Thời Báo Vietnamese Newspaper

Nỗi nhớ không nguôi… 10 năm Phùng Há ra đi

Soạn giả Nguyễn Phương

Nghệ sĩ Phùng Há đã ra đi ngày 05 tháng 7 năm 2009, đến nay 10 năm qua như một cái chớp mắt,
Ra đi nghĩa là không ở lại với đời nữa, ấy vậy mà Nguyễn Phương vẫn không sao viết nỗi mấy chữ Cố nghệ sĩ Phùng Há khi nói, viết về Cô Bảy, vì đối với cá nhân Nguyễn Phương và với đa số các bạn nghệ sĩ, soạn giả cải lương thì cô Phùng Há vẫn còn đó, vẫn là người chị, người mẹ nghệ thuật rất đáng kính yêu của chúng tôi.
Mỗi người có một cách riêng để tưởng nhớ người mình yêu kính. Có bạn thì làm thơ, có bạn viết lên những dòng cảm tưởng ghi trong cuốn sổ vàng nhân ngày tang lễ. Khi nghĩ đến cô Bảy Phùng Há, Nguyễn Phương có một sự nuối tiếc không nguôi và một kỷ niệm không bao giờ quên.

Một sự nuối tiếc…

Năm 2000, Nguyễn Phương mua vé phi cơ về thăm quê hương sau hơn mười năm định cư tại Canada. Tôi định sau khi viếng mồ mả ông bà cha mẹ của vợ chồng tôi và thăm bà con trong gia đình, chúng tôi sẽ đi thăm bà Bảy Phùng Há, các bạn nghệ sĩ và soạn giả từng cùng cộng tác trong đoàn hát, đến nghĩa trang nghệ sĩ và chùa nghệ sĩ, thắp nhang viếng các bạn nghệ sĩ quá cố và đến viện dưỡng lão nghệ sĩ.

Mấy ông bạn già của Nguyễn Phương ở Montréal có về Việt Nam, khuyên Nguyễn Phương đừng đem theo máy quay phim vì khi đến phi trường Tân Sơn Nhứt, họ xét hỏi lôi thôi vì họ nghi mình có mang tài liệu gì bất lợi cho họ… và khi trở về Canada, họ xét coi phim của mình quay có được kiểm duyệt chưa, nếu không có phiếu kiểm duyệt của Sở Văn Hóa thì họ tịch thu phim, tịch thu máy quay phim, gây nhiều khó khăn để đòi tiền hối lộ.
Bị hù, sợ quá, bèn bỏ cái máy quay phim ở lại Montreal, về VN kỳ đó tôi chỉ mang theo cái máy chụp ảnh digital thôi. Và vì vậy mà tôi hối tiếc mãi vì nếu có máy quay phim, tôi có thể ghi lại được bài học quý giá của cô Phùng Há kể về sân khấu tuồng Tàu hồi xửa hồi xưa…

Tôi và vợ tôi đến chùa nghệ sĩ thăm cô Bảy Phùng Há, lúc hàn huyên tâm sự, tôi hỏi:
– Thưa cô Bảy, tôi muốn mua một số sách về nghệ thuật hát tuồng Tàu, tuồng Hồ Quảng nhưng tôi tìm ở cửa hàng sách, không có. Không biết trong các trường nghệ thuật sân khấu, có sách đó không?
– Không có đâu! Ở trường nghệ thuật sân khấu thì chỉ dạy động tác hình thể khi diễn những tuồng xã hội Việt Nam, dạy xây dựng tâm lý nhân vật. Khi dạy diễn tuồng dã sử Việt Nam thì chỉ dạy theo phương pháp thị phạm, thầy dạy học trò dưói hình thức thầy diễn trước, học trò xem theo đó mà diễn theo. Đó là cách cầm tay chỉ việc, trực tiếp truyền nghề theo lối xưa nay ở các đoàn hát. Người ta dạy học viên phân tách tâm lý nhân vật rồi qua sự phân tách tâm lý nhân vật để chọn những động tác diễn tả thích hợp, chớ không theo lối dạy hát tuồng Tàu như trong thời kỳ của lứa tuổi chúng tôi.

– Thưa cô Bảy, ngày xưa cô Bảy học hát tuồng Tàu như thế nào?
– Hồi đó, trong thập niên 30, hát tuồng nào thì ông thầy tuồng dạy cho mình diễn tuồng đó. Các ông nhạc sư dạy ca theo đúng bài bản, hát tuồng Tàu thường ca theo giọng Quảng. Học diễn xuất tuồng Tàu thì phải học đánh võ thiệt, học cách múa gươm, múa thương, múa đao, trụ bộ cho đẹp như lối đánh võ thiệt. Hồi đó các anh Mười Bửu, Sáu Lực, Năm Diệp, ba nghệ sĩ nổi tiếng khi diễn các vai Quan Công, Quan Bình, Châu Xương, vì các anh được các diễn viên người Tàu trực tiếp chỉ dạy. Anh Mười Bữu dạy tôi những bộ múa Quảng, lối múa kích, lối múa lông trĩ…Nói chung khi mình mặc bộ y phục quan văn, nho sinh, sĩ tử như Mạnh Lệ Quân, Hoàng Phủ Thiếu Hoa, …thì có cách múa hát thể hiện phong cách nho nhã. Khi mặc võ phục, vào các vai võ tướng thì phải học bộ võ. Về võ tướng, có các vai cách múa bộ võ đẹp giống nhau cho các võ tướng đẹp trai, trung dũng như các vai Triệu Tử Long, Lữ Bố, Ngũ Vân Thiệu, Tiết Ứng Luông, Tiết Giao…. Vai võ như Trương Phi, Châu Xương, Châu Xáng, An Lộc Sơn…thì lối diễn bậm trợn hơn, nóng nảy hơn…động tác phải khác hơn lối diễn vai võ tướng đẹp trai. Vai “nịnh” có cách diễn của vai nịnh… Nói chung, tuồng Tàu, tuồng truyện, tuồng pho thì nhân vật đã được định hình rồi, vai nào phải diễn theo loại vai đó.
Nhân vật tuồng thì có vai vua, hoàng hậu, thứ phi, công chúa, quận chúa, mệnh phụ phu nhơn, văn quan, võ tướng, tiên ông, tiên đồng, tiên nữ, thầy rùa, thầy pháp, thư sinh, sĩ tử, tỳ nữ, gia đinh, quân sĩ, quân hầu… Vua thì có minh quân, hôn quân, vua háo sắc, vua mất ngôi…Võ tướng có võ tướng đẹp trai như Lữ Bố, Triệu Tử Long, Tiết Ứng Luông, Cao Quân Bảo…Võ tướng mặt dữ có Trương Phi, Châu Xương, Cáp Tô Văn, Tạ Ôn Đình, An Lộc Sơn…
Nghệ sĩ được đánh giá khác nhau là do sự hơn thua nhau về giọng hát, kỹ thuật ca và kỹ thuật biểu diễn tâm lý qua nét mặt và giọng nói, giọng ca. Sau này khi tôi lập gánh hát Phụng Hảo, những năm 1935, 1936, tôi được học lối hát tuồng Tàu theo lối Quảng một cách có căn bản hơn.

– Thưa cô Bảy, cô Bảy nói lúc lập đoàn hát Phụng Hảo, cô Bảy học hát tuồng Tàu có căn bản hơn…nghĩa là sao? Tôi không hiểu!
– Lúc lập đoàn hát Phụng Hảo, tôi rước nghệ sĩ tài danh Quảng Đông tên Bạch Cẩm Đường từ Hồng Kông qua Saigon để tôi học nghề. Tôi nói học có căn bản là có thẩy dạy về kỹ thuật cơ bản trong nghề hát Quảng, khác hơn những gì tôi học từ trước. Hồi đó các nghệ sĩ lấy những điệu bộ, kỹ thuật hát bội, giản lược đi, để diễn các tuồng Tàu, tuồng Sử…Sau đó học thêm một số điệu bộ của hát Quảng, học theo từng vai của các nghệ sĩ Quảng Đông qua hát ở Chợ lớn. Rồi người học trước dạy lại cho người học sau.
Đến khi tôi rước thầy Bạch Cẩm Đường qua thì ông dạy cho tôi những kỹ thuật cơ bản về lưng và bắp chân, luyện tập nhào lộn là bài học không thể thiếu. Vì tôi là đàn bà, nên việc học tập trung vào cách té, cách múa nhẹ nhàng, cách xoay mình, cách lượn tròn, cách phóng mình lên phía trước. Rồi học kỹ thuật dùng khăn, vẫy khăn, dùng khăn che ngang mày…kỹ thuật vẫy quạt, kỹ thuật sử dụng binh khí, kỹ thuật biểu diễn mão có gắn lông chim trĩ, kỹ thuật vuốt râu…

– Thưa cô Bảy, như vậy thì đào kép hồi xưa muốn diễn vai trung hay nịnh, vai hiền từ hay nóng tánh đều phải học diễn từng vai theo tính cách đó…
– Tự nhiên là vậy vì nhân vật trong tuồng đã được định hình rồi. Hồi đó ông thầy của tôi Bạch Cẩm Đường có tóm tắt mấy câu (Anh Năm Anh quản lý của đoàn Phụng Hảo ghi sổ tay dùm tôi): Hát tuồng Tàu, âm nhạc và bài ca là chuyện quan trong bậc nhất. Lời thoại đối đáp giữa các nhân vật không thể nói tự nhiên như nói chuyện ngoài đời thường mà phải ngâm nga, nhấn nhá theo tiết tấu âm điệu nhạc. Người ta gọi ngôn ngữ tuồng kết hợp với âm nhạc như vậy là ngôn ngữ đã được âm nhạc hóa.
Về điệu bộ múa may thì cũng không phải diễn như cuộc sống bình thường mà là phải nâng lên thành múa, thành vũ đạo. Người trong nghề gọi các động tác được cường điệu, được vũ đạo hóa. Ví dụ từ việc dâng trà, cách phất tay áo, tay vuốt râu, mỗi bước đi… nói chung để biểu lộ cảm xúc của nhân vật thì các điệu bộ đó phải được cách điệu hóa, được nâng lên thành vũ đạo, kết hợp nhuần nhuyễn với cách ca ngâm và hát thay cho lời đối thoại bình thường.
Trong nghệ thuật hát tuồng Tàu (theo lối hát của Hí Khúc Trung Quốc) một điểm quan trọng không thể thiếu là khi động tác hình thể được “vũ điệu hóa” và lời thoại được “âm nhạc hóa” thì tiết tấu của ca và diễn phải được “cường điệu hóa”. Tiếng trống, thanh la và tiếng mỏ đệm theo động tác diễn xuất của diễn viên làm tăng thêm biểu cảm tâm lý nhân vật mà họ thủ diễn, làm tăng thêm kịch tính của lớp diễn đó. Vì vậy tiết tấu có một vai trò đặc biệt trong việc biểu diễn hí khúc, trong việc hát tuồng Tàu. Tiết tấu kết hợp chặt chẽ với động tác hát, nói lối, diễn, đánh võ, múa bộ, đồng thời tiết tấu là một thủ pháp thiết yếu làm tăng thêm kịch tính.
Vợ tôi thấy cô Bảy mệt bèn nói với tôi: Thôi anh, cô Bảy mệt rồi. Anh để vài hôm nữa lên thăm cô Bảy rồi hỏi thêm.
Cô Phùng Há nói: Ừ! Chị Ba nói phải. Tui mệt rồi, bữa khác mình nói tiếp.
Sau đó hai vợ chồng tôi bận việc, không có dịp gặp cô Bảy. Tôi muốn biết và ghi âm các bài ca Tàu hồi xưa như: Bạc Cấm Lùng, Xách Xủi, Mành Bản, Dì Phảnh… nhưng không có máy thu hình hay máy thu thanh thành ra tôi về Canada, định lần sau về VN, sẽ thu thanh các bản Tàu đó nhưng rồi không thể thu thanh tiếng hát của cô Bảy nữa vì cô đã mất.
Soạn giả Kiên Giang gởi qua Montréal cho Nguyễn Phương bài thơ Kiếp Tằm Trả Nợ Dâu, ghi nhớ ngày tiễn đưa Cô Bảy:
Ví như tằm phải trả nợ dâu
Phùng Há dù nay đã bạc đầu
Lòng vẫn thanh xuân trong nghệ thuật,
Ơn đền nghĩa trả trước như sau.
Nợ dâu đã trả, còn vương vấn
Bao mối nợ đời: nợ nghĩa nhân
Với khán giả dù ai khuất bóng
Thủy chung, nghệ sĩ nhớ thâm ân.
Nhớ Điều Hòa, chị em cùng xóm
In gạch cho con “Xẩm” hát ca
Cám ơn khán giả trong lò gạch
Có người khuất bóng, kẻ phương xa.
Trả nợ dâu, nhớ thời lưu diễn
Những lời “cô Lựu” khắp muôn nơi
Là bao người mẹ chung đau khổ
Nuôi cháu con khôn lớn giúp đời.
Phụng Hảo oai phong vai Lữ Bố
Khúc ca “Trường Hận” An Lộc Sơn
“Đêm Dài Vô Tận”… tình vô tận
Phùng Há nức danh lượn sóng cồn.
Từ Cà Mau trở ra Hà Nội
Dù ở quê hương hay xứ người
Coi hát, ai cũng yêu nguồn cội
Kiếp tằm phải trả hết ơn đời.
Ai cũng ân nhân, cả cố nhân
Dù đường lưu diễn mấy xa gần
Nhắc Năm Châu, khó quên Phùng Há
Đường Minh Hoàng với Dương Thái Chân.
Tháng bảy năm hai ngàn lẻ chín,
Một đêm tang lễ, nghĩa tình sâu
Saigòn tiễn biệt cô Phùng Há
Trọn kiếp tằm đã trả nợ dâu.

Nay soạn giả Kiên Giang đã về cõi vĩnh hằng, cô Bảy Phùng Há cũng đã xa quá xa rồi! Mười năm sau ngày mất của cô Phùng Há, tôi nhớ lại bài học về thuật hát Hí Khúc Trung Quốc, tôi ghi lại không biết có giúp ích gì cho các bạn nghệ sĩ trẻ không.

Việc ghi nhớ lần nói chuyện cuối cùng của bậc thầy nghệ thusật sân khấu của tôi chỉ là một sự biểu lộ lòng nuối tiếc không nguôi của một đệ tử sân khấu đối với minh sư Phùng Há.

Soạn giả Nguyễn Phương
Tháng 7/2019

Comments are closed.

error: Content is protected !!