Phan Bội Châu và Mộng du thi xã

Hoàng Yên Lưu

Các nhà phê bình văn học nhận xét về tác phẩm của Phan Bội Châu còn để lại, đều công nhận văn chương của nhà ái quốc này có tác dụng rất hữu hiệu trong việc giáo dục và khích động lòng yêu nước của các tầng lớp dân chúng, người đồng thời cũng như hậu thế.

Còn một điểm nổi bật nữa mà người ta chưa nhấn mạnh. Đó là ở Phan Bội Châu, người ta bắt gặp một thi tài lỗi lạc. Cụ không những là một nhà khoa bảng hiển hách, một chiến sĩ, một chí sĩ mà còn là một thi sĩ, đa cảm và nguồn cảm xúc rất dồi dào và chân thiết trước vận nước suy vong, nhân dân trong vòng đồ thán.
Thơ của Phan Bội Châu để lại khá nhiều, đủ loại, vừa bằng chữ Hán vừa bằng Quốc văn. Trong đó, mỗi khi thốt ra lời, viết ra chữ đều là giọng than thở trước cảnh giang sơn đổi chủ, lời tố cáo cường quyền áp bức dã man, lòng uất hận của thân phận vong quốc nô nhục nhã và hồi trống ra quân thúc giục mọi người vùng lên tranh đấu.
Đọc những câu như các câu sau đây, kẻ vô tình cách mấy cũng không ngăn được tiếng thở dài:
Ô hô, Côn luân bắc vọng, My công đông cố, ngã quốc giang sơn an tại tai?
(Hỡi ơi ngước nhìn phương bắc, ngó sang phía đông, đất nước ta ở nơi nào vậy?)
Hay:
Thương ôi! Lục tỉnh nam kỳ
Ngàn năm cơ nghiệp còn gì hay không!
Mịt mù một dải non sông
Hỏi ai, ai có đau lòng chăng ai?

Khi bị giam lỏng ở Huế, văn chương của cụ Phan tuy giọng phấn khích, lởi kêu gọi cứu nước có phần gián tiếp và kín đáo hơn nhưng qua những tác phẩm cụ sáng tác từ 1926 tới 1940, lòng trắc ẩn đối với dân với nước, nhất là dân nghèo chung quanh cụ và đối với những thanh niên tiếp tục hy sinh cho cuộc giải phóng dân tộc trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học…vẫn sâu thăm thẳm và chỉ có thay lời chứ không thay ý thay tình.
Theo một nhà báo, căn cứ vào tin tức của tờ Phụ Nữ Tân Văn ở Sài gòn vào 1931, có thuật lại việc cụ Phan mở lớp dạy làm thơ và thành lập Mộng du thi xã. Bài báo viết:

“Hai chữ “mộng du” làm cho người ta nhớ lại người chiến sĩ Đông du, từng vào sinh ra tử để mưu cầu đất nước độc lập, nhân dân được hạnh phúc tự do. Như thế, ai cũng hiểu “mộng”đây chắc chắn là không phải “mộng mị” hay “mộng mơ” mà chánh là “mộng lớn”, nói lên lý tưởng của nhà cách mạng luôn nuôi chí lớn trên những chặng đường tranh đấu.
Cụ Phan “Mở hàng dạy thi”, đánh dấu sự ra đời của Mộng Du Thi Xã.
Bức tâm thư của Cụ bày tỏ tâm tình với quốc dân được đăng trên hai tờ báo “một ở miền Bắc (Thực Nghiệp Dân Báo số 3195 ngày 26-7-1931) và một ở miền Nam (Phụ Nữ Tân Văn số 97 ngày 27-8-1931).

Mở hàng dạy Thi
Thưa bà con,
Tôi đã gần tuổi chết, nhưng mà chưa chết. Vì chưa chết tôi phải có ăn, vì có ăn tất phải có làm. Nhưng tôi bây giờ biết làm cái gì? Sách Tây có câu: “Vì ăn mà sống, chớ chẳng phải sống mà ăn”. Tôi bây giờ vì còn có ăn, nên tôi nghĩ một cách làm, song năng lực tôi với hoàn cảnh bây giờ thì không có cái thích hợp. Tôi chỉ biết tòm tèm là câu thi, đón khe kén gió, thiệt chẳng ra gì, nhưng nghề tôi làm được chỉ có thế!!!
Vậy tôi định mở một cửa hàng dạy thi gọi là “Mộng du Thi xã”. Bà con ai dốt thi hơn tôi, muốn học làm thi, bằng lòng bảo tôi dạy, vô luận hạng người nào, miễn có cao hứng muốn học làm thi, thì không cần phải giáp mặt tôi hoặc tới nhà tôi, cũng không cần cho tôi biết họ, tên quê quán gì cả, chỉ viết thơ cho tôi biết cái ý muốn học làm thi, hoặc là đăng báo mà gởi cho tôi số báo ấy, hoặc đưa thi tới bảo tôi chấm: tôi xin hết lòng hoan nghinh. Biết chừng nào tôi xin đổ rương cạo túi mà cống hiến cho bà con.
Nay tôi viết một bài thi làm mẫu như sau này, luôn thể cũng bày giải một vài cách về lối làm thi, gọi là mối rao hàng, xin bà con xem thử có vừa mắt hay không?

Thứ nhất là thi 7 chữ 8 câu, gọi là: “Thất ngôn luật thi” mà người mình thường hay làm.
Lối thi này câu thứ nhất, thứ hai không cần phải đối, câu thứ 3, 4, 5 , 6, phải đối nhau từng chữ. Câu thứ 7, thứ 8 lại không cần phải đối. Trong một bài, năm chữ ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8, phải họp một vần với nhau, riêng ra từng câu phải theo giọng bình giọng trắc cho đúng phép mà nhập lại phải đúng niêm luật, ấy gọi là thi.
• BÀI THI LÀM MẪU:
1. Vàng khè trắng toát khác đôi bên,
2.Thây kệ ai chê mặc kẻ khen.
3.Sông núi lỡ làng màu lịch sử
4.Gió trăng chờn chợ mối nhân duyên
5.Chẳng long lay đến lòng son sắt,
6.Há hổ ngươi vì miếng bạc đen.
7.Ba chén xong rồi ai ấy bạn?
8.Một pho kinh Phật một cây đèn.

Xem bài trên: bên, khen, duyên, đen, đèn, 5 chữ hiệp một vần. Câu 1, 2, không phải đối, cốt cho thông mạch. Câu 2, 3,“sông núi, gió trăng” là danh từ, “lịch sử, nhân duyên” là hai chữ Hán văn nhập tịch tiếng ta đã thành tiếng quốc ngữ, đều đối với nhau, mà thú vị nhất là bốn chữ: lỡ làng, chờn chợ là tiếng thổ âm của ta, mà chữ “làng”đối với chữ “chợ” là vô tình mà thành ra đối nhau rất tự nhiên lại xung họp, là một cách khéo tự nhiên trong nghề làm thi. Câu 4, 5, “son sắt, bạc đen” đối rất cân, nhưng cũng là thường, duy chữ “long” đối với “hổ” là vô tình mà được, gọi là đối tiếng, nghe cũng có thú. Câu 7, 8: câu thứ 7 kêu lên một tiếng hỏi đề gọi thứ 8 “Ai ấy bạn”, 3 chữ nghe thiệt tầm thường mà nhờ nó nên câu thư 8 mới hạ được một cách “môn cứng”, không chi tiết rơm rác gì cả, đã chấn khí cả toàn bài mà hô ứng với hai câu khởi đầu.
Làm thi, thứ nhất là cốt cho thông ý. Thứ nhì là cốt trao lời, lời thông thuận mà ý sâu xa, lại có vẻ tự nhiên, toàn bài phải hô ứng thừa tiếp, như bài trên, có lẽ cũng đã hợp pháp. Còn nhiều cách điệu phương pháp nữa, xin tùy vấn tùy đáp.
Phan Sào Nam (Huế)

Nội dung “Bài thơ mẫu” ghi trên nói chí khí của người yêu nước. Dù nghịch cảnh sống bị lệ thuộc dưới quyền của kẻ khác màu da, lòng vẫn trung kiên tu luyện, luôn hy vọng tìm được con đường giải phóng dân tộc.
Đáp lễ với chủ nhân “Mộng Du Thi Xã”, ông Yến Bạn gởi bài “Tiểu lại thuật hoài”, họa nguyên vận bài thơ của cụ Phan Sào Nam:
Gió Á mưa Âu rộn bốn bên,
Hoạn trường sôi nổi tiếng chờ khen.
Giang sơn chúa Chổm còn vương nợ,
Đao bút chàng Tiêu phải kết duyên,
Đã ngán cho mình lương bổng bạc,
Lại buồn thay kẻ vận cơ đen.
Lòng ta có phải như lòng bánh,
Quyết bóc đem coi trước ngọn đèn”.

(Thực Nghiệp Dân báo, ngày 8-10-1931

Điều đặc biệt là có một khách thơ ở Qui Nhơn gởi cho chủ nhân “Mộng Du Thi Xã” 3 bài thơ: Chùa Hoang, Gái ở Chùa, Thức Khuya, bút hiệu chỉ ký tắt: P.T.
Về sau mới biết P.T. là Phong Trần, chánh là Hàn Mặc Tử (1912-1940) . Lúc ấy Hàn Mặc Tử mới 19 tuổi.

Thơ Gửi Cho MỘNG DU THI XÃ
Mấy bài thơ này xin cảm phiền ngài ấn hành vào báo Thực Nghiệp để chuyển giao cho Mộng Du Thi Xã, rất đội ơn.
I
Chùa Hoang
Chùa không sư tụng cảnh buồn teo
Xác Phật còn đây, chuỗi Phật đâu?
Réo rắt cành thông thay tiếng kệ
Lập lòe bóng đóm thế đèn treo
Hương rầu khói lạnh nằm ngơ ngác
Vách chán đêm sương đứng dãi dầu
Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt
Trước thềm khắc khoải giọng quyên kê
u.

Gái ở Chùa
Rừng thiền thấp thoáng dạng quần thoa
Khuê các trâm anh cũng thế à?
Cuộc thế chưa chi mà vội chán
Trò đời mới rứa đã lo xa
Ghét mùi son phấn ưa mùi đạo.
Chán cảnh phồn hoa mến cảnh chùa
Bà Nguyệt trớ trêu lòng dạ thiểm
Xuân xanh nỡ để thiệt thòi hoa!

Thức Khuya
Non sông bốn mặt ngủ mơ màng,
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.
Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối,
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
Khóc giùm thân thế, hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh, dế dạo đàn.
Chỗi dậy nôm na vài điệu cũ,
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

(Trích “Thực Nghiệp Dân Báo ngày 11-10-1931)
Không bao lâu chủ nhân “Mộng Du Thi Xã” thưởng thức đầy đủ ba thi phẩm của P.T.. Thật ra lúc này Cụ Sào Nam hoàn toàn không biết P.T. là ai. Sau đó, cũng trên “Thực Nghiệp Dân báo, Cụ Phan đáp lễ bằng ba bài họa.
Dưới đây là thư trả lời của chủ nhân “Mộng Du Thi Xã”:

Thưa tác giả P.T. tiên sinh:
Tác giả cho tôi được đọc ba bài thơ, tôi lấy làm hân hạnh cho Mộng Du Thi xã lắm. Xem trong thơ, ân oán oan tỉnh, thắm tâm nhã điệu, đủ cả mấy phương diện. Tôi chỉ phàn nàn rằng: “Người xướng quá cao, tất nhiên người họa phải ít”, nên tôi xin tục điệu ba bài, khỏi để tác giả buồn sự cô điệu độc đàn mà thôi.
Còn như nói rằng: Tôi là người nói thơ được với tác giả, thì tôi không dám.
Ôi! Hồn dao nghìn dặm, biết làm sao được bắt tay nhau mà cười lớn một tiếng mới là thỏa hồn thơ đó!
Ba bài thơ như sau này:

Họa bài “Chùa Hoang”
Ba vạn giang sơn chút tẻo teo
Ai dò bệ Phật đến nguồn đâu?
Kệ thần mặc ý trong lòng niệm
Đèn tuệ tha hồ trước gió treo
Bờ nọ thuyền đưa dòng họ tới
Trời này mưa khóc cỏ cây rầu
Xưa nay Phật pháp vô biên lượng
Muôn nước nghìn non một tiếng kêu

Họa bài “Gái ở chùa”
Bản lai không vết cậy gì thoa
Há gặp đâu thì cũng thế à!
Một chữ đã đành thân quý trọng
Trăm năm phải tính cuộc gần xa
Tủi vì cái kiếp con không mẹ
Hổ cũng như ai sãi có chùa
Khuya sớm hương tâm nguyền với Phật
Ngành dương mưa rưới vạn nghìn hoa.

Họa bài “Thức khuya”
Chợ lợi trường danh chí chẳng màng
Sao ăn không ngọt ngủ không an
Trăm năm ngán đó tuồng dâu bể
Muôn họ nhờ ai bạn chiếu chăn
Cửa sấm gớm ghê người đánh trống
Tai trâu mỏi mệt khách đưa đàn
Lòng sen đẳng mới tơ sen gắng
Mưa gió bao phen gộc chửa tàn

(Trích “Thực Nghiệp Dân báo” số 3256 ngày 21-10-1931 trang 2)

Hoàng Yên Lưu

More Stories...