Thời Báo Vietnamese Newspaper

Quanh hai giải Nobel Văn học và Hòa bình 2019

Buổi sáng thứ Hai 14 tháng 10, Viện Hàn lâm Thụy điển đã công bố giải của Ngân hàng trung ương Thụy điển Sveriges Riksbank về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel 2019 cho Abhijit Banerjee, Esther Duflo và Michael Kremer. Hai Giáo sư Abhijit Banerjee – người gốc Ấn, và Esther Duflo – người gốc Pháp, đều thuộc Viện Kỹ thuật Massachusetts Institute of Technology (MIT), Hoa kỳ. Giáo sư Michael Kremer – người Mỹ của Đại học Harvard. Theo Ủy ban Nobel. ba nhà khoa học kinh tế được giải nhờ biện pháp thử nghiệm của họ nhằm giúp giảm nghèo toàn cầu và có tiềm năng lớn để cải thiện hơn nữa cuộc sống của những người nghèo nhất hành tinh này.
Như thế, tất cả các giải Nobel năm 2019 đã có chủ.
Năm nay, số khôi nguyên Nobel thật đông đảo vì có đến 12 nhân vật chia nhau 4 giải thưởng và một giải thưởng được trao bù. Tổng số các khôi nguyên đã lên đến 15 người.
Giải Nobel Y học được công bố đầu tiên, hôm thứ Hai 7 tháng 10, được trao cho 3 nhà khoa học nghiên cứu về dưỡng khí (oxygen): Hai bác sĩ người Mỹ, Gregg L. Semenza và William G. Kaelin, Jr., cùng Sir Peter J. Ratckiffe, một bác sĩ người Anh. Giải thưởng được trao cho họ vì “những khám phá của họ về cách các tế bào cảm nhận và thích nghi với lượng oxy có trong không khí.”
Giải Nobel Vật lý được công bố hôm 8 tháng 10 vinh danh 3 nhà khoa học nghiên cứu về không gian về ì những “đóng góp vào sự hiểu biết về sự tiến hóa của vũ trụ và vị trí của Trái Đất trong vũ trụ”. Jim Peebles, nhà khoa học gốc Canada, giáo sư Đại học Princeton được nửa giải “cho những khám phá lý thuyết trong vũ trụ học vật lý.” của ông. Hai nhà vật lý Michel Mayor (Thụy Sĩ) và Didier Queloz, là giáo sư tại Đại học Geneva và Đại học Cambridge (Anh) chia nhau nửa giải còn lại về “khám phá một ngoại hành tinh quay quanh một ngôi sao kiểu mặt trời.”
Trong số ba nhà khoa học được chọn trao giải Nobel Hóa học, có người lớn tuổi nhất trong số các khôi nguyên Nobel từ trước đến nay. Giáo sư John Goodenough (người Mỹ) năm nay 97 tuổi, chia giải Hóa học với Giáo sư người Nhật Akira Yoshino và Giáo sư Stanley Whittingham – người Anh. Họ được giải nhờ những công trình phát triển và cải tiến pin litium-ion, “tạo ra một thế giới nạp lại được.”
Tuy nhiên, hai giải Nobel Văn học và Hòa bình có nhiều bàn tán nhất.
Hôm 10 tháng 10, có đến 2 giải Nobel Văn học được công bố. Một giải cho năm 2019 và một là giải “trao bù” cho năm 2018, năm Hàn lâm viện Thụy điển vướng vào một vụ tai tiếng tình dục liên quan đến ông chồng của một nhân vật cao cấp của Viện này.
Giải Nobel Văn học năm 2019 về tay nhà văn, kịch tác gia Peter Handke, người Áo và nữ văn sĩ, thi sĩ Olga Tokarczuk người Ba lan được giải trao bù 2018.
Trong khi việc chọn bà Olga Tokarczuk được tán thưởng, việc chọn ông Peter Handke đã lập tức khơi dậy những đợt sóng phản đối, chỉ trích mạnh mẽ.

Chọn trao giải Nobel cho người từng kêu gọi xóa bỏ giải Nobel
Theo Viện hàn lâm Thụy Điển, ông Peter Handke đã giành giải Nobel vì “một tác phẩm có ảnh hưởng qua đó sự điêu luyện về ngôn từ đã khám phá các khía cạnh bên ngoài và các đặc thù bên trong của trải nghiệm làm người.”
Trong lúc đó, Đại sứ Kosovo tại Hoa Kỳ, bà Vlora Citaku, đã viết trên Twitter rằng giải thưởng là một “quyết định tai tiếng”, thêm rằng “không nên vinh danh những kẻ phủ nhận nạn diệt chủng và biện hộ cho Milošević.”
Nhà văn, kịch tác gia, dịch giả Peter Handke, người Áo, là một nhân vật nổi tiếng và tai tiếng trong giới văn học Âu châu và thế giới.
Handke, sinh năm 1942, từ lâu đã là một nhân vật thu hút sự chỉ trích vì những quan điểm không giống ai của ông về cuộc chiến ở Nam Tư trong thập niên 1990 và vì mối quan hệ thân thiết với Slobodan Milošević. Ông là người bênh vực lớn tiếng nhất cho cựu Tổng thống Nam tư, người đã bị kết án về các cáo buộc diệt chủng, tội ác chống loài người và tội phạm chiến tranh trong các cuộc xung đột đẫm máu ở Bosnia, Croatia và Kosovo.
Nguồn gốc Croatia của Handke (có mẹ là người Slovenia) đã tạo cho ông ta sự nhiệt thành với chủ nghĩa dân tộc. Trong cuộc chiến ở miền Balkan, Handke đã công khai tuyên bố rằng người Hồi giáo Sarajevo đã tự tàn sát để đổ tội cho người Serb, và phủ nhận màn diệt chủng ở Srebrenica.
Năm 2006, Handke đã tham dự đám tang của Slobodan Milošević và đọc diễn văn tại đó.
Cách đây 20 năm, nhà văn Anh Salman Rushdie đã đề cử Peter Handke làm người về nhì danh hiệu “Thằng ngốc quốc tế năm 1999” trên tờ The Guardian, vì đã đưa ra “một loạt lời biện hộ say sưa cho chế độ diệt chủng của Slobodan Milošević”. (Người đoạt giải này năm đó là nam tài tử Charlton Heston, về nỗ lực vận động hành lang cho súng đạn.)
Khi được tin Handke đoạt giải Nobel Văn học năm nay, Rusdie tuyên bố: “Tôi không có gì để thêm thắt nữa, tôi giữ nguyên những gì tôi đã viết.”
Năm 2014, trên tờ Die Press của Áo, Peter Handke từng kêu gọi xóa bỏ giải Nobel, gọi đó là “một màn phong thánh giả mạo”, chỉ mang lại cho những người chiến thắng “một khoảnh khắc được chú ý, sáu trang bài viết chân dung trên báo giấy”.
Slavojižek, nhà triết học người Slovenia nhận định: “Thụy Điển ngày nay là thế đấy: một kẻ biện hộ cho các tội ác chiến tranh nhận được giải thưởng Nobel trong khi đất nước này tham gia đầy đủ vào vụ bôi nhọ người hùng thực sự của thời đại chúng ta, Julian Assange. Đáp ứng nên có của chúng ta là: không trao giải Nobel văn học cho Handke mà trao giải Nobel hòa bình cho Assange.”
Trong một tuyên bố đưa ra hôm thứ Năm, tiểu thuyết gia Jennifer Egan, chủ tịch của tổ chức văn học và nhân quyền Pen America, nói rằng trong khi Pen “không bình luận về các giải thưởng văn học của các tổ chức khác thì … thông báo hôm nay phải là một ngoại lệ.
Chúng tôi chết lặng khi lựa chọn một nhà văn đã sử dụng tiếng nói công khai của mình để cắt xén sự thật lịch sử và đưa ra sự hỗ trợ công khai cho các thủ phạm diệt chủng, như cựu Tổng thống Serbia Slobodan Milosevic và lãnh đạo người Serb Bosnian Radovan Karadzic. Chúng tôi bác bỏ quyết định rằng một nhà văn đã liên tục đặt câu hỏi về các tội ác chiến tranh đã được ghi nhận đầy đủ lại đáng được tôn vinh vì ‘sự điêu luyện về ngôn ngữ’. Ở thời điểm mà chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy, sự lãnh đạo độc đoán và sự lan tràn của thông tin sai lạc trên toàn thế giới, cộng đồng văn học xứng đáng (được một điều) tốt hơn thế này. Chúng tôi vô cùng hối tiếc về sự lựa chọn của Ủy ban Nobel Văn học.”
Miha Mazzini, một tác giả người Sovania nói rằng một số nghệ sĩ bán linh hồn cho các ý thức hệ, một số cho thù hận, một số cho tiền tài và quyền lực “nhưng người xúc phạm tôi nhất là Handke với sự ngây thơ của ông ta đối với chế độ Milošević.”
Rất nhiều người đã từng tiếc rẻ cho Peter Handke khi thấy quan điểm chính trị của ông. Ông là một nhà văn có thực tài và thực tài đã được công nhận.
Tiểu thuyết gia, nhà báo người Anh Hari Kunzru, người đã dùng các tác phẩm của Handke để dạy cho các sinh viên của mình, nhận định rằng việc chọn Handke “là một lựa chọn gây rắc rối cho một ủy ban Nobel đang cố gắng đưa giải thưởng đi đúng đường sau các vụ bê bối gần đây. Ông là một nhà văn có tài, người kết hợp sự sáng suốt tuyệt vời với sự mù quáng đạo đức đáng ngạc nhiên.”
Kunzru tin rằng “Handke đã giành được giải Nobel từ lâu nếu ông ta đã không quyết định làm tuyên truyền viên cho chế độ diệt chủng Milošević. Hơn bao giờ hết chúng ta cần những nhà trí thức được công chúng lắng nghe là những người có khả năng mạnh mẽ bảo vệ nhân quyền trước sự thờ ơ và cay độc của các nhà lãnh đạo chính trị. (Nhưng) Handke không phải là một người như vậy.”
Năm 2008, tiểu thuyết gia Jonathan Littell đã nhận xét: “Hắn có thể là một nghệ sĩ tuyệt vời, nhưng khi là một con người, hắn là kẻ thù của tôi,… hắn ta là một tên khốn nạn.” Alain Finkielkraut gọi Handle là một “quái vật ý thức hệ”, trong khi triết gia, nhà văn và nhà làm phim Susan Sontag, người đã ở Sarajevo nhiều tháng trong khi cuộc chiến tranh Bosnia diễn ra để giàn dựng một màn trình diễn vở kịch “Trong khi chờ Godot”, nói rằng những phát ngôn của Handke đã làm cho ông ta mất hết bạn bè ở New York.
Mats Malm, thư ký thường trực của Hàn lâm viện Thụy Điển, nói với tờ New York Times rằng ủy ban đã quyết định trên một cơ sở văn học và thẩm mỹ và “Hàn lâm viện không có nhiệm vụ để cân bằng phẩm chất văn học với các quan điểm chính trị.”
Peter Handke sinh năm 1942 ở miền Nam nước Áo, bắt đầu viết năm 1961 trong khi học luật ở Graz.
Tên tuổi của Hanke nổi lên trên văn đàn sau khi quyển tiểu thuyết đầu tay Die Hornissen (The Hornets) được xuất bản năm 1965.
Tác phẩm được nhiều người biết đến nhất của Peter Handke là quyển A Sorrow Beyond Dreams, xuất bản năm 1975, viết về cuộc đời của bà mẹ, sau cái chết của bà năm 1971
Peter Handke có một gia tài khá đồ sộ gồm nhiều tiểu thuyết, kịch bản phim, kịch sân khấu và các bài nghiên cứu. Nhiều tác phẩm đã được dịch sang tiếng Anh và xuất bản ở Hoa kỳ.
Trong lãnh vực điện ảnh, Handke từng đạo diễn phim Die linkshändige Frau (The Left–Handed Woman), phát hành năm 1978. Cuốn phim này đã được đề cử giải Cành cọ vàng tại Đại hội điện ảnh Cannes năm đó và đoạt giải Gold Award for German Arthouse Cinema năm 1980. Handke cũng đã giành giải German Film Award in Gold năm 1975 với kịch bản phim Falsche Bewegung (The Wrong Move) mà ông viết. Năm 1987 Handke hợp tác với đạo diễn Wim Wender viết kịch bản cho cuốn phim Der Himmel über Berlin (Wings of Desire).
Từ năm 1975, Handke là thành viên ban giám khảo của giải thưởng văn học châu Âu Petrarca-Preis.
Một phần đời của Handke đã được đạo diễn Corinna Belz đưa lên phim. Cuốn phim tài liệu Peter Handke: In the Woods, Might Be Late quay trong 3 năm tại nhà của ông ở Chaville (Pháp) và được chiếu năm 2016.
Peter Handke đã đoạt nhiều giải thưởng văn học và kịch nghệ, trong đó có các giải American Award, Thomas Mann Preis, Franz Kafka Prize, International Ibsen Award.
Ông được hai viện đại học Klagenfurt và Salzburg trao tặng bằng Tiến sĩ Danh dự.
Năm ngoái 2018, Peter Hanke được trao giải kịch nghệ Nestroy Theatre của thành phố Vienna về thành tựu trọn đời.
Dĩ nhiên cũng có một số người hài lòng với chiến thắng của Handke: đông đảo nhất là giới truyền thông Serbia, họ gọi Handke là “người bạn tuyệt vời”, trong khi tổng thống Áo Alexander Van der Bellen gọi tiếng nói của Handke là “không khó tính và độc đáo… Chúng ta có nhiều thứ phải cảm ơn Peter Handke . Tôi hy vọng ông ta biết điều đó.”

Nobel Hòa bình: Abyi Ahmed, Thủ tướng Ethiopia
Ở giải Nobel Hòa bình, tuy không phải là một bất ngờ, nhưng không khỏi là một nỗi thất vọng cho khá nhiều người trên thế giới.
Đa số những người thất vọng là hàng triệu người đã ủng hộ nhà hoạt động vì môi trường trẻ tuổi Greta Thunberg.
Theo Viện Nobel, giải thưởng năm nay có 301 đề cử, gồm 223 cá nhân và 78 tổ chức. Tuy danh sách đề cử chính thức vẫn còn là một bí mật, toàn bộ danh sách chỉ được công bố sau 50 năm, nhưng điều đó đã không ngăn chặn được rất nhiều suy đoán về người đang được đề cử..
Hầu như đa số tiên đoán đều thiên về Greta Thunberg, cô bé 16 tuổi một mình đánh thức thế giới, và cũng đang không trực tiếp thì gián tiếp đang gây ra nhiều rắc rối cho chính phủ các nước trong thời gian gần đây với những cuộc phản kháng quá đáng của những người quá khích trong nhánh quá khích của phong trào là Extinction Rebellion.
Nếu được giải, cô sẽ là ngưởi trẻ nhất lịch sử giải Nobel Hòa bình, qua mặt khôi nguyên hòa bình năm 2014, cô Malala Yousafzai. Malala được giải khi cô 17 tuổi.
Tháng 8 năm 2018, khi mới 15 tuổi, cô bắt đầu cuộc bãi khóa bên ngoài Quốc hội Thụy Điển vào. Chưa đầy một năm sau, ước tính bốn triệu người, từ Thái Lan đến Afghanistan đến Haiti, đã tham gia vào cuộc đình công xuống đường trên thế giới ngày 20 tháng 9, 2019, rất đông trong số đó là học sinh, sinh viên. Ba ngày sau, Thunberg đã có một bài phát biểu đầy xúc động tại Hội nghị thượng đỉnh về hành động khí hậu, tại đó nơi cô lên án các nhà lãnh đạo thế giới vì họ không hành động trong việc ngăn chặn biến đổi khí hậu.
Một dấu hiệu báo trước việc Greta sẽ không được giải năm nay là nhận định của phía bảo thủ, cho rằng chiến thắng của cô sẽ gây nhiều tranh cãi. Một số người đã coi sự can đảm và sức thúc đẩy của Greta để kết tội các nhà lãnh đạo thế giới là quá cứng, gây chia rẽ và không có lợi. Thông tấn Reuteurs tiết lộ Sverre Lodgaard, người từng là một thành viên của ủy ban giải Nobel từ năm 2003 đến 2011 nói rằng “Vấn đề là ở chỗ làm xấu hổ/nhục mạ những người sử dụng máy bay (flight shame) đã làm giảm đi mức độ thắng giải của cô ấy. Xấu hổ không phải là một cảm giác tích cực để mang lại sự thay đổi.”
Ngoài Greta Thunberg, một ứng viên nặng ký khác của giải Nobel Hòa bình năm 2019 là bà Jacinda Arden, Thủ tướng Tân tây lan, người được coi là biểu tượng của sự đồng cảm, cứng rắn và sức mạnh khi đối mặt với những sự kiện bi thảm.
Sau vụ tấn công hồi tháng 3 năm nay khiến 51 người thiệt mạng và hàng chục người bị thương ở thành phố Christchurch, bà Arden đã phản ứng nhanh chóng. Chưa đầy một tháng sau các cuộc tấn công, quốc hội New Zealand đã thông qua luật về kiểm soát súng, đặt ra ngoài vòng pháp luật hầu hết các vũ khí tự động và bán tự động cũng như các thành phần sửa đổi vũ khí hiện có. Bà Arden, nữ thủ tướng trẻ nhất thế giới, 38 tuổi, cũng đã lên tiếng quyết tâm không cho tên sát nhân có cơ hội để cổ động cho quan điểm da trắng thượng đẳng của hắn qua câu nói nổi tiếng: “Quý vị sẽ không bao giờ nghe tôi nhắc đến tên hắn.”
Nếu được giải, bà Arden sẽ là người Tân tây lan đầu tiên đoạt giải Nobel Hòa bình.
Ứng viên sáng giá thứ ba cho giải là Raoni Metuktire, một tù trưởng người bản địa ở Ba tây. Ông Metuktire, năm nay 89 tuổi, đã dành trọn cuộc đời của ông để bảo vệ rừng nhiệt đới Amazon. Ông vừa tham dự hội nghị G7 hồi tháng 8 để thảo luận về việc bảo vệ rừng sau vụ cháy rừng khổng lồ tiêu hủy một diện tích khổng lồ của lá phổi thế giới Amazon. Ông Metuktire đã chỉ trích nặng nề Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro và việc khai thác Amazon. Theo hình ảnh vệ tinh, từ khi ông Bolsonao nhậm chức – đầu năm 2019, đến nay, tỷ lệ phá rừng đã tăng vọt lên tới 92%.
Bên cạnh ba nhân vật đầy triển vọng đó là các tổ chức quốc tế tên tuổi: Reporters Sans Frontiers (RSF – Phóng viên Không Biên giới) và U.N. High Commissioner for Refugees (UNHCR – Cao ủy Tỵ nạn LHQ).
Ủy ban Nobel Hòa bình hôm 11 tháng 9 đã công bố giải thưởng về tay ông Abyi Ahmed, Thủ tướng Cộng hòa Ethiopia, nhân vật được Công ty đánh cá thể thao khổng lồ của thế giới Ladbrookes trụ sở ở Anh quốc cho tỷ lệ thắng 4/1.
Henrik Urdal, người đứng đầu Viện nghiên cứu Hòa bình của thành phố Oslo, đã giải thích quyết định của mỉnh về việc không đưa tên Greta Thunberg vào danh sách ngắn – các ứng viên đầy triển vọng, mà ông công bố: “Không có sự đồng thuận khoa học rằng có tương quan rõ ràng, trực tiếp giữa biến đổi khí hậu – hay rộng hơn, sự khan hiếm tài nguyên, – và xung đột võ trang.”
Trước đây, giải thưởng này đã từng được trao cho các nhà hoạt động vì môi trường. Năm 2007, Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và cựu Phó tổng thống Al Gore đã đoạt giải “vì những nỗ lực để xây dựng và phổ biến sự hiểu biết rộng lớn hơn về biến đổi khí hậu do con người tạo ra, và đặt nền móng cho các biện pháp cần thiết để chống lại sự thay đổi như vậy.” Năm 2004, bà Wangari Maathai được giải “vì sự đóng góp của bà cho sự phát triển bền vững, dân chủ và hòa bình.” Năm 1970, giải về tay Norman Borlaug, người được gọi là “cha đẻ của cuộc cách mạng xanh.”
Nhưng Urdal nói rằng những lựa chọn như vậy bây giờ sẽ ít xảy ra hơn, vì ủy ban Nobel đã cố đi sát hơn với các mong muốn ban đầu của ông Alfred Nobel.
Trong di chúc phác thảo giải thưởng, Nobel đã viết rằng người nhận nên là người đã thúc đẩy “việc bãi bỏ hoặc giảm thiểu các quân đội thường trực” – mà một số người đã giải thích là có mối liên hệ trực tiếp với hòa bình và xung đột.
Urdal nói, “Nếu ta mở rộng quá, giải sẽ trở nên hơi vô nghĩa.”
Cũng có thể là Greta Thunberg không gặp may. Ngay sau thời hạn đề cử vào cuối tháng Một mỗi năm, Ủy ban Bobel Hòa bình đã rút ra một shortlist các ứng cử viên đáng chú ý và xứng đáng nhất. Nhưng một số khoảnh khắc gây nhiều ấn tượng trong các hoạt động của Thunberg – như các cuộc đình công xuống đường vì khí hậu toàn thế giới, chuyến vượt Đại Tây Dương bằng thuyền buồm, bài phát biểu tại Liên hiệp quốc của cô – đã diễn ra trễ tràng vào những tháng cuối năm.
Ông Abyi Admed đã được trao giải nhờ những nỗ lực để «đạt được hòa bình và hợp tác quốc tế».
Thỏa thuận hòa bình của ông với lân bang thù địch Eritrea đã kết thúc cuộc đối đầu kéo dài 20 năm giữa hai nước từ sau cuộc chiến tranh biên giới 1998-2000.
Ông là người đoạt giải thứ 100 trong lịch sử giải Nobel Hòa bình.
Ủy ban Nobel Hòa Bình nhận định: “Hòa bình không phát sinh từ hành động của một bên. Khi Thủ tướng Abiy chìa bàn tay, Tổng thống Afwerki nắm lấy nó và giúp chính thức hóa tiến trình hòa bình giữa hai nước. Ủy ban Nobel hy vọng thỏa thuận hòa bình sẽ giúp mang lại sự thay đổi tích cực cho toàn thể dân chúng hai nước Ethiopia và Eritrea. “
Ủy ban này cũng cho hay từ sau thỏa thuận Eritrea, ông Abiy – người đứng đầu chính phủ trẻ nhất ở châu Phi – cũng đã tham gia vào các tiến trình hòa bình ở các nước châu Phi khác, bao gồm việc giúp môi giới một thỏa thuận giữa các nhà lãnh đạo quân sự của Sudan và phe đối lập dân sự sau nhiều tháng phản đối.
Chiến tranh giữa hai nước bắt đầu từ cuộc tranh chấp biên giới năm 1998, năm năm sau khi Eritrea giành được độc lập từ Ethiopia. Có ít nhất 70.000 người đã thiệt mạng trước khi hai bên ký thỏa thuận hòa bình vào tháng 12 năm 2000 – nhưng căng thẳng vẫn ở mức cao vì Ethiopia từ chối chấp nhận biên giới.
Khi nhậm chức vào tháng 4 năm 2018, ông Ahmed đã trả tự do cho các tù nhân chính trị và tiếp tục ký một thỏa thuận hòa bình với Thủ tướng Isaias Afwerki của Eritrea, xác nhận Ethiopia sẽ chấp nhận biên giới và sẽ trao trả các vùng đất tranh chấp. Kể từ khi nắm quyền, Ahmed cũng đã phát huy vai trò của nữ giới trong chính trị – ông bổ nhiệm phụ nữ vào một nửa trong số 20 ghế bộ trưởng của chính phủ, trong đó có cả nữ bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của Ethiopia.
Việc trao giải cho Abyi Amed không tạo ra tranh cãi, nhưng cuộc đời và quá trình của ông Abyi Admed có thể làm cho nhiều người dị ứng với các nhân vật có ít nhiều dính dấp với tả phái và nhiều thay đổi về lập trường không vui.
Ông Ahmed ra đời ở Ethiopia năm 1976, có cha là người Hồi giáo và mẹ theo đạo Thiên chúa.
Ông có nhiều bằng cấp, bao gồm bằng tiến sĩ về các vấn đề hòa bình và an ninh và bằng Cao học về lãnh đạo chuyển đổi (transformational leadership).
Ngay từ tuổi thiếu niên, Ahmed đã tham gia cuộc đấu tranh võ trang chống lại chế độ Derg, chính quyền quân sự Cộng sản cai trị Ethiopia từ 1974 đến 1987.
Sau đó, ông trở thành một người bảo vệ hòa bình của Liên Hiệp Quốc ở Rwanda.
Trong cuộc tranh chấp biên giới năm 1998-2000 với Eritrea, Ahmed đã từng chỉ huy một đội gián điệp trong một sứ mạng trinh sát vào các khu vực do Lực lượng phòng vệ Eritrea nắm giữ.
Ahmed bước vào chính trị vào năm 2010, trở thành thành viên của Tổ chức Dân chủ Nhân dân Oromo, rồi được bầu vào quốc hội.
Trong thời gian Ahmed làm dân biểu cũng là giai đoạn có các cuộc xung đột giữa người Hồi giáo và Cơ đốc giáo ở Ethiopia. Ông đã nghĩ ra một giải pháp lâu dài cho vấn đề bằng cách thiết lập một “Diễn đàn tôn giáo vì hòa bình”.
Khi công bố giải thưởng tại Oslo, Berit Reiss-Andersen, chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy, lưu ý rằng bất chấp cải cách của Abiy, vẫn còn nhiều điều cần phải được thực hiện ở đất nước Ethiopia.
Những cuộc xung đột sắc tộc đã bùng lên ở Ethiopia trong những năm gần đây, dẫn đến gần ba triệu người lưu lạc trong đất nước bên cạnh hàng triệu người tỵ nạn và tầm trú từ các quốc gia láng giềng sống bên trong Ethiopia.
Thỏa thuận hòa bình được ký kết cách đây hơn một năm giữa Abiy và nhà độc tài lãnh đạo phiến quân lâu năm, Tổng thống Eritrea Isaias Afwerki, đã dần kết nối hai quốc gia. Những cải thiện về mặt nhân quyền của Eritrea rất hạn chế. Nhưng khi quan hệ ngoại giao giữa Ethiopia và Eritrea được đổi mới và sâu sắc hơn, thỏa thuận này đã được nhiều người coi là một thí dụ về phương cách để đạt được hòa bình và hợp tác, cả với một cuộc chiến tranh đã kéo dài hai mươi năm.
Bà Berit Reiss-Andersen thừa nhận rằng mặc dù những nỗ lực của Abiy Ahmed “xứng đáng được công nhận và cần được khuyến khích”, vẫn sẽ có “một số người nghĩ rằng giải thưởng năm nay đã được trao quá sớm” và Ủy ban Nobel Na Uy hy vọng giải thưởng có thể giúp Thủ tướng Ahmed vững mạnh hơn trong công việc quan trọng của ông.”
Đỗ Quân (tổng hợp)

Comments are closed.