Phan Chu Trinh: Dân trị chủ nghĩa

Hoàng Yên Lưu
Chí sĩ Phan Chu Trinh (1872-1926) từ Pháp về Việt Nam vào năm 1925, sau hàng chục năm xa nước. Ở Pháp, từ 1911, sống với hình thức bị trục xuất, cụ đã hòa mình vào sinh hoạt của giới bình dân và không lúc nào nguôi tìm đường giải phóng dân tộc khỏi vòng lệ thuộc, nghèo túng và lạc hậu. Cụ đã nghiên cứu, học hỏi và tìm ra ra bài thuốc chữa bệnh nan y cho dân tộc. Đó là phương thuốc dân chủ mà các nước Âu Tây nhờ đó đã trở thành liệt cường. Cụ tin rằng “dân trị chủ nghĩa” như thần dược có thể thúc đẩy non sông, dân tộc chuyển mình, một hoài bão mà cụ đã ấp ủ từ đầu thế kỷ 20 trong bài Tỉnh quốc hồn ca:

Ngồi mà nghĩ dư đồ Hồng Lạc
Ta cũng là một nước Á Đông.
Xưa nay vẫn có anh hùng
Dọc ngang trời đất, vẫy vùng non sông.
Hai mươi triệu sĩ, nông, công, cổ
Bốn mươi muôn quốc thổ dặm vuông.
Người nhiều đất rộng rõ ràng,
Thế mà nghĩ lại, lại càng tủi thương.
Kể sao xiết trăm đường cay đắng,
Bởi vì ai gây dựng cho nên?

Năm 1925, mặc dầu thân thể suy nhược vì bệnh hoạn và nghèo túng, Phan Chu Trinh vẫn cố gắng đăng đàn diễn thuyết, hô hào thức giả tán thành chủ nghĩa dân trị và bãi bỏ quan niệm lạc hậu do Quân trị chủ nghĩa sản sinh. Bài diễn thuyết Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa , nói chuyện trước cử tọa đông đảo ở Sài gòn vào năm 1925, là tâm sự, là lời đề tỉnh cuối cùng của một vĩ nhân trọn đời dâng hiến cho tổ quốc.

Gần một thế kỷ trôi qua (1925-2015), ngày nay dân số VN đã tăng lên gần 90 triệu, lời huyết lệ của cụ Tây Hồ vẫn còn giá trị và hậu thế lắng tay nghe.

Mặc dù ngày nay chế độ quân chủ ở thế giới chỉ còn hình thức, phong trào dân chủ trên thế giới như sóng thần cuốn đổ nhiều thành trì chuyên chế tưởng tồn tại thiên thu vạn đại. Tuy nhiên, quân chủ chủ nghĩa đổi dạng, trên bình diện quốc tế không thiếu chính khách cũng hô hào tự do, cũng tổ chức bầu cử, lập hiến pháp, cũng thiết lập phân quyền nhưng chỉ là hình thức. Thực sự họ đã áp dụng một chính sách độc tài cực kỳ tinh vi. Quyền hành có khi quy tụ vào tay một người, hoặc vài người, tệ nạn sùng bái cá nhân thêm nặng, dân bị trị trước thờ “độc thần” là ông vua, nay trở thành chủ nghĩa “đa thần” thờ “lãnh tụ” và giai cấp có quyền lực.
Ngoài ra, dân chủ và tự do đôi khi cũng bị liệt cường lợi dụng làm công cụ xâm lược. Chân giả khó phân, nên hậu thế không thể không phân biệt rõ ràng và hy vọng nhờ những lời tâm huyết của Phan Chu Trinh như ánh sáng soi đường, như lực thúc đẩy tìm tới “chân tự do, chân dân chủ.”

Hơn nữa, Việt nam thế kỷ 21 vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nạn tham nhũng và ngoại xâm đeo nặng tâm tư nên người dân Việt phải phản đối hình thức “quân trị chủ nghĩa dạng mới” và khát khao thứ “dân trị chủ nghĩa” đích thực mà Phan Châu Trinh đã ca tụng để tiếp tục chữa di căn của căn bệnh “quốc thổ trầm luân, dân tộc lụy.”
Sau đây là phần trích thuật từ diễn văn của Phan Tây hồ tiên sinh năm 1925:
“Nay khắp cả thế giới những nước nào đã theo kịp được một ít văn minh Châu Âu, hay là hiểu được một ít tư tưởng tự do, thì ai cũng hiểu được cái tiếng dân chủ là thế nào, hay là dân trị là thế nào.
Bên Âu châu có mấy nước quân chủ mặc lòng, nhưng nước nào cũng có đảng Dân chủ ở trong thượng, hạ nghị viện cả. Duy có nước ta thì như trong lục tỉnh này thuộc với Tây đã hơn sáu mươi năm, cái chữ “République” thì nói luôn trên miệng, nhưng mà chẳng tìm kiếm nghĩa lý như thế nào, so sánh với dân trị chính thể cũ của nước ta ra thế nào! Ấy là nói những người có ăn học, ý tôi xem hình như các Ngài đoán trước rằng có quân chủ là hơn. Còn nhất là dân nhà quê chẳng những là không biết dân chủ là gì, mà đối với vua thì thờ trên đầu như thờ Thần thờ Thánh; chẳng những không nghĩ đến sự “phải có hay là không” mà hình như có ai nghĩ đến việc đó thì phải bị sét đánh, đá dằn, voi chà, ngựa xé. Khi nào nghe nói bất luận là ông vua nào, nghe qua thì trong lòng đã vui mừng hớn hở, nghĩ là ông ấy chắc là mình trông cậy được, rất dở là mới đây việc Phan Xích Long còn xảy ra trong xứ này. Vậy mới biết rằng cái độc quân chủ vào óc dân ta sâu quá, mà cái trình độ của dân ta cũng thấp quá, chỉ có một người mà nói: “Mầy phải trung với người này phải kính với người này”, thì nó mới hiểu. Mà nếu cứ nói ra cái tên nước Việt Nam mà rằng: “Ấy là nước ông cha mầy, mầy phải thương”, thì tay nó không rờ được, mắt nó không trông thấy được thì nó không thể làm thế nào mà thương được. Vậy thì cứ trừ ra một cái nhà, một cái vườn, vài mẫu đất nội chỗ con mắt nó thấy đó thì nó thương được mà thôi. Đã mấy năm nay tôi thường thấy nhà báo hay nhà diễn thuyết, hễ mở miệng ra thì nói nước có hai mươi triệu quốc dân, trong cái giọng nói thì hình như có cái danh giá, có sự khoe khoang, có sự tin cậy. Nhưng mà tôi nghĩ trong hai mươi triệu ai cũng biết có nhà mà không biết có nước; như thấy trong cái nhà nào trong lúc rủi ro có ba, năm người con trai bị chết tuyệt tự, hay nhà nào ruộng đất mà bị kiện thưa, hay là bị con ham cờ bạc thì xúm lại nói ồn ào khắp dân gian, cho là việc quan hệ nhất ở trong xứ này. Còn đến việc “mất nước” thì chẳng ai mơ màng vào đâu. Một dân tộc mà đối với nước lơ láo lạt lẽo như thế cũng khốn nạn thật! Dân như vậy mà muốn bỏ vua đi mà lập ra dân quốc, chắc trong các Ngài có ông cũng lấy làm lạ. Nhưng mà tôi nghĩ rằng vì cái độc quân chủ giết hẳn cái lòng ái quốc của dân Việt Nam ta, bây giờ muốn cho dân Việt Nam ta biết nước là của chúng nó, thì phải đem cái tụi bù nhìn đó vất hết cả đi, thì nó mới có thể tìm kiếm cái nước đó là nước của ai? Mà nòi giống ta thông minh, có lẽ một ngày kia sẽ gặp thấy rằng ở trong cái miếng đất mấy nghìn năm lưu truyền lại đây, cái quyền lợi của nó hãy còn nhiều. Cái quyền phép của nó cũng có nhiều, rồi nó sẽ hiểu rằng xưa nay người mà gọi rằng vua quan đó, chẳng qua là người thay mặt làm việc cho nó, nếu làm không xong thì nó đuổi đi cũng không có lỗi gì.

Khi nào dân đã hiểu như thế thì nó mới biết thương nước. Mà nó có biết thương nước thì một ngày kia mới mong tự do độc lập được, chứ không thế thì cứ đời đời làm tôi mọi mãi.
Sao gọi là dân chủ?

Câu này ở Châu Âu thì không cần phải cắt nghĩa cho nhiều, nhưng mà ở trong xứ mình thì tôi cắt nghĩa mau mau để cho người ta hiểu cái đại lược.

Lịch sử – bất cứ là dân nước nào số người học thức cũng là phần ít cả, thường thường nhờ cái đảng thượng lưu, trung lưu dìu dắt nó đi ấy lẽ thường. Nhưng mà duy có dân châu Âu khác với dân ta có một việc; là từ khi bắt đầu mới khởi ra thì họ cũng sùng trọng quân chủ. Nhưng không biết thế nào hồi nước Hy Lạp họ lại có cái hộ gọi là Trưởng giả hội nghị, thì do ông vua nhóm họp lại những bậc quí tộc mà lập pháp luật ban cho dân. Lại có một cái hội tên là Quốc dân hội nghị, phàm những luật lệ mà ông vua cùng những người quí tộc đã đặt ra thì phải giao cho hội ấy xem có bằng lòng thì mới được làm. Sau đến nước La Mã thì có hội nghị “một trăm người” thì lấy trong quân lính mà sắp đặt ra hội ấy, phàm xứ ấy có việc gì lôi thôi thì hội ấy bàn. Còn sau đến hồi dòng vua La Mã đã mất, thì có một cái hội “La Mã nguyên lão viện”, lại một hội “La Mã bình dân viện”. Cho nên sau khi La Mã đổi làm đế quốc chuyên chế mà cái phép La Mã cũng phát đạt luôn luôn. Bây giờ các nước đâu đâu cũng bắt chước La Mã cả…

Người nước Anh còn giữ lại được gọi rằng “Nhân dân hội nghị”, “Hiền giả hội nghị”, hai hội ấy đều là vua nhóm những kẻ tài trí trong dân gian để giao cho cái quyền “lập pháp”. Đến nay thành ra cái Hạ Nghị Viện của Anh bây giờ, mà đến thế kỷ 17-18 lại truyền bá ra cả lục địa châu Âu. Ấy là nói lược qua cả lịch sử dân quyền châu Âu…

Bây giờ bên châu Âu trừ nước nào dân còn ngu dại, còn phần đông theo chính thể dân chủ. Đây tôi nói về cái chính thể bên Pháp – ở trong nước có một Hạ Nghị Viện quan hệ nhất. Số nghị viện thì trên dưới sáu trăm, dân đúng hai mươi mốt tuổi trở lên thì ra bầu cử. Dân hai mươi lăm tuổi trở lên thì được ra ứng cử. Được cử rồi thì gọi là Hạ Nghị Viện. Số phận của nước Pháp cầm ở trong tay cái hội ấy, hội ấy thì chủ quyền để lập pháp luật. Thứ nữa có một Nguyên Lão Nghị Viện. Cái viện ấy lại không phải dân cử. Các hội đồng ở các tỉnh các hội nào mà nhà nước đã nhận có cái nhân cách, và những người làm việc nhà nước thì lại ra ứng cử. Hội ấy thì để coi về việc tiền bạc.

Khi nào bắt đầu đặt Tổng thống, hay là thiếu mà đặt lại, thì hợp số người trong hai viện ấy lại làm bỏ thăm. Người ta ứng cử cũng là ở trong hai viện ấy. Ai được nhiều thăm thì làm Tổng thống. Khi Tổng thống đã được bầu cử rồi, thì phải thề trước mặt hai viện ấy rằng: “Cứ giữ theo hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo đảng này chống đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy thì dân cứ trục xuất ngay”.

Còn chính phủ thì cũng bởi trong hai viện ấy mà ra. Nhưng mà giao quyền cho đảng nào chiếm số nhiều ở trong hai viện ấy thì được tổ chức Quốc vụ viện (tức là chính phủ, tòa nội các). Theo Quốc vụ viện bây giờ chừng đâu cũng đến vài chục bộ, nhưng không phải ăn rồi ngồi không, vênh râu lên đó như mấy ông Thượng thư ta đâu. Ông nào cũng có trách nhiệm ông ấy cả. Nếu cái gì mà làm không bằng lòng dân, thế nào cũng có người chỉ trích. Bởi vì ở trong hạ nghị viện thế nào cũng có hai đảng, một đảng tả một đảng hữu; nếu cái đảng tả chiếm số nhiều mà cầm quyền trong nước thì đảng hữu xem xét chỉ trích; cho nên có muốn làm bậy cũng không được.

Trong nước đã có hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng hiến pháp. Cái quyền chính phủ cũng bởi hiến pháp qui định cho, lười biếng không được, mà dẫu muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được. Vả lại khi có điều gì phạm đến pháp luật, thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng Thống cho đến một người nhà quê cũng đều chịu theo một pháp luật như nhau.

Các quan chức về việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thôi, còn quyền xử đoán thì giao cho các quan án là những người đã học giỏi luật lệ, có bằng cấp. Các quan ấy thì chỉ coi về việc xử đoán, có độc quyền độc lập, cứ theo lương tâm công bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện Tư Pháp.
Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của chính phủ, và quyền lập pháp của nghị viện, đều đứng riêng ra không họp lại trong tay một người nào. Đây là nói sơ lược mà thôi, muốn hiểu kỹ cái chính thể dân trị thì phải chuyên môn mới được.

Xem vậy thì biết dân trị tức là pháp trị (lấy phép mà trị người). Vì quyền lợi và bổn phận của mọi người trong nước đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi tự do. Muốn bước tới bao nhiêu cũng không ai ngăn trở, chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền lợi của người khác thì không được. Vì đối với pháp luật thì mọi người đều bình đẳng không có ai là quan, ai là dân cả.

So sánh hai chính phủ quân trị và dân trị, ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được ấm no vui vẻ là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy. Dù không có người giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải đè đầu khốn nạn làm tôi mọi một người, một nhà, một họ nào.

Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân nào ngu dại cứ ngồi yên mà nhờ trời mà mong đợi mà trông cậy ở vua, ở quan, giao phó tất cả những quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay là một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường.
Anh em chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước, mới mong có ngày cất đầu lên nổi!”
(Trích Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa)
Hoàng Yên Lưu

More Stories...