Thời Báo Vietnamese Newspaper

Núi Bài Thơ

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Quê hương Việt Nam là một dải giang sơn gấm vóc của con Lạc cháu Hồng, đã là người Việt, ai cũng tự hào về điều đó. Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy nhiều địa danh, nhiều danh lam thắng tích mang tên rất đẹp, rất “hoành tráng”, rất thần thoại. Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động Tiên Sơn, Núi Thần Ðinh (Quảng Bình), Núi Thiên Ấn (Quảng Ngãi), dòng Hương Giang, đồi Vọng Cảnh (Huế)…Cũng có khi dựa vào thực tế để gọi tên, hoặc tên gọi có gốc từ tiếng của dân tộc thiểu số : Hòn Rùa, Hòn Yến, cầu Hà Ra, Tháp Bà (Nha Trang), cũng có nhiều tên gọi mộc mạc lâu ngày thành quen như Hòn Ðụn, Hòn Mun (Nha Trang).
Khi nghe ở Quảng Ninh có Núi Bài Thơ, tôi nghĩ, có lẽ quả núi đẹp, nên thơ hoặc có sự tích sao đó mới đựơc tên như vậy. Cũng như Núi Cô Tiên (Nha Trang), núi có dáng người thiếu nữ nằm xõa tóc, bầu ngực nhô cao, trên đỉnh có tượng người lính chiến, thế nên trường hạ sĩ quan Ðồng Ðế (trước 75) đã có câu:

“Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ ai”.

Khi tìm nguồn gốc Núi Bài Thơ mới biết, tên gọi quả núi không có gì kỳ bí, không có gì ẩn dụ khó hiểu, chính núi có bài thơ thật, tất nhiên bài thơ phải là của thi hào, thi bá, của nhân vật lịch sử tiếng tăm, người đời mới truyền tụng như thế.

Núi Bài Thơ nguyên gọi là Truyền Ðăng Sơn (núi rọi đèn). Thời ấy lính thú thường xuyên gác trên đỉnh núi, mỗi khi có thuyền giặc vào thì đốt lửa báo về kinh thành. Từ đó có tên Núi Truyền Ðăng. Núi là một phần bờ biển đá vôi phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, đỉnh cao 168m. 500 năm trước (1468), vua Lê Thánh Tông, cháu nội Lê Lợi, nhân một buổi tuần du qua vùng vịnh Hạ Long, thấy cảnh bắt mắt, giữa những mõm núi đá tai mèo tua tủa chỉa lên trời, có một tảng đá thẳng như vách hướng ra biển, trông rất đẹp. Nhà Vua dừng lại cho thuyền vào xem và tức cảnh sinh tình, Vua Lê Thánh Tông đã viết bài thơ Hán tự gồm 56 chữ. Bài thơ được khắc lên mặt đá phẳng, khắc liền một mạch, không ngắt câu như hiện nay chép lại. Trong 56 chữ có 21 chữ đã mờ hẳn, không thể đọc, những chữ còn lại cũng rất mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị phong hóa gần như hoàn toàn. Qua hơn 5 thế kỷ, mưa gió bào mòn, bài thơ không còn đọc được. May thay, bài thơ có chép trong thư tịch cổ, nhờ đó người đời sau mới có sử liệu chính xác mà nghiên cứu. Bài thơ được dịch ra Nôm:

Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào
Núi non, la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời
Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ
Hàm hào cửu tam (đã định)
Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió
Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên
Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt
Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững
Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.

261 năm sau, vào năm 1729 chúa An Ðô Vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê – Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua chốn này. Ông cho quân đồn trú dưới chân núi Truyền Ðăng. Ðọc thấy bài thơ của vua Lê, chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thất ngôn bát cú, lấy theo vận “yên” của bài trước, dùng lại 4 chữ “thiên” “quyền” “yêu” niên” trong bài của vua Lê.
Bài thơ của Chúa khắc theo lối chữ hành (chân) trên một tảng đá, mặt nghiêng xuống, nhờ vậy không bị mưa gió xói mòn nên còn đọc rõ cả bài.

Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy
Núi chìm xuống nước, nước tràn mây
Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng
Cảnh đẹp thần tiên một chốn này.
Mùi tanh giặc thác còn đâu đó
Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây
Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ
Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầy.
(Bản dịch của Hào Minh)

Những năm đầu thế kỷ 20 nhiều tao nhân, mặc khách vãn cảnh vùng Hạ Long, gặp bài thơ này lại cho khắc 7 bài nữa, vừa chữ Hán, vừa chữ Quốc Ngữ trên những vách đá lân cận. Ðến nay có tất cả 9 bài . Do có những bài thơ trên vách núi, dân chúng mới gọi Núi Truyền Ðăng thành Núi Bài Thơ. Viết thơ lên vách núi thì có nhiều nơi, núi Ngũ Hành, núi Bà Ðen, núi Sam…nhưng đấy là thơ dân dã, kỷ niệm riêng của một người nên không tạo được tên tuổi như Núi Bài Thơ.
Không chỉ là một tác phẩm văn học, bài thơ trên vách đá Truyền Ðăng của vua Lê Thánh Tông còn là một tuyên ngôn về hòa bình và xây dựng đất nước. Theo Giáo sư Nguyễn Huệ Chi (Viện Văn học), bài thơ có tính chất một bài tuyên cáo với thiên hạ về tư thế lịch sử của thời đại và thế đứng của triều đại nhà Lê thời Lê Thánh Tông. Bài thơ của vua Lê Thánh đã khơi nguồn sáng tạo cho hậu thế về An Bang xưa, nên người đời sau còn đến đây làm thơ để họa lại, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và tôn vinh bài thơ.
Khu vực Núi Bài Thơ trước đây gọi là phố Lò Vôi (có nung vôi bán). Cũng may chưa ai phá những bài thơ để nung vôi như có người đã phá núi Tô Thị ở Lạng Sơn! Tuy nhiên nhà dân đang “bao vây” những bài thơ, du khách khó biết thơ nơi nào. Ngày nay, phố Lò Vôi đổi tên mới là phố Bài Thơ, và còn có câu ca dao:

Hồng Gai có núi Bài Thơ
Có hang Ðầu Gỗ, có chùa Long Tiên

Dưới chân núi Bài Thơ có đền thờ vua Lê Thánh Tông và chùa Long Tiên nằm ở phía đông núi Bài Thơ, mặt quay ra biển, giáp với phố Bến Tàu cũ, nay đổi thành phố Long Tiên. Chùa được khởi công xây cất vào năm 1939 và hoàn thành năm 1942. Tuy được xây dựng vào giữa thế kỷ này, nhưng kiểu cách, kiến trúc đều theo kiến trúc thời nhà Nguyễn. Ngoài có tam quan, qua một sân rộng là bái đường, trên nóc có tượng ghép gốm, rồng chầu mặt nguyệt, hai bên là hai cung tả hữu. Chính diện trên tam quan có ba chữ nổi Long Thọ Tiên, nhân dân gọi nôm na là chùa Long Tiên. Gọi là chùa nhưng lại thờ cả Thánh. Ở chính cung thờ Ðức Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm và các chư Phật. Hữu cung thờ Ðức Trần Hưng Ðạo, tả cung thờ Vân Hương Thánh Mẫu.
Trong chùa Long Tiên có rất nhiều câu đối, đại tự được điêu khắc rất tinh vi. Các bộ đồ thờ của chùa có Bộ Cửu Long nổi tiếng, chín con rồng chầu Phật, đây là một công trình khắc gỗ độc đáo. Phía tây núi Bài Thơ còn có đền thờ đức ông Trần Quốc Nghiễn – một vị danh tướng đời Trần. Tương truyền ông được đặc cử canh giữ biên ải vùng Ðông Bắc, trấn ở vùng Hồng Gai, đã lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Nhưng tiếc thay, Ðền lại dùng làm trường “Phổ thông cơ sở Hạ Long”.
Ðấy là sự tích núi Bài Thơ, nhưng sông núi mà chỉ biết qua thơ văn, chưa đủ. Với người nhiếp ảnh, phải được “nhìn tật mắt bắt tận tay” mới thỏa dạ kiếm tìm. Một chương trình leo núi sẽ thực hiện nay mai.

Trần Công Nhung
___________________________________


TIN SÁCH
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Tran Cong Nhung
PO.Box 8391 Fresno, CA. 93747
E-mail: trannhungcong46@gmail.com
Tel: (816) 988-5040

.
.

Comments are closed.