Rau mồng tơi

Lệnh hồ Công Tử

Mồng tơi đã loại rau phổ biến được ưa chuộng trong những ngày hè, nhất là ở Việt Nam chỉ cần một giỏ cua đồng, mồng tơi, rau đay, cà pháo, mắm tôm là có ngay một bửa ăn dân dã thịnh soạn. Một bát canh cua rau mồng tơi sẽ giúp giải cái nóng nực khó chịu, đem lại sự ngon miệng cho người ăn. Nhưng ít ai biết rằng, rau mồng tơi, ngoài giá trị làm thực phẩm còn có tính dược lý rất cao. Vào thời xưa, khi người ta chưa biết sử dụng mùng tơi làm rau ăn thì loại rau này đã được dùng để làm thuốc.

Mùng tơi là một loại giây leo có thể gặp khắp nơi ở vùng quê, rất gần gũi với người Việt. Mùng tơi dễ trồng, người ta hay cho leo theo hàng rào hay lên giàn cây dựng đơn giản. Lá mùng tơi màu xanh, có bông trắng và trái khi già màu tím. Hình ảnh của giàn mùng tơi nhan nhản với mọi người nhưng có lẽ vì không đài các như hồng, vương giả như lan hay rực vàng như mai như cúc nên mùng tơi hầu như không xuất hiện trong văn chưong thi phú cho tới khi Nguyễn Bính và Lưu trọng Lư tài tình đem lá mùng tơi vô trong những bài thơ của họ thì giậu mùng tơi xanh mỡn, đơn sơ, gần trong ánh mắt hàng ngày mới có nét lãng mạng hơn.

Trong các bài thơ của Nguyễn Bính, “Cô Hàng Xóm” được biết tới, nhắc nhở và tạo ra nhiều cảm hứng nhất:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,

Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn.

Hai người sống giữa cô đơn,

Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.

Giá đừng có giậu mùng tơi,

Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng…

Có con bướm trắng thường sang bên này.

Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!

Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi…

Chả bao giờ thấy nàng cười,

Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.

Mắt nàng đăm đắm trông lên…

Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!

Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi,

Tôi buồn tự hỏi: “Hay tôi yêu nàng?”

— Không, từ ân ái lỡ làng,

Tình tôi than lạnh gio tàn làm sao?

Tơ hong nàng chả cất vào,

Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang.

Mấy hôm nay chẳng thấy nàng,

Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong.

Cái gì như thể nhớ mong?

Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng!

Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng,

Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa.

Tầm tầm giời cứ đổ mưa,

Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.

Cô đơn buồn lại thêm buồn,

Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

Hôm nay mưa đã tạnh rồi!

Tơ không hong nữa, bướm lười không sang.

Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,

Rưng rưng… tôi gục xuống bàn rưng rưng…

Nhớ con bướm trắng lạ lùng!

Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.

Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!

Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!

Đêm qua nàng đã chết rồi,

Nghẹn ngào tôi khóc… Quả tôi yêu nàng.

Hồn trinh còn ở trần gian?

Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!

 

Mùng tơi ở vùng khí hậu ấm ra lá quanh năm nhưng những nơi, khi hết mùa Hè trời trở lạnh thì không ra lá nửa.

Từ độ mồng tơi thôi trổ lá

Là cô hàng xóm cũng thôi sang

 

Hoa lá quanh nàng lác đác rơi,

Cuối vườn đeo giỏ hái mồng tơi,

Mồng tơi ứa đỏ đôi tay nõn,

Có bé nhìn tay, nhí nhảnh cười.

Cách tường tiếng gọi sẽ đưa sang;

Rẽ lá cô em trốn vội vàng,

Quên giỏ mồng tơi bên giậu vắng;

Ta qua nhặt lấy gửi đưa nàng.

Năm tháng ta chen chốn bụi hồng

Cảnh xưa dừng bước một chiều đông,

Cây trơ, giậu đổ, mồng tơi héo

Cô bé vườn bên đã lấy chồng. Lưu Trọng Lư (Tiếng thu, 1939)

 

 

“Cây trơ, giậu đổ, mồng tơi héo” rất bình thường với cuộc đời của người thôn dã nhưng lại đem đến cho nhà thơ bao tê tái khi cô bé hàng xóm vườn bên đã đi lấy chồng. Cảnh cũ không còn và người năm trước thì biệt tăm, giàn mùng tơi không còn ai hái lá, cũng héo hắt buồn theo. Hầu như ai cũng biết giây mùng tơi bò theo hàng rào bên nhà nhưng có mấy người đã chú trọng tới loài rau luôn luôn sẵn sàng ngay tầm tay mình đâu. Chỉ có nhà thơ với tâm hồn nhạy bén và “có thời giờ” mới gữi gắm nỗi lòng qua hàng mùng tơi mộc mạc đó. Có lẽ Nguyễn Bính và Lưu trọng Lư là người đã đem hình ảnh và gợi sự chú ý cho đời nhiều nhất về giàn mùng tơi và nồi canh cũng bớt nhớt, đậm hưong hơn, ngọt ngào hơn cộng thêm một chút thơ qua bao nhiêu sự thay đổi.

Sau năm 1975 khi bút bi, bút mực rất hiếm nhà trường phát cho các giáo viên bình mực tím và ngòi bút lá tre để soạn bài. Màu tím được thể hiện ở các loài hoa, trái . . . nhưng màu tím mồng tơi là màu thích nhất vì mang hơi hướng của tuổi thơ khi còn sống cùng bố mẹ. Mồng tơi là món canh thường xuyên trong nhà, thường thì mẹ nấu với canh cua, thêm mướp và rau đay, đều trồng trong vườn nhà, lúc nào cũng có sẵn. Món canh này dễ nấu và hấp dẫn, nhờ màu xanh mướt mát của rau, vị đậm đà béo bùi của cua đồng, hòa cùng vị ngọt và thanh trong của nước dùng hơi nhớt. Chỉ cần thêm một bát cà pháo muối nữa, hoặc đĩa cá cơm kho khô thì thật là tuyệt vời. Giữa trưa hè nóng bức, được chan cơm ăn với canh cua mồng tơi thì không còn gì bằng. Nếu không có thời giờ giã cua đồng, nấu mồng tơi với tôm khô hoặc hến, trai, cũng ngọt nước không kém.

Bây giờ mồng tơi được trồng như một loại rau rẫy, lá to như bàn tay; không như hồi trước, trồng cho dây leo, lá nhỏ. Hương vị của mồng tơi lá to hình như không đậm đà bằng lá nhỏ trồng trên giàn. Bây giờ, mồng tơi được dùng để nhúng với lẩu bò, cháo cua đồng, các loại lẩu hải sản khác đều không thiếu rau này.

Mồng tơi là loại rau dân dã, có mặt trong ca dao từ rất lâu, nhưng thành ngữ “nghèo rớt mồng tơi” lại không có liên quan đến loại rau này, “Nghèo rớt mồng tơi” có nơi người ta còn gọi là “Nghèo rớt mùng tơi”. Ngày xưa không có áo mưa như bây giờ, nên người ta lấy lá cọ, lá nón, kẹp vào thanh tre vót nhỏ bện và ghép thành một vật dụng để che mưa nắng, gọi là “áo tơi”, loại áo này ngày xưa cả dọc miền Trung đều có, nhưng hiện nay ở Nghệ An, Hà Tĩnh, một số nơi còn mặc để che mưa nắng và nhất là tránh “gió Lào”. Loại áo này về mùa đông thì ấm, về mùa hè thì mát và bền, chỉ có vấn đề là “áo tơi” không thể xếp cho gọn được, làm ra nó sao thì cứ để như thế mà dùng đến khi hư thì thôi. Cái cổ áo tơi (có vùng gọi là mồng hay mùng) rất ít khi hư, rách, vì nó được làm kỹ và có nón che nên ít hư là vậy (khi mang “áo tơi” thường đội nón lá che phủ, cổ áo tơi ít tiếp xúc với mưa nắng nên lâu hư). Khi dùng cái áo tơi mà đến “Rớt mồng tơi” thì chỉ có những người quá nghèo mà thôi. Do đó thành ngữ “Nghèo rớt mồng tơi” dùng để chỉ người nghèo. Mồng tơi là loại rau mộc mạc, nên cũng là thức ăn đồng hành của những nhà nghèo khó, hình như chưa bao giờ xuất hiện ở những nơi chốn sang trọng, hơi hướng cung đình.

Đã mấy mươi năm trôi đi, cuộc đời thay đổi biết bao nhiêu thứ. Đồng ruộng, thôn làng dần dần mất đi. Tất nhiên những hình ảnh đẹp đẽ  của quê hương vẫn còn tìm thấy đâu đó trên những nẽo đường. Trong những bữa ăn gia đình hoặc trong những nhà hàng sang trọng mà chúng được coi như là đặc sản, chúng ta vẫn còn có thể vẫn còn được thưởng thức những đĩa  bông mướp, đọt mướp xào thịt bò  hoặc chỉ đơn giản hơn, xào tỏi.  Những tô canh tập tàng với nhiều loại rau hái trong vườn, hay chỉ đơn giản là một tô canh mồng tơi với vài con tôm khô. Nhưng có lẽ ngoài những người lớn tuổi thì những thanh niên, những đứa trẻ lớn lên trong lòng những đô thị lớn đã mất dần những khái niệm về giàn mướp vàng, về dậu mồng tơi, lũy tre làng, về mái tranh quê, về cánh đồng lúa.

Trái mồng tơi ngày xưa mầu tím
Canh mồng tơi ngày xưa mẹ nấu cả nhà ăn
Con lớn lên, con làm lính
Giữ xóm, giữ làng, giữ giậu mồng tơi
Mỗi chiều lần mò ra hàng mồng tơi cũ
Mắt mẹ buồn, vì thương nhớ đứa con đi

Trái mồng tơi ngày xưa mầu tím
Canh mồng tơi ngày xưa mẹ nấu cả nhà ăn
Anh lớn lên, anh làm cách mạng
Giải phóng xóm, giải phóng làng, giải phóng giậu mồng tơi
Mỗi chiều lần mò ra hàng mồng tơi cũ
Mắt mẹ buồn, vì thương nhớ đứa con đi

Trái mồng tơi ngày xưa mầu tím
Canh mồng tơi ngày xưa mẹ nấu cả nhà ăn
Chị lớn lên, chị thành sương phụ
Ôm con, khóc chồng bởi viên đạn tình cờ không thuộc cả đôi bên
Mỗi chiều dắt cháu ra hàng mồng tơi cũ
“Lá rau này nuôi lớn mẹ con bây”

Trái mồng tơi ngày xưa mầu tím
Canh mồng tơi ngày xưa mẹ nấu cả nhà ăn
Em lớn lên, em làm phản chiến
Chống Mỹ, chống Tầu, chống cả Liên Xô
Chống ông anh giữ xóm, giữ làng, giữ giậu mồng tơi
Chống ông anh nữa đòi về giải phóng
Mỗi chiều lần mò ra hàng mồng tơi cũ
Mắt mẹ buồn, vì thương nhớ đứa con đi

Trái mồng tơi bây giờ mầu vẫn tím
Canh mồng tơi bây giờ mẹ nấu chẳng ai ăn
Mỗi chiều lần mò ra hàng mồng tơi cũ
Mắt mẹ buồn vì thương nhớ những đứa con xưa (G. H. T.)

 

Theo đông y, rau mồng tơi có tính hàn, vị chua, tán nhiệt, mất máu, lợi tiểu, giải độc, đẹp da, trị rôm sảy mụn nhọt hiệu quả… rất thích hợp trong mùa nóng. Theo các nghiên cứu cho thấy, trong mồng tơi chứa chất nhầy pectin rất quý để phòng chữa nhiều bệnh, làm cho rau mồng tơi có tác dụng nhuận tràng, thải chất béo chống béo phì, thích hợp cho người có mỡ và đường cao trong máu. Tác dụng trừ thấp nhiệt, làm cho người lao động ngoài trời nắng nóng duy trì được sức khỏe, phòng chống bệnh tật như mỏi mệt háo khát, bứt rứt.

Dưới đây là những tác dụng chữa bệnh của rau mồng tơi:

Giảm cholesterol: Chất nhầy của rau mồng tơi có tác dụng hấp thu cholesterol, cholesterol nội sinh và ngoại sinh đều bị giữ lại trong ruột. Vì cholesterol bị khóa hoạt tính nên chất béo trong thực phẩm không ngấm được qua màng ruột, cholesterol sẽ bị thải ra ngoài qua phân. Người mập phì muốn giảm cân nên ăn rau mồng tơi vì nó có khả năng sinh nhiệt thấp, lại thông tiểu và nhuận tràng.

Làm vết thương, tốt cho xương khớp: Nước cốt từ rau mùng tơi có thể làm mau lành vết bỏng, hầm mùng tơi với chân giò thêm chút rượu để ăn hàng ngày sẽ giúp trị đau nhức xương khớp.

Chữa yếu sinh lý: Rau mồng tơi, rau ngót, rau má, bộ lòng gà hay vịt, nấu canh ăn nóng sẽ giúp trị chứng yếu sinh lý ở nam giới hiệu quả.

Trị mụn nhọt: Lá mồng tơi đem giã hoặc say nhuyễn (không cho thêm nước), trộn với ít muối đắp lên mụn.

Say nắng: Giã nát lá mồng tơi đắp vào thái dương và trán. Sau đó dùng vải bó lại để giữ nguyên vị, để bệnh nhân nằm ngủ một giấc dậy sẽ khỏi.

Đẹp da: Lấy lá mồng tơi non ở đầu nhánh, giã nát lấy nước cốt thêm ít muối thoa nhiều lần rồi rửa sạch. Thực hiện vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ.

Trị tiểu khó: Giã hoặc xay nhuyễn lá mồng tơi, vắt lấy nước cốt hòa với nước đun sôi để nguội, thêm một ít muối. Uống hỗn hợp này vào buổi sáng trước khi ăn điểm tâm, còn bã mồng tơi dùng để đắp lên bụng dưới chỗ bọng đái.

Chữa bỏng: dùng mồng tơi tươi, giã nát, lấy nước bôi lên chỗ da bị bỏng.

Lợi sữa: Phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn. Trong rau mồng tơi cócác vitamin A3, B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắtnên tốt cho thai phụ…

Trĩ: Giã nhuyễn lá mồng tơi đắp vào chỗ bị trĩ.

Thanh nhiệt, giải độc, chữa táo bón: Rau mồng tơi, mắm, muối, tương, giấm nấu thành canh ăn cơm hằng ngày. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông, không còn táo bón.

Tác hại của rau mồng tơi nếu ăn quá nhiều

Sức khỏe và đời sống cho biết, rau mồng tơi chứa nhiều chất dinh dưỡng. 1/2 chén rau mồng tơi nấu chín cung cấp vitamin A và 20% chất sắt cần cho chế độ ăn hằng ngày. Tuy nhiên, rau mồng tơi có thể gây ra một số tác dụng phụ khó chịu nếu ăn nhiều.

Hấp thu kém: Rau mùng tơi chứa hàm lượng cao axíd oxalic, một loại chất hóa học liên kết với sắt và calcium khiến cơ thể khó hấp thụ các chất dinh dưỡng quan trọng. Để khắc phục vấn đề này, có thể ăn kèm các thực phẩm giàu trong một số vitamin C khi bạn ăn rau  mùng tơi bằng cách kết hợp uống một ly nước cam hoặc cà chua. Vitamin C sẽ giúp cơ thể dễ dàng hấp thụ calcium và sắt.

Sỏi thận: Đối với người mắc bệnh sỏi thận, nên tránh ăn rau mùng tơi. Nguyên nhân là do rau mùng tơi chứa nhiều purin, hợp chất hữu cơ khi đi vào cơ thể sẽ biến thành axíd uric. Hàm lượng cao axíd uric trong cơ thể làm tăng nguy cơ phát triển của sỏi thận. Các axíd oxalic trong rau mùng tơi làm tăng nồng độ calcium oxalate trong nước tiểu, dẫn đến sỏi thận ngày càng phát triển.

Mảm bám răng: Một tác dụng phụ phổ biến nhưng vô hại của việc ăn rau mùng tơi đó là có cảm giác như răng có mảng bám hoặc nhớt. Nguyên nhân là do các axíd oxalic trong thực phẩm này. Axíd oxalic có chứa tinh thể nhỏ, không hòa tan trong nước. Các tinh thể nhỏ có thể được loại bỏ dễ dàng bằng cách đánh răng.

Khó chịu trong dạ dày: Rau mùng tơi có chứa hàm lượng cao chất xơ; một chén rau mùng tơi nấu chín có chứa 6g chất xơ. Mặc dù chất xơ rất cần thiết trong quá trình thúc đẩy tiêu hóa, tuy nhiên nếu ăn quá nhiều cùng một lúc có thể khiến dạ dày khó chịu. Cơ thể khi đó sẽ gặp một số vấn đề như đầy hơi, chuột rút sau khi ăn rau mùng tơi. Nếu tiêu thụ quá nhiều cùng một lúc, bạn có thể bị tiêu chảy. Hãy uống một ly nước đầy mỗi khi bạn ăn rau mùng tơi để giúp cơ thể quá trình tiêu thụ các chất xơ trong cơ thể trở nên dễ dàng hơn.

Lệnh hồ Công Tử, Canada, 16 July 2016

 

 

 

More Stories...