn man trong nắng. Nếu có lơ đãng với thời gian, người ta cũng nhận ra: tiết trời đã vào mùa thu. Mùa thu nơi đây, trở về như hẹn ước.
Hạ đi!
Thu về!

Mùa thuthường gợi nhắc những vần thơ tình tứ. Thuở trước, khimiền Nam mình còn tự do, còn Sài Gòn, học sinh trung học đều có học về văn, văn trong Tự Lực Văn Đoàn, có học về thơ, thơ của Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu là một trong những bài học về loại thơ tiêu biểu cho những vần thơ mới.Mùa thu trong vần thơ mới; người ta nhớ ngay đến tựa bài thơ của Xuân Diệu, bài “Đây Mùa Thu Tới”:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá…
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…
Non xa khởi sự nhạt sương mờ…
Đã nghe rét mướt luồn trong gió…
Đã vắng người sang những chuyến đò…

Mây vẩn từng không, chim bay đi,
Khí trời u uất hận chia ly.
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì.”

Thu về mang nguồn cảm hứng mênh mông, là đề tài quyến rũthi nhân, văn nghệ sĩ. Cảnh sắc mùa thu mỗi nơi, mỗi thời, tuy có tương tự như nhau, nhưng lòng người thì mỗi khác. Mùa thu trong thơ văn đều có vẻ đẹp, nét nên thơ riêng biệt. “Đây Mùa Thu Tới” của Xuân Diệu có khác, có nhiều nét tuyệt diệu.Ngoài thơ về mùa thu, Xuân Diệu còn có bài thơ “Gởi Hương Cho Gió”, với những câu như sau:
“Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm
Đem gửi hương cho gió phũ phàng!
Mất một đời thơm trong kẽ núi,
Không người du tử đến nhằm hang!”
Cả hai bài “Đây Mùa Thu Tới” và “Gởi Hương Cho Gió” đều được Xuân Diệu sáng tác trước năm 1945. Thế nhưng, từ năm 1945, sau khi Xuân Diệu vào đảng, thì thật là khó mà nhận ra được thơ của Xuân Diệu ngày nào.Hãy thử đọc qua một đoạn trong bài thơ có tựa đề là Gánh:

“Người gánh gánh của chúng tôi: là Đảng.
Người gánh gánh với chúng ta: là Đảng.
Người gánh ta, ta gánh Người: là Đảng.
Người gánh đất, Người gánh trời: là Đảng.
Ôi ngời ngời Đảng Cộng sản Đông Dương,
Đảng Lao động Việt Nam, là một đó…”

Thế đấy!
Thật đáng tiếc,sau năm 1945, nhữnggiòng thơ trữ tình cùng hồn thơ Xuân Diệu, không ngờ lại giốngnhư lời thơ do chính ông ấy viết trong bài “Gởi Hương Cho Gió”, từ những năm trước.Thật vậy, cánh hoa đẹp của Xuân Diệu đã giống như “biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm” đã… “đem gửi hương cho gió phũ phàng” đã…“mất một đời thơm trong kẽ núi”,hay… hang động nào đó!
Từ đó, Xuân Diệu không còn là Xuân Diệu, một Xuân Diệu khi con người cùng với hồn thơchưa nhuộm màu máu đỏ oan khiên!
Thu về, tiếc thay cho Xuân Diệu của “Đây Mùa Thu Tới”!
Thu về.
Rồi lá thay màu!
Thu trở lại, mang theo nuối tiếc lẫn ngỡ ngàng, như màu lá thay màu, như lòng người.Người ta chóng quên hay lòng người cũng thay màu, đổi sắc!
Có lá, thay màu theo mùa. Có lá,vẫn giữ màu xanh thẫm. Thông không chịu đổi màu lá xanh cố hữu; mặc tình cho những hàng cây quanh mình, xôn xao trong gió, khoe sắc lá đang chuyển từ màu vàng sang đỏ. Thu sang, người ta thích làm dáng, tạo nụ cười trên môi, long lanh trữ tình trong ánh mắt, để được ống kính thu giữ hình ảnh mình cùng hàng cây đang đổi màu lá; trước khi sắc ánh rực rỡ, mà chóng tàn ấy, sẽ rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành sau vài cơn gió mạnh.

Nắng về chiều, ánh vàng nhạt yếu ớt len qua khung cửa kính của nhà hàng. Hãy còn khá sớm, chưa đến giờ ăn chiều, nên bên trong nhà hàng chưa thấy đông khách cho lắm.Rồi cửa mở, hơi gió lạnh từ bên ngoài được dịp theo những người khách mới, lùa vào. Bốn người bước nhanh vào bên trong nhà hàng, rồi ngồi vào bàn,theo lời mời của nhân viên tiếp đón.
Không biết có phải chiều thu làm lòng người chùng xuống!
Bốn người khách mới đến, ngồi yên lặng một lúc rồi mở thực đơn, lướt qua tên thức ăn. Chốc sau, mâm thức uống được mang đến bàn trước,và gia đình tuần tự đặt thức ăn chiều.
Uống thêm hớp cà phê, người đàn ông để tách xuống, nhìn ba mẹ con ân cần thăm hỏi:
– Sao… mẹ con đi chơi có vui không?
– Dạ, cám ơn Ba…cũng được!… À… cũng may đó Ba, Ba để mẹ và con đi bộ vào chợ, chứ không thì… chưa chắc Ba quay xe trở ra ngoài, để đi công chuyện được đó…
Nghe con mình nói thế, người đàn ông ngạc nhiên:
– Ồ! Sao vậy… hồi sáng, Ba thấy lối vào chợ cũng bình thường, không đông xecho lắm?!
Cô gái nhanh nhẹn giải thích với người cha:
– Dạ đúng vậy Ba, nhưng chỉ vài phút sau thì… có chuyện xảy ra, xe không được chạy ra, và cũng…bị cấm chạy vào luôn, đó Ba…!
Như tên gọi, khu chợ này nằm trên một đảo nho nhỏ, bên dưới chân cầu có cùng tên. Đây là nơi có một số cơ xưởng lớn, nhưng được biết đến nhiều hơn, như là nơi mua sắm, ăn uống, hay vui chơi, ngắm cảnh sông nước … Qua đoạn đường ngắn hai chiều, duy nhất, để ra và vào, lối xe chạy trở thành đường một chiều, theo ba cạnh của hình tam giác. Xe phải chạy gần như trọn vòng đảo, mới trở ra ngả ba, để rời khỏi khu chợ.
Thấy ánh mắt cha ngạc nhiên, chờ được biết thêm chuyện, cô gái lớn ngồi gần cha khẻ tiếp lời em:
– Dạ… có người… nhảy từ trên cầu… xuống đường xe chạy bên dưới…!
Câu chuyện ngưng lưng chừng. Bốn người chợt yên lặng.
Một lúc sau, người cha hỏi nhỏ:
– Tự sát à…?!
Người mẹ và hai cô gái nhìn nhau, rồi nhẹ gật đầu.
– Sao… đến thế?!
Ông ta lầm thầm như tự hỏi, rồi âu lo nhìn ba mẹ con:
– Mẹ và hai con… chắc không chứng kiến?!
– Dạ không, Ba!…
– Dạ … cũng may mắn!…mẹ và con chỉ hay biết tin, sau đó mà thôi!
Không gian chừng như ngưng đọng.Đâu đây có tiếng thở dài.
Thức ăn chiều mang đến. Họ nhận dĩa thức ăn của mình, khẻ mời nhau ăn. Hương vị thức ănhấp dẫn, nhưng bửa ăn chiều nay không có tiếng rộn ràng của dao nĩa, cùng tiếng cuời,tiếng nói,như những thực khách ở hai bàn gần đó. Không nghe ai hỏi han, hay nói chi thêm về những gì không vui đã xảy ra. Nhưng chắc hẳn, hãy còn lắm bâng khâng, ngậm ngùi cho số phận của người bị đưa đẩy đến ngỏ cụt.
Con người, ở thời đại nào và ở đâu, cũng có khổ!
Nhưng cái khổ cũng có trăm thứ khác nhau. Người ta khổ vì sức khoẻ, sự nghiệp hay vì tình yêu, danh vọng…. Còn ở đất nước như Việt Nam hiện nay, người ta phải chịu đủ thứ khổ.
Khổ đủ thứ!
Chẳng những khổ vì miếng cơm manh áo, sức khoẻ, mà còn khổ vì sự sĩ nhục; khổ vì… không được sống như một con người, như mọi người.
Khi kẻ cầm quyền có quá nhiều quyền lực, lắm tiền của, thì họ muốn gì cũng được. Họ là luật pháp! Ngược lại, dân chúng trở thành người bị tước đoạt quyền căn bản được sống, được làm người!

Cánh cửa hé mở.Người đàn ông khép nép bước vào.Người khách hỏi nhỏ nhân viên tiếp tân gần cửa đôi câu, rồi bước vội ra ngoài. Ông đứng tựa vách tường, bên cửa ra vào, lần tay móc vét hết số tiền trong túi áo lạnh, cho vào nón và tẩn mẩn đếm một lúc, rồi quay trở vào trong nhà hàng.

Theo sau nhân viên nhà hàng, hai tay giữ cái nón đựng mớ tiền, người khách bước đi xiêu vẹo, khó nhọc, với chân trái có vẻ không bình thường.Gió thu se lạnh từ bên ngoài len vào, thoang thoảng trong hơi ấm của phòng ăn.Cái áo lạnh mùa đông cũ kỹ, rộng lớn quá khổ; làm thân người đàn ông đã ốm yếu, trông càng ốm lỏng thỏng bên trong.Người khách mới, chọn một bàn trong góc phòng.Không biết vì mắt kém, hay ngại ngùng muốn tránh ánh mắt của tất cả các thực khách trong phòng; hai cánh thực đơn trên tay người khách mới đến gần như che trọn khuôn mặt của mình, chỉ còn chỏm tóc bù xù nhô bên trên bìa thực đơn. Người khách cứ giữ thực đơn che mặt mình như thế, cho đến lúc phải hoàn lại, sau khi đã chọn và gọi xong món ăn.

Bên trong nhà hàng kín gió, yên ấm. Đưa tay khép vành nón che giữ mớ tiền giấy và đồng kim loại, người khách liếc nhanh qua những người trong phòng, rồi cởi chiếc áo lạnh mùa đông dày cộm ra, để trên nệm ghế bên cạnh mình. Tựa càm giữa hai lòng bàn tay đang che hai bên mặt mình, ông ta ngồi gục đầu, dáng người như mang nặng ưu tư, ánh mắt lang thang cùng những hoa văn trang trí in trên mặt khăn trãi bàn, chờ thức ăn.
Ít khách, nhà bếp làm thức ăn nhanh nhẹn. Không mấy chốc, dĩa thức ăn đầy ấp mang đến bàn. Vị khách mới đến cúi mặt ăn trông thật ngon miệng. Thức ăn trong nhà hàng, chắc hẳn phải ngon hơn những gì xin được, hay tìm được ngoài hè phố. Trong mùi gà và khoai chiên vàng thơm phức mới mang đến, có lẫn mùi riêng của người khách không nhà, không có nơi chăm sóc cho áo quần và thân thể mình; như những người may mắn hơn, họ có nơi chốn nương tựa và yên ấm. Cái mùi có thể làm người kế cận không vừa ý, nhưng lại rất quen thuộc với người lính trận. Mùi của những bộ quân phục đã ướp trộn mồ hôi cùng mưa bùn, khô đi rồi lại ướt sũng,…áo quần chưa được giặt!
Thấy bàn mình đã ăn xong, người cha hỏi ý vợ con:
– Chắc mình đi được rồi?!
– Dạ!… Dạ được, Ba!
Ngẫm nghĩ một lúc, ông ta ngần ngại hỏi ý kiến hai đứa con:
– Ba nghĩ, mình… nên rời nhà hàng sớm, để… kín đáo trả tiền bửa ăn này cho…vị khách mới đến, nhưng… không biết có nên không? Và… mình… có xúc phạm đến ông ấy không?

Cô gái ngồi bên cạnh cha nhanh nhẹn nói:
– Không sao đâu Ba, mình nên giúp ông ấy lắm!
Gia đình đứng dậy, rời bàn ăn.
Đưa thẻ tín dụng cho con, ông ta nói:
– Ba mẹ và em đi ra xe trước chờ con. Con giúp ba mẹ đến trả tiền cho bàn mình, cùng với bàn vị khách mới đến.
Trong không gian rộng này, chỉ còn lại lưa thưavài bàn có khách ngồi.

. . .

Ngày đang ngắn lại dần!
Mới hơn năm giờ chiều; chiều thu nơi đây không còn ánh mặt trời.
Mùa thu… trời u uất, chia ly!
Lá vàng đi và rơi rụng. Gió se sẻ đưa lá bay. Lá lao chao rơi trông thật buồn. Bên những lá đỏ úa nằm trên mặt đất ướt lạnh, có những chiếc lá mới nhuốm màu, hãy còn vương sắc xanh của nhựa sống.
Bùi Đức Tính

More Stories...