Ông lão và con cá

Chẳng nói chẳng rằng, ông lão lủi thủi đi xuống bến con kinh trước mặt căn chòi ông đang ở, lúi húi tháo giây buộc chiếc vỏ lãi bằng gỗ đã cũ đến độ chừng như có thể rệu rạo rã từng mảng gỗ khi trôi bập bềnh trên nước. Ông thong thả chống mái chèo đẩy chiếc vỏ lãi đi vào giữa dòng kinh rồi khuấy nước chèo tới. Con kinh đục ngầu phù sa trông như một vũng trâu ngâm, rộng chừng năm bảy mét, hai bên bờ rợp bóng dừa nước lá cây này chồm lên lá cây kia, chồm lên cả cây bờ đối diện tạo thành một mái vòm che khuất ánh mặt trời. Nắng hè mới lên mà đã nóng hừng hực. Chiếc vỏ lãi trôi chầm chậm theo nhịp chèo không còn sức mạnh của ông lão tưởng chừng chính chiếc vỏ không dám trôi nhanh sợ vỡ ra khi va vào sóng nước. Ông lão mỉm cười nói một mình thành tiếng:

“Lúc trước người ta gọi nó là xuồng tam bản vì nó làm bằng ba tấm ván, rồi giờ có người gọi nó bằng vỏ lãi, bằng tắc ráng, có khi bằng vỏ vọt. Sao vậy cà?”

Sao gọi là vỏ lãi, vỏ vọt thì đến giờ ông vẫn chưa biết. Ông biết khi cái máy bắt đầu được gắn lên xuồng tam bản, ai đó gọi nó là tắc ráng rồi mọi người bắt chước gọi theo mà chẳng hiểu tại sao. Mãi sau ông gặp được một người giải thích rằng người đầu tiên gắn máy lên xuồng là ông Năm Cải hay ông Chín Sum nào đó ở kinh Tắc Ráng bên Rạch Giá do đó thành tên. Kinh Tắc Ráng ngày nay cũng đã mất tên vì được đào rộng ra với tên mới là Kinh Xáng Mới.

Bây giờ, ngoại trừ ông và mấy người nghèo như ông, không mấy người dùng vỏ lãi bằng gỗ nữa. Mọi người đã chuyển qua dùng vỏ bằng nhựa com bô com biếc gì đó ông chẳng cách nào nhớ cho đúng tên. Chiếc vỏ lãi bằng gỗ ông đang dùng truyền từ đời cha ông đến đời ông đã qua nhiều lần thay ván mục. Nhắc tới cha ông, ông nhớ lại một kỷ niệm. Ngày còn nhỏ chừng bảy tám tuổi, một lần ông bắt chước đám trẻ hàng xóm gọi cha mẹ ông bằng tía má và bị cha ông nạt cho một trận:

“Tía má là cách gọi của người Tàu, tao đâu phải người Tàu mà mày gọi tao vậy?”

Ông hỏi lại:

“Vậy sao quanh đây bạn con đều gọi cha mẹ họ là tía má?”

Cha ông gằn giọng:

“Bạn mày kệ bạn mày, quanh đây kệ quanh đây. Tao không phải là người quanh đây nên chẳng phải theo họ.”

“Cha không phải là người quanh đây thì là người đâu?”

“Tao người ở đâu, lớn lên tao nói cho mày biết.”

Ông chưa kịp “lớn lên” khi cha ông mất nên ông vẫn chưa biết cha ông từ đâu đến miền Tây cho đến khi mấy bác bạn của cha ông cho ông biết đôi chút hai năm sau khi cha ông mất. Bạn cha ông một năm đôi ba lần hoặc đôi ba năm một lần chẳng biết từ đâu đột ngột đến thăm cha mẹ ông, cùng cha ông chén tạc chén thù năm bảy bữa rồi đi biền biệt cho đến lần sau không hẹn lúc đến cũng chẳng báo trước lúc đi. Biết cha mẹ ông nghèo không đủ tiền chu cấp, họ đưa tiền cho mẹ ông đi chợ mua rượu thịt, khi chia tay còn đưa thêm. Cha ông nói họ buôn ghe bầu nên có nhiều tiền. Họ mua hàng từ miền Trung chuyên chở bằng đường biển vào bán cho miền Nam rồi chuyển hàng miền Nam về bán lại cho miền Trung. Ông lúc đó chẳng biết ghe bầu là cái gì nhưng nghe nói chạy đường biển nên tưởng tượng đó là những chiếc tàu lớn với ống khói nghều nghệu phun khói đen kịt một góc trời như hình vẽ ông tình cờ nhìn thấy trên sách báo. Đôi khi trong giấc ngủ ông mơ thấy ghe bầu của bạn cha ông với lá cờ trắng có hai ống xương màu đen vắt chéo bay phần phật trong gió biển vù vù như tàu cướp biển. Mấy bác bạn của cha ông nói giọng khác giọng ông quen nghe đến độ đôi khi ông không hiểu họ nói gì. Họ còn dùng nhiều từ lạ hoắc mà cho dẫu nghe ông cũng chẳng hiểu.

Boác coi như rứa loàm reng tui chịu được. Nó còn lấy giây rị không cho ghe của tui chẹ.”

Bác coi như vậy làm sao tôi chịu được. Nó còn lấy giây kéo lại không cho ghe của tôi chạy. Dẫu vậy ông mến các bác bạn của cha ông vì họ tốt với ông, lần nào đến thăm cũng mua áo quần quà bánh cho ông. Những ngày các bác đến thăm, mẹ ông lúc nào cũng phải mua bánh tráng nướng vào hai bữa cơm chính. Bắt đầu bữa cơm, một bác đội bánh tráng lên đầu bằng hai tay rồi kéo rắc xuống, bánh vỡ thành hai nửa, sau đó mới bẻ nhỏ ra. Ông tò mò hỏi tại sao làm vậy, bác cười nói:

“Chu choa, mần reng mà biết, chỉ thấy choa ông trước loàm rứa thì loàm theo thôi.”

Chu cha, làm sao mà biết, chỉ thấy cha ông trước làm vậy thì làm theo thôi. Một bác có vẻ nhiều hiểu biết hơn, nói:

Đẹt bánh troáng lên đầu như rứa để tỏ lòng tôn trọng nó.”

Đặt bánh tráng lên đầu như thế để tỏ lòng kính trọng nó. Ông hỏi lại:

“Tại sao lại tôn trọng bánh tráng?”

Bác lắc đầu không giải thích được. Hai năm sau lần thăm cuối, các bác bất ngờ đến thăm mới biết cha ông đã mất. Họ khóc khi đốt nhang vái bàn thờ cha ông, khóc khi viếng mộ, rồi khóc lần nữa khi giả từ mẹ ông. Họ cho mẹ con ông biết họ đến từ một nơi nào đó ngoài Trung gọi là Bàn Thạch thuộc tỉnh Quảng Nam, nơi cha ông trước đây sinh ra, lớn lên, và một thời là đảng viên Quốc dân Đảng. Mẹ ông hỏi họ tại sao cha ông phải vào miền Tây và giấu tung tích, họ lắc đầu nhất định không nói. Đó là lần cuối cùng các bác đến thăm mẹ con ông. Mãi về sau khi ông lên mười bảy mười tám, chẳng biết do đâu mẹ ông nói cho ông biết cha ông giấu tung tích do sợ bị truy lùng vì đã vào Hội Kín. Ông nghe vậy biết vậy vì chẳng hiểu hội kín hội hở là cái gì

“Vậy mà đã sáu bảy chục năm rồi. Các bác đó chắc giờ đây cũng đã gặp lại cha mình bên đó.”

“Bên đó” ý ông là thế giới bên kia, thế giới của người đã chết. Ông ngưng tay chèo, lấy túi thuốc bên cạp quần ra vấn một điếu, bật quẹt đốt thuốc rồi gắn thuốc lên môi bập bập. Thở phà ra một hơi khói mỏng, ông thầm nghĩ:

“Cái xuồng của mình đâu đáng gọi là vỏ lãi. Vỏ của người ta gắn máy chạy ào ào, mình không máy nên cứ chèo rì rì như thời còn gọi là xuồng tam bản.”

Ông nhớ cái thời ai cũng chèo bằng mái chèo. Ghe xuồng qua lại trên kinh trên sông, thong thả êm đềm chẳng giành giựt nhau, trai gái hò đối hò đáp châm chọc nhau, nhiều đôi nhờ đó thành vợ thành chồng. Ông mỉm cười nhớ lại câu hò không biết ai đặt mà vừa nghịch ngợm vừa bạo mồm bạo miệng. Mấy đứa con gái nghe xong đứa hiền thì nguýt một cái thiệt dài, đứa dữ thì lên tiếng mắng là đồ dê xồm, đứa chanh chua thì nói nghèo mà ham:

Nước Tân Ba chảy qua Vàm Cú,

Thấy em chèo cặp vú muốn hun.

Nhớ lần đầu tiên thấy cô gái là vợ ông bây giờ chèo thuyền qua chỗ ông đang giăng câu, ông không dám sỗ sàng hò câu trên mà chỉ dám hò chọc ghẹo:

Ước gì anh hoá con kiến vàng,

Bò qua quai nón của nàng mà hun.

Hò xong ông tưởng sẽ bị cô gái mắng cho một trận nhưng không, cô gái chẳng những không háy không nguýt mà còn ghé thuyền sát chiếc vỏ của ông rồi nói cái anh này kỳ. Giọng cô êm quá làm ông mất ngủ mấy đêm liền. Chịu không nổi, ông tìm hết cách lân la làm quen. Cả hai đều nghèo, ông cảm bà vì cái nết, bà mến ông vì cái hiền. Cha mẹ cô gái thuận gả cô cho ông vì thấy ông hiền lành và gia đình ông nề nếp.

Ông đã từng mơ ước một chiếc máy cô le gắn lên chiếc vỏ lãi gỗ của ông để ít nữa cũng chạy ào ào như thiên hạ. Nhưng không may cho ông, mỗi lần ông giành giụm được ít tiền thì một chuyện gì đó xẩy ra, lần đầu là vợ ông sinh con, rồi tới con ông bệnh nặng không qua khỏi, rồi giờ đến vợ ông bệnh liệt giường. Vợ ông đang khỏe mạnh đùng một cái nằm liệt, thuốc nam thuốc bắc trong vùng chữa thang này tới thang khác vẫn chẳng làm xẹp được cái bụng của bà ngày một trướng lên. Ông chẳng những phải tiêu hết số tiền dành dụm định mua máy tàu mà còn phải bán hết tất cả những gì có thể bán được để trả tiền thầy tiền thuốc, khởi đầu là vài thứ trang sức mẹ ông cho con dâu là vợ ông, rồi đến mấy cái lưới cá mới toanh ông mua để thay lưới cũ rách không còn vá lại được. Ông sắm tới mấy loại lưới, lưới bảy phân tám phân để bắt cá nhỏ, lưới tấc mốt tấc hai để bắt cá lớn. Tiền cơm gạo hàng ngày ông không phải lo mấy vì chỉ cần đặt cái lờ cái trúm hoặc quăng cần câu xuống sông xuống rạch là có thể kiếm được mớ tôm mớ cá đổi gạo nấu cơm. Rau ráng ông cũng không phải lo vì nếu cần rau muống, rau nhút hoặc các thứ rau dại như rau dừa thì ra bờ kinh bờ mương; cần rau dền, rau sam, rau đắng hoặc lá xoài, lá mận thì rảo quanh vườn nhà hoặc vườn hàng xóm. Đến mùa, bông điên điển nở vàng trời, bông lục bình nở tím mương, bông súng nở hồng ao hồ cho cọng dài cả thước. Hái đủ loại rau theo ý thích rồi vào nấu ngọt nấu chua hoặc làm một bữa mắm và rau ăn nhớ đời.

Vợ ông ngã bệnh, túp lều của ông thành nơi thầy này vào thầy kia ra, thầy nào vào cũng nói không sao đâu, tôi hốt vài ba tháng là bà ấy hết bệnh. Nhưng rồi một thầy vài ba thang, mười thầy vài ba chục thang, vợ ông vẫn nằm liệt. Cuối cùng, có người bảo ông đưa vợ đi gặp bác sĩ. Cậy nhờ mãi ông mới được một người chạy xe lam tốt bụng chở giúp vợ ông đến thị xã mà chỉ lấy tiền xăng. Chờ mấy tiếng đồng hồ, bác sĩ khám vợ ông, nghe ngực nghe bụng, sờ sờ nắn nắn rồi nói nghi ngờ vợ ông bị bệnh ung ơ gì đó nhưng phải làm thêm nhiều thí nghiệm mới biết chắc được. Muốn vậy phải lên thành phố. Lên thị xã đã khó như vậy, lên thành phố bằng cách nào? Hỏi tốn bao nhiêu tiền, bác sĩ nói không thể nói trước nhưng ít lắm cũng bốn năm chục triệu hay hơn nữa. Ông tá hỏa, móc hầu bao lấy hết tiền trả tiền khám rồi đưa vợ ông về. Nhìn trước nhìn sau, nhà chẳng còn cái gì bán lấy được vài chục ngàn nói chi vài chục triệu.

Mãi suy nghĩ, ông chèo chiếc vỏ lãi ra khỏi kinh đi vào sông Tiền mà không chú ý. Sông Tiền nước mênh mông, người ta có thể nghĩ đó là biển nếu không có hàng cây và nhà cửa ven bờ về phía xa xa. Ông chậc lưỡi:

“Phải chi còn mấy tay lưới thì hôm nay mình chắc trúng vì con nước êm quá.”

Tay lưới ông đã bán hết lâu rồi. Sợi dây giăng câu cũng không còn dùng được vì đã quá cũ mục cần thay dây thay lưỡi nhưng ông vẫn chưa có tiền mua. Ngay cả mấy cái trúm cái lờ bằng tre ông cũng phải chằm vá nên nhiều lúc lươn cá bắt được theo chỗ rách chui ra ngoài. Bây giờ ông chỉ còn mấy cái cần câu bằng tre không phải cần câu “máy” như giới trẻ ngày nay đang dùng. Giới câu trẻ tuổi bây giờ tự gọi họ là cần thủ, một từ nửa Nôm nửa Hán. Họ lý luận nếu gọi người đá bóng là cầu thủ, người được chọn vào đội đặc biệt là tuyển thủ, người bắn súng là xạ thủ, người phạm tội ác là hung thủ, thì người dùng cần để câu cá gọi là cần thủ chẳng có gì sai. Nói với họ không thể ghép chữ Nôm với chữ Hán thì họ cũng chẳng hiểu Nôm Hán là thứ gì. Giới cần thủ trẻ quăng cần câu máy vút một cái là chùm lưỡi bay xa theo ý muốn. Họ quăng câu bằng chùm lăng xê lăng xơ gì đó gồm không phải một mà ba bốn lưỡi câu, không phải móc mồi mà dùng mồi bọc lưỡi thành một chùm như chùm hột gà mà họ gọi là chùm nho. Mồi của họ là một hỗn hợp nhiều thứ với nhiều loại cám mà họ nói tùy theo loại cá muốn câu. Ông chậc lưỡi:

“Thiệt hết biết, mồi câu mà cũng nghiên cứu được cá gì thích mồi gì, giỏi vậy sao chẳng ai nghĩ ra thứ thuốc trị bệnh cho vợ mình.”

Rồi ông lại nghĩ:

“Úi chà, có nghĩ ra họ bán đắt như quỉ, mình làm gì đủ tiền mua.”

Không đưa được vợ lên thành phố chữa bệnh nhưng cũng không đành lòng để vợ nằm yên đợi chết, ông tiếp tục tìm thầy tìm thuốc. Thấy ông chạy vạy đầu ngược đầu xuôi, vợ ông bảo ông để bà “đi” nhưng ông nói:

“Còn nước còn tát, tát hết nước tui mới chịu buông cho bà đi.”

Ông buông bà sao được sau mấy chục năm bà đồng cam chia ngọt sẻ đắng với ông. Ông Trời cho ông bà chỉ một mụn con nhưng thằng bé ở với ông bà được mươi năm thì bị ông Trời lấy lại. Ông gọi con ông là “thằng bé” nhưng nếu còn sống con ông năm nay cũng đã xóm xém năm mươi tuổi. Người ta nói sống chết tại số nhưng ông nghĩ con ông chết chỉ tại ông không đủ tiền tìm đúng thầy đúng thuốc cho nó, chẳng tại số má gì cả.

Ông khoắng mái chèo bơi chiếc vỏ vào một vùng sông khuất sóng quen thuộc rồi lấy cần câu móc mồi. Mồi của ông vẫn là loại mồi truyền từ thời cha ông, con tép, con dế, con nhái, con nòng nọc, được con nào dùng con đó. Hôm nay ông câu bằng mồi tép, hi vọng bắt được con cá to chừng hai ba kí bán được ít tiền bồi bổ cho vợ ông. Ông nhớ lại thời trai trẻ, mỗi lần giăng câu thả lưới hai vợ chồng cùng đi, vợ ông ngồi lái kềm chiếc vỏ, ông kéo lưới kéo dây câu gỡ cá, lâu lâu quay lại nhìn vợ mỉm cười. Được con lớn con nhỏ, vợ ông cười khuyến khích. Thấy ông kéo hoài chẳng được con nào, vợ ông nhìn ông ái ngại. Nhìn ánh mắt vợ, ông tiêu tán hết mệt nhọc, kéo lưới kéo dây câu còng lưng với ông không còn là một gánh nặng nữa. Đôi lần dây câu dây lưới cứa đứt tay ông, vợ ông cầm bàn tay chai sần của ông lên vừa xuýt xoa vừa tìm cách cầm máu. Ông giật vội lại đưa chỗ đứt lên miệng mút mút rồi bảo vợ ăn thua chi chút cắt như vậy.

Ông đứng lên, tay phải cầm cần, tay trái cầm ống quấn nhiều vòng dây cước nhịp nhịp đầu cần lấy đà rồi vút cho lưỡi câu kéo dây chạy dài văng ra rơi tỏm xuống nước. Lưỡi câu không văng đủ xa như ý ông muốn. Ông tự hỏi:

“Tại cần câu ống của mình thua cần câu máy hay tại mình sức yếu rồi?”

Ông cho tại ông yếu sức. Cẳng tay cẳng chân ông giờ đen đủi và teo lại, không còn cuồn cuộn bắp thịt như ngày ông còn trai trẻ. Ông thở dài:

“Ở tuổi mình nếu có con cháu thì dưỡng già được rồi. Khổ cái mình dưỡng già thì ai nuôi bà ấy?”

Cần câu của ông vẫn là loại cần từ thời cha ông để lại làm bằng một cây trúc nhỏ bằng ngón tay dài chừng ba bốn mét. Lựa cây trúc già thon gọn vừa tay vừa ý chặt về róc mắt rồi treo giàn bếp một thời gian cho cây tre dẻo và không bị mối mọt, ông đem xuống loay hoay ráp vào ngọn cần một vòng thép có lỗ nhỏ vừa để xỏ dây cước có gắn lưỡi câu. Đầu dây kia ông cuốn vào một ống cuốn rỗng ruột đường kính chừng hai phần gang tay ngang chừng ngón tay. Khi câu, ông lựa thế tung đầu dây có lưỡi câu đã móc mồi cho sợi dây chạy tự do rơi xuống vị trí nhắm trước. Khi cá cắn câu, ông xoay ống cuốn dây vào kéo con cá lên bờ. Phải thành thạo và đủ kinh nghiệm mới điều khiển được cần câu ống theo ý muốn.

Xoay cần đôi chút cho phao nằm vào vị trí, ông gác cần lên be xuồng rồi móc túi vấn điều thuốc khác bập bập chờ đợi. Ông thở dài, nghĩ đến vợ ông đang nằm chờ ông về. Sáng nay trước khi đi, ông đã nấu cháo kho cá để sẵn bên cạnh giường vợ ông nằm. Túp lều bằng bàn tay của ông bếp cũng đó mà phòng ngủ cũng đó nên nấu rồi để bên giường chẳng gì là chuyện lạ. Nghĩ đến bữa ăn để lại cho vợ, ông cảm thấy đói. Ông chưa ăn gì từ sáng đến giờ. Ông đến chỗ thường để cà men cơm nhưng lạ thay, không tìm thấy.

“Ủa, sáng nay mình nhớ rõ ràng đã bỏ nó đây trước khi tháo dây cột vỏ mà.”

Cà men cơm ông đem theo chẳng có gì ngon lành, chỉ là mấy chén cơm với mấy con bống kho mặn, loại cá bống ông đặt lờ bắt được. Ông bóp trán suy nghĩ:

“Chẳng lẽ mình quên đem theo?”

Ông chau mày:

“Quên thế nào được, chính bà ấy còn nhắc đi nhắc lạ. Vậy thì đâu cà?”

Ông quên bẳng việc ông đã treo cà men cơm lên cái móc trên đầu cây cột buộc vỏ lãi rồi cúi xuống tháo dây, đẩy xuồng ra mà quên lấy cà mèn theo.

BRA200258_local_728x90_A

“Thôi thì uống chút nước cầm hơi vậy.”

Mở nắp bình nước trà nguội, ông uống mấy ngụm đè cơn đói rồi vấn điếu thuốc khác hút tiếp. Mặt trời đã lên hơn con sào, nắng hè càng lúc càng gay gắt. Ông nghiêng chiếc nón đã cời về phía ánh mặt trời cố che nắng càng nhiều càng tốt.

“Bữa nay lạ quá, chưa thấy con cá nào ăn. Chẳng lẽ tụi nó ăn gì no bụng cả rồi.”

Cái phao bập bềnh trên mặt nước, xao động mạnh mỗi khi có xà lan hay vỏ lãi chạy máy ngang qua. Bỗng cái phao nhúc nhích rồi ngưng, nhúc nhích rồi ngưng.

“Vậy chơ, ăn đi con, nhỏ ông bắt nhỏ lớn ông bắt lớn.”

Miệng nói thế nhưng bụng ông mong bắt được một hai con chừng kí hơn kí, hoặc hai ba kí càng tốt.  Được vậy ông quay về ngay để còn chăm sóc vợ ông. Ông ngồi trên xuồng nhưng lòng ông để hết ở nhà, lo âu không biết vợ ông có ngồi dậy được để ăn uống hay không. Cũng vì muốn ở nhà săn sóc vợ bệnh nên ông chỉ đi ra ngoài khi cần. Và càng ít đi ra, thu nhập của ông càng teo lại.

“Tội nghiệp, bệnh hoạn vậy mà chẳng có ai bên cạnh để phòng khi cần giúp đỡ.”

Bỗng, cái phao chìm xuống rồi trồi lên. Ông chụp vội cần giật mạnh rồi xoay ống cuốn dây kéo lưỡi câu lên. Chẳng dính một con cá nào. Từ đầu dây câu, nước chảy xuống thành dòng rồi nhỏ giọt. Con tép mồi đã biến mất. Ông càu nhàu:

“Lại mấy con ranh cá Ngát phá mồi.”

Ông lúi húi móc mồi khác rồi vung tay quăng mạnh lưỡi câu về hướng mặt trời đang chiếu tia nắng gay gắt thành một vệt dài trên mặt sóng lao xao.

“Chúng mày phá mồi nữa sẽ biết tay ông.”

Ông mỉm cười. Hăm thì hăm vậy nhưng ông biết ông không làm được gì lũ cá phá mồi. Mặt trời đã lên cao, dễ chừng đã đúng ngọ. Ông lại thấy đói. Thời trai trẻ hai ba mươi, ông chỉ cần chịu đựng chừng nửa giờ cho qua cơn đói là có thể chẳng cần ăn cho đến bữa cơm sau. Nhưng ông không còn ở tuổi đôi ba mươi nữa, ông đã là một ông lão bảy mươi ba. Ông van vái:

“Ông bà cha mẹ phù hộ cho con kiếm được con cá để về lo cho vợ con.”

Ông thấy mệt. Đói và nắng nóng làm ông thấy chiếc vỏ lãi của ông như đang bập bềnh trên con sóng lớn. Mặt ông, cổ ông nhớt nhát và áo ông ướt đẫm mồ hôi. Mắt ông hoa lên, không biết tại ông nhìn chằm chặp lâu giờ vào cái phao dưới ánh nắng chói chang hay tại ông đói mệt. Hay tại cả hai. Cái phao hình như đang nhảy loạn trên mặt nước. Ông định thần nhìn kĩ. Không, ông không hoa mắt, quả thực cái phao đang hụp xuống rồi trồi lên rất nhanh. Cá đã ăn mồi. Tay phải chụp cần câu tay trái chụp ống cuốn, ông đứng lên giựt mạnh đầu cần xéo ngang, miệng lẩm bẩm:

“Mày dính nha bưởi.”

Ông kéo dây câu lên một chút. Con cá trì mạnh làm ông suýt mất thăng bằng. Ông chửi thề:

“ĐM, mạnh vậy a bưởi?”

Ông nới dây câu một vòng cho con cá lội đi rồi cuốn lại hai vòng cố kềm nó lại. Con cá trì thật mạnh đến độ tay ông gần như không đủ sức để giữ cần câu.

“Mày a mày, đến nước này mày còn ngoan cố.”

Con cá khuất dưới mặt nước bắt đầu lội tới trước. Chiếc vỏ lãi của ông bắt đầu bập bềnh lướt theo con cá ra khỏi vùng nước ông đậu.

“Chà, mạnh dữ, nó định lôi vỏ mình theo nó đây. Cũng may mình dùng dây số 6 và lưỡi số 10 mới chịu nỗi nó.”

Sợ rơi xuống nước, ông lão lật đật ngồi thụp xuống sạp. Ngồi vững vàng, ông nhấc cần câu lên một chút ý chừng ra hiệu cho con cá nhớ ông đang kiềm hãm nó. Ông nới dây câu rồi cuộn lại, nới dây rồi cuộn lại liên tiếp, miệng lẩm bẩm:

“Để coi mày thắng hay tao thắng. Có giỏi trồi đầu lên để tao biết mày là con gì và mày biết tao là ai.”

Ông không biết nó là con gì vì nó còn nằm dưới mặt nước nhưng nó có thể đã biết ông là ai vì ông câu tôm bắt cá trên đoạn sông này đã sáu bảy chục năm trời, có trơ mắt cá nó cũng biết. Chừng như để báo cho ông biết nó chẳng cần biết ông đang suy nghĩ gì, con cá tiếp tục chúi đầu bơi mau về phía trước kéo chiếc vỏ lãi theo sau.

“Nó là con gì vậy ta?”

Có thể không phải con Bông Lau vì mấy năm nay ít thấy bóng dáng loài cá này. Có người nói tại Tàu đắp đập sông Mê Kông nên nước biển Hồ không còn cao tràn bờ để cá Bông Lau trôi về sông Tiền sông Hậu nữa. Con Vồ chăng? Cũng có thể, loại cá này trì cũng mạnh lắm. Hay con Lăng? Ông không dám mơ loại này cho dẫu câu được là kiếm khá tiền nhưng dùng mồi tép như ông thì khó mà hi vọng. Hay con Sủ? Ông không tin cá Sủ có thể kéo mạnh như vậy. Loại cá này hễ bị bắt là lòi bong bóng chết trước khi kéo lên xuồng, con nào còn ngáp ngáp cũng chẳng sống nỗi khi đem về đến nhà. Ông thầm nghĩ:

“Con Tra chăng?”

Ông tự nhủ cứ làm cho nó mệt rồi trước sau gì nó cũng phải ngóc đầu lên. Con cá trườn mạnh tới. Chiếc vỏ lãi lướt theo nó càng lúc càng nhanh. Ông lên gân tay cố trì lại nhưng không dám kéo quá căng sợ đứt dây câu. Ông lặp lại câu ông nói lúc nãy:

“Cũng may mình dùng cước số 6 nếu không bị đứt lâu rồi.”

Mặt trời đã xuống gần đến chân trời. Vật lộn với con cá mấy giờ liền, ông quên thời gian. Bụng ông cồn cào. Sức lực ông gần như đã toát hết ra ngoài. Đã gần một ngày ông không ăn gì, chỉ uống nước cầm hơi. Nếu con cá không ăn câu, có lẽ ông đã quay về lúc sau trưa. Con cá mạnh hơn ông tưởng, dùng hết cách ông vẫn không thể trì nó lại. Nó kéo vỏ lãi của ông lướt theo ý nó và vẫn chưa chịu trồi đầu lên, chỉ thỉnh thoảng quẫy mạnh đuôi, một cái đuôi đủ to để ông biết đúng như ông nghĩ, nó là một con cá tra nặng trên mươi kí theo kinh nghiệm mấy chục năm sông rạch của ông.

“Mày ngon trồi đầu lên đi bưởi. Mày không biết tên mày cũng chẳng biết mày nặng bao nhiêu nhưng tao biết. Mày trồi lên tao gọi đúng chóc tên mày và cho mày biết mày cân nặng bao nhiêu.”

Thế nhưng con cá chẳng những không chịu trồi đầu lên mà còn kéo chiếc vỏ của ông trôi nhanh hơn nữa xuôi dòng ra cửa Tiểu.

“Thây kệ mày đi đâu thì đi, coi tao với mày ai bền lòng hơn ai. Mày mà mệt thì tao kéo mày lên vỏ.”

Ông nghĩ đến con cá mươi kí, mỗi kí bán được trăm ngàn, mươi kí là tiền triệu. Một triệu chẳng là gì với nhà giàu nhưng với ông chừng đó có thể trang trải biết bao nhiêu tiền thầy tiền thuốc tiền nợ tiền nần.

“Còn dư thế nào tui cũng mua ít thịt bò về nấu cháo cho bà. Tội nghiệp bà ấy bệnh hoạn như vậy mà cứ cháo cá hoài làm sao khỏe lại được.”

Nghĩ tới vợ, ông muốn cắt phăng nhợ thả cho con cá đi đâu thì đi. Thế nhưng ông nghĩ lại, thả làm sao được, dễ gì gặp may bắt được con cá cỡ này lần thứ hai. Muốn hay không ông cũng phải kiếm tiền thanh toán nợ nần để vợ ông có thể tiếp tục thang thuốc. Ông trì dây rồi nới dây mong cho con cá mệt để ông có thể kéo nó đến gần ông. Nước ròng chảy xiết khi bắt đầu ra cửa. Sóng ở cửa mạnh hơn sóng trong sông. Chiếc vỏ lãi chồm sóng chòng chành như chực vỡ ra. Ông định bụng bỏ cuộc nhưng chùn lại vì biết cắt dây hay buông cần lúc này mười phần chiếc vỏ của ông mất trớn đột ngột sẽ chìm. Ông chau mày:

“Mày mệt chưa bưởi? Vẫn chưa sao? Tao biết mày còn sức, nhưng tao đang phờ người vừa đói vừa mệt. Mà mày chắc cũng đói phải không? Trồi đầu lên tao đưa mày lên vỏ rồi tao cho ăn, nghe không bưởi?”

Con cá không mệt cũng không nghe lời ông dụ lên vỏ để được ăn mà ngược lại cứ phom phom kéo vỏ ông chạy. Dùng chân giữ cần câu, ông cầm mái chèo cố léo lái cho thuyền nép sát bờ, khi bát khi cạy không cho con cá kéo ra cửa, thỉnh thoảng lại gác chèo nhấc cần câu lên hy vọng con cá mệt trồi đầu.

“Lên này mày.”

Con cá vẫn cứng đầu chẳng những không lên mà còn chúi xuống lội nhanh hơn. Nó lượn qua lượn lại khi bên này khi bên kia. Chiếc vỏ lãi cũng ngoằn ngoèo theo nó khi phải khi trái. Nước bắn tung tóe tràn vào vỏ.

“Nguy to, kiểu này có thể chìm bất cứ lúc nào.”

Ông cố gượng giữ chiếc vỏ thăng bằng.

“Phải chi trên bờ mình có điểm tựa để kéo nó. Thây kệ, đến nước này rồi trước sau nó cũng phải đầu hàng mình.”

Nói thế nhưng quả tình ông nghĩ ông sẽ phải đầu hàng nó vì đã quá mệt. Bao nhiêu sức lực còn lại trong thân xác ông đã chảy ra hết theo mồ hôi và cơn đói. Đột nhiên, ông cảm thấy nhói ở ngực. Đặt ống cuốn dây xuống sạp, ông đưa tay vuốt lồng ngực toàn xương sườn lổm chổm chẳng còn bắp thịt nào. Ông thở mạnh và thấy nghẹn ở tim.

“Quái lạ, chẳng lẽ lên cơn đau ngực vào lúc này.”

Cái bệnh đau ngực quái ác này thỉnh thoảng vẫn quấy rầy ông nhưng nếu ở nhà ông chỉ cần nằm nghỉ giây lát, bóp ít dầu gió là cơn đau qua đi. Nhưng ông làm được gì lúc này đang chiến đấu mất còn với con cá cứng đầu.

“Mày quá lắm, ít nữa mày cũng trồi đầu lên để tao cho mày biết mày tên gì và nặng bao nhiêu trước khi chuyện gì xẩy ra với tao.”

Cơn đau lại nhói lên. Ông bặm môi, tay cố ghì chặt cần câu, chân cố bám vững trên ván xuồng. Mồ hôi tháo ra trên trán chảy dài xuống làm cay hai con mắt già nua của ông. Cơn đau càng lúc càng tăng, ngực ông càng lúc càng khó thở. Ông đổ ụp xuống sạp, muốn buông cần câu nhưng mấy ngón tay tê dại không còn nghe theo mệnh lệnh của đầu óc ông nữa. Gốc cần câu chúi xuống, ngọn cần bật cao lên. Con cá quẫy mạnh đau đớn khi lưỡi câu giật mạnh chỗ nó bị móc. Nó quật đuôi ầm ầm. Nước sủi bọt tung tóe. Nó trồi đầu lên khỏi mặt nước, mồm há toang hoác, sợi dây câu nằm ngay giữa miệng nó. Nó đã nuốt lưỡi câu vào bụng. Nó đột ngột chúi đầu xuống lội phăng phăng lôi chiếc xuồng ngoằn ngoèo vùn vụt theo sau.

Nó đúng là một con cá Tra to lớn, nặng dễ trên hai mươi kí, một con cá khủng hay con quái thú như giới câu trẻ tuổi ngày nay thường gọi. Tiếc là khi nó trồi đầu lên ông lão không còn nhìn thấy nó được nữa để nói cho nó biết nó tên gì và cân nặng bao nhiêu.

* * *

Tinh mơ hôm sau, khi đoàn thuyền đánh cá của xóm Ghềnh rời bến qua cửa Tiểu ra khơi như mọi ngày, một người trong đám bạn thuyền ngạc nhiên nhìn thấy một chiếc vỏ lãi lật úp nằm vắt lên bờ cát ven sông Tiền. Lật chiếc vỏ lên, người ta thấy một ông lão gầy gò đã chết không biết từ lúc nào, mình ướt đẫm nước biển, hai bàn tay vẫn níu chặt một cần câu ống kiểu cũ. Men theo dây câu, người ta tìm thấy một con cá Tra to tướng cũng đã chết không biết từ lúc nào, mình cá vắt lên đám ô rô mọc tràn ven sông đang mùa ra hoa màu tím đỏ.

Trần Hữu Thuần

Grand Rapids, Michigan 10 tháng 3, 2020

Viết thêm: Một người bạn bảo tôi truyện không có hậu, đọc buồn quá. Tôi nghĩ, làm cách nào cho truyện của tôi có hậu bây giờ? Bằng cách cho ông lão bắt được con cá để ông vui, vợ ông vui, xóm làng vui chăng? Vui được bao lâu? Ông lão bán con cá được vài chục triệu vẫn không đủ tiền đưa vợ lên thành phố trị ung thư. Có thể vợ ông chết trước rồi ông cũng sẽ chết hay ngược lại. Con cá thì số phận rõ rồi, hàng vạn hàng triệu con như nó cũng đã chết chẳng ai quan tâm.

Thế thì cho ông lão chết trước hay chết sau có khác gì nhau, trong khi sự thực ở xứ mình ai nghèo cứ nghèo, ai giàu cứ giàu, tất cả đang chết.

More Stories...