Quy Khứ Lai Từ

Bài ca VỀ ĐI THÔI

Đào Tiềm

bản dịch : Con Cò

Về đi thôi hề!
Ruộng vườn hoang phế sao chưa về?
Lòng tự nhủ bản thân phục dịch
Cớ sao còn buồn bã sầu bi?
Quá khứ đã dở dang hề
Tương lai vẫn còn bắt kịp.
Lạc đường chưa quá xa hề
Xưa lỡ lầm nay còn dịp.
Thuyền thênh thênh theo gió lướt
Gió vi vu tà áo bay.
Hỏi chinh phu đường phía trước
Tiếc bình minh ánh chưa đầy.
Thấy mái nhà xưa
Hân hoan rảo bước
Đồng bộc đónchờ
Trẻ thơ cửa trước
Lối ngõ hoang sơ
Cúc tùng xanh mướt.
Ẵm trẻ vô nhà
Rượu ngon canh ngọt
Nâng hồ trường hề tự rót
Nhìn cây lá mỉm miệng cười.
Dựa cửa nam hề cao ngạo
Nhà chật chội lòng vui tươi
Thú chơi vườn hề thành thạo
Cửa sẵn có luôn then cài.
Nương gậy tre hề bước dạo
Ngẩng đầu lên nhìn xa xôi.
Chim mỏi cánh hề về cội
Mây lững lờ qua núi khe
Trời âm u hề xập tối
Ôm cây tùng đứng mải mê.
Vềđi thôi hề!
Không mong giao du với ai
Ta và đời nhiều tương phản
Chẳng làm gì được nữa rồi.
Họ hàng thân thương đàm thoại
Tiêu sầu đàn sách vui chơi
Nông dân thông báo xuân vừa tới
Mùa cấy cày sắp đến nơi.
Hoặc vời xe lại
Hoặc thả thuyền bơi
Tìm nơi thâm sâu khe đá
Hay chốn gập ghềnh núi đồi
Trong veo suối nguồn nước chảy
Thanh thanh cây cỏ xinh tươi
Muôn loài gặp thời thuận lợi
Sinh, làm, hưu hề cảm hoài.
Ôi vậy sao!
Hình hài này sống gởi bao lâu?
Sao không lui tới bất kỳđâu?
Sao không nhàn hạ còn đi nữa?
Phú quí không thèm lựa
Thiên đường chẳng cầu mong.
Sáng đẹp một mình tản bộ
Khuôn viên cây cỏ vun trồng
Trèo lên đồi cao ca hát
Vịnh thơ bên dòng nước trong
Thuận tử sinh về cõi diệt
Vui theo thiên mệnh há ngại ngùng?

Lời bàn của ConCò:
Bài thơ này là một kiệt tác. Tác gỉa dùng 46 giới từ (những từ vô nghĩa, chỉ̀ giúp cho âm hưởng của câu thơ): dĩ, nhi, hà, chi, hề,ư; bài dịch dùng11 chữ hề (một giới từ rất thông dụng trong thơ Việt), giữ nguyên thểcổ phong và số chữ trong câu để dễ mượn cái âm hưởng của bài thơ.Ý của từng câu được tôn trọng. Ngôn từ được lựa chọn tương ứng với ngôn từ của nguyên bản. Một vàì từ giữ nguyên không dịch̀ vì nó đã được Việt hóa ( thí dụ: thiên mệnh đáng lẽ nên dịch là mệnh trời, đồng bộc đáng lẽ nên dịch là đầy tớ trẻ) cũng vì âm hưởng của câu thơ.

ĐÀO TIỀM
Đào Tiềm làm rất ít thơ và chỉ có bài Quy Khứ Lai Từ được xếp vào hàng bất hủ.Nó xiêu việt đến độ ba chữ “quy khứ lai” (về đi thôi) thường xuất hiện trên bờ môi đầu lưỡi của những đại thi hào Trung quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ và trở thành châm ngôn của Tàu và Việt.
Đào Tiềm (365-427),tự Uyên Minh, thi hào đời Tấn (Lục Triều) nguyên quán nay thuộc tỉnh Giang Tây.So sánh thời đại:Lý Bạch (701-762),Đỗ Phủ (712-770), Thịnh Đường. Bạch Cư Dị (772-846) Trung&Vãn Đường

QUI KHỨ LAI TỪ

Qui khứ lai hề!
Điền viên tương vu hồ bất qui?
Ký tự dĩ tâm vi hình dịch
Hề trù trướng nhi độc bi?
Ngộ dĩ vãng chi bất gián
Tri lai giả chi khả truy
Thực mê đồ kỳ vị viễn
Giác kim thị nhi tạc phi
Châu dao dao dĩ khinh dương
Phong phiêu phiêu nhi xuy y
Vấn chinh phu dĩ tiền lộ
Hận thần quang chi hy vi
Nãi chiêm hành vũ
Tải hân tải bôn
Đồng bộc hoan nghênh
Trĩ tử hầu môn
Tam kính tựu hoang
Tùng cúc do tồn
Huề ấu nhập thất
Hữu tửu doanh tôn
Dẫn hồ trường dĩ tự chước
Miến đình kha dĩ di nhan
Y nam song dĩ ký ngạo
Thầm dung tất chi dị an
Viên nhật thiệp dĩ thành thú
Môn tuy thiết nhi thường quan
Sách phù lão dĩ lưu khế
Thời kiều thủ nhi hà quan
Vân vô tâm dĩ xuất tụ
Điểu quyện phi nhi tri hoàn
Cảnh ế dĩ tương nhập
Phủ cô tùng nhi bàn hoàn
Qui khứ lai hề!
Thỉnh tức giao dĩ tuyệt du
Thế dữ ngãnhi tương vi
Phục giá ngôn hề an cầu?
Duyệt thân thích chi tình thoại
Lạc cầm thư dĩ tiêu ưu
Nông nhân cáo dư dĩ xuân cập
Tương hữu sự ư tây trù
Hoặc mệnh cân xa
Hoặc trạo cô châu
Ký yểu điệu dĩ tầm hác
Diệc kỳ khu nhi kinh khâu
Mộc hân hân dĩ hướng vinh
Toàn quyên quyên nhi thủy lưu
Thiện vạn vật chi đắc thời
Cảm ngô sanh chi hành hưu
Dĩ hĩ hồ!
Ngụ hình vũ nội phục kỷ thì?
Hạt bất uỷ tâm nhậm khứ lưu
Hồvi hoàng hoàng dục hà chi?
Phúqúi phi ngô nguyện
Đế hương bất khả kỳ
Hoài lương thần dĩ cô vãng
Hoặc thực trượng nhivân ti
Đăng đông cao dĩ thư khiếu
Lâm thanh lưu dĩ phú thi
Liêu thừa hóa dĩ qui tận
Lạc phù thiên mệnh phục hề nghi?

Chú giải:
Tác giả dùng 46 giới tự: dĩ, nhi, hà, chi, hề,ư. Bài dịch dùng 11 chữ hề. Khứ lai:đi và lại. Từ: lời văn, bài ca. Tương: sắp, sẽ. Vu: bỏ hoang. Hồ: sao? chẳng? Ký:đã xong. Tự: tự thân mình. Dĩ: lấy, dùng. Vi: làm. Hình: hình thể, cái hiện ra ngoài. Dịch: sai làm việc (phục dịch). Trù trướng: buồn rầu. Nhi: mà, lời nói chuyển sang ý khác. Ngộ: thấu hiểu. Gián: can gián. Giả: học giả. Truy:đuổi theo, kịp. Giác: biết, giác ngộ. Thị: phải,(trái với phi). Tạc: hôm qua. Dao: lay động. Khinh: nhẹ.(ngược với trọng). Dương: gió bay tốc lên. Phiêu phiêu: gió thổi nhẹ. Xuy: gió thổi. Hy: tang tảng sáng. Vi: nhỏ. Nãi: trợ từ. Chiêm: xem, ngẩng mặt lên mà nhìn. Vũ: mái nhà. Tải: chở. Đồng bộc: gia nhân,đầy tớ. Trĩ tử: con trẻ. Hầu: chờ chực. Kính: lối tắt. Tựu: sự đã nên. Hoang: ruộng bỏ hoang. Do: giống như, còn. Tồn: còn (ngược với vong). Doanh:đầy đủ. Tôn: chén uống rượu. Dẫn: dương cung lên, dẫn đến. Hồ: bình đựng rượu. Miến: trông, liếc. Đình: sân trước. Kha: cành cây. Di: vui vẻ, dễ dàng. Y=Ỷ: dựa vào. Song: cửa sổ. Dung: tiếp nhận bao bọc. Tất:đầu gối. Dung tất: nhà chật hẹp. Viên: vườn hoa. Thiệp: lội qua nước, trải qua. Thiết:đặt bày ra. Quan:đóng cửa. Sách: kế sách. Phù: cây gậy. Lưu: nước chẩy, chuyển động. Khế: nghỉ ngơi. Thời: thường. Kiều thủ: ngẩng đầu lên nhìn. Hà: xa, hà phương. Quan: quan sát. Tụ: hang, khe núi. Quyện: mỏi mệt. Ế ế: trời âm u. Phủ: vỗ về. Bàn hoàn: không dứt ra được. Thỉnh: cầu mong. Tức: thôi, nghỉ. Dữ: cùng với. Vi: lìa ra, trái ngược. Phục:đáp lại, lại lần nữa. Giá: tiến hành. Ngô: tôi. An: ở đó, há, sao, vậy…trợ từ dùng dứt câu. Duyệt: hài lòng. Thoại: nói chuyện. Dư: ta. Ư: ở, chưng, trợ từ. Trù:ruộng cấy lúa. Mệnh: sai bảo. Cân: khăn tay đội đầu. Cân xa: xe có mui. Trạo châu: chèo thuyền.Yểu điệu: sâu thẳm. Hác: khe nước ở chân núi. Diệc: cũng, cũng theo. Kỳ khu: đường khấp khểnh. Kinhkhâu: gò đất. Hân hân: vui vẻ. Vinh: cây cỏ tốt tươi. Toàn: suối, nguồn nước. Quyên quyên: dòng nước nhỏ trong sạch. Thủy: mới, bắt đầu. Cảm: cảm khái. Ngô=ngã: ta. Sanh. Hành, hưu: lúc sinh ra, làm việc và nghỉ hưu. Ngụ: nhờ, ở đậu. Vũ nội: vũ trụ. Năng: tài năng. Kỷ: bao nhiêu. Hạt: sao? chẳng? Ủy: uỷ thác. Nhậm: gánh vác. Hoàng: nghỉ thư nhàn. Dục: muốn. Hà chi: đi đâu? Đế hương: quê nhà Trời, thiên đường. Kỳ: trông mong. Hoài: nhớ trong lòng. Lương: tốt lành. Thần: buổi sáng sớm. Vãng: đã qua. Thực: trồng cây, cắm. Trượng: cây gậy. Đăng: trèo lên cao. Thư: thư dãn, nhàn. Khiếu: kêu, hát to. Thanh lư: dòng nước trong. Liêu: hãy. Thừa: cỡi xe. Hóa: thay đổi tự nhiên. Thừa hóa dĩ quy tận: nhân cái chết đến do luật tạo hóa. Phù: giúp. Nghi: ngờ.

More Stories...