NỖI LÒNG NGƯỜI MẸ

Nếu viết tiểu sử ông Vũ Cương thì đại khái nó cũng giống như rất nhiều người cùng thế hệ ông ở Miền Nam. Ông tuổi Sửu, sinh năm 1949, chưa kịp lấy vợ thì Sài gòn sụp đổ. Ông đi cải tạo 3 năm rồi vượt biên đến Mã Lai đầu năm 1979 lúc ở quê nhà vừa xẩy ra cuộc chiến tranh biên giới Hoa Việt. Nhà cũng đông anh em, nhưng mọi người đều đồng ý gom góp vốn liếng để dành ưu tiên cho ông ra đi một mình vì ông không còn hộ khẩu thành phố, địa phương cứ hối thúc ông đi vùng kinh tế mới. Đến trại tỵ nạn, đúng 30 tuổi, ông không có một người than nào. Nhưng duyên phận đưa đẩy, cùng dãy nhà tôn ông nằm, có một thiếu nữ hiền lành tên Hiếu thua ông 5 tuổi, cũng đi một mình. Ngày nào hai người cũng gặp nhau suốt mấy tháng trời, không thân thì ít nhất cũng thành quen. Trại tỵ nạn nằm trên đất liền, vừa do chính phủ Mã Lai bất đắc dĩ dựng lên với 5 dãy nhà lợp tôn. Mọi sinh hoạt đều do mỗi gia đình hoặc từng cá nhân tự túc, không có bất cứ nguồn tài trợ nào từ bên ngoài. Cũng may là lúc ấy hải tặc Thái Lan chưa tung hoành trên biển, nên đại đa số thuyền nhân vẫn còn giấu được chút vàng hoặc dollar, nhét trong gấu áo gấu quần rồi vào trại, đem đổi cho Mã Lai lấy tiền địa phương tiêu dùng. Nhiều gia đình gốc Hoa mua tàu đi bán chính thức, tài sản mang theo gần như nguyên vẹn.

Sáng sớm, mặt trời chưa lên, đã có những gánh hàng mang rau cỏ thức ăn và đồ dùng nhà bếp, kéo đến bên hàng rào kẽm gai dựng bao quanh trại, họp thành một cái chợ nhỏ để bán cho thuyền nhân bên trong. Người không có vốn hoặc lười nấu nướng thì mì gói là món ăn thường trực. Hiếu thì siêng năng hơn, lại sẵn tiền trong túi nên sáng nào cũng ra hàng rào mua rau tươi về luộc hoặc nấu canh. Ngồi ăn một mình, Hiếu thấy áy náy lắm. Hôm ở nhà ra đi, tưởng sẽ gặp nhau trên tàu, nên bố mẹ Hiếu giao hết bọc tiền và mấy cây vàng cho Hiếu. Bây giờ nàng đi thoát, cha mẹ và đứa em trai không biết số phận ra sao. Dù không bị bắt mà quay về thì cũng đã cạn hết vốn rồi! Cho nên lắm khi Hiếu vừa ăn vừa khóc vì thương gia đình.

Mỗi khi Hiếu ngồi nấu bếp bên hàng rào, Cương thường đến nhờ Hiếu đun giùm nồi nước sôi để ăn mì gói. Hiếu dễ dãi đồng ý vì biết Cương cũng một thân một mình như Hiếu. Đó là cách làm quen đơn giản để Cương có cớ lân la gợi chuyện, tìm hiểu thêm về nàng. Các chuyến tàu vượt biển đưa người vào trại, hầu như mỗi tháng đều có. Những chiếc ghe nhỏ của một gia đình chỉ vài người, hoặc những thuyền lớn chở cả trăm nhân mạng. Chỉ có điều là ít khi nào thấy có người con gái đi một mình như Hiếu, bởi thời ấy, vượt biên là ưu tiên của đàn ông, nhất là thanh niên đến tuổi nghĩa vụ. Một hôm Cương nêu thắc mắc thì Hiếu buồn rầu giải thích:

– Em đâu có đi một mình! Ba gia đình hùn nhau đóng tàu vượt biển. Đi chui cho nên gia đình nào cũng phải chia thành nhiều nhóm nhỏ, hẹn nhau ở bến, rồi sẽ có người đưa xuống ghe. Nhưng chắc là lạc nhau hoặc bị bắt nên lúc em đến điểm hẹn thì chỉ có mấy người hàng xóm. Bố mẹ em và thằng em trai không thấy đâu. Tàu không chờ được, đành phải khởi hành! Giờ này em cũng chẳng biết tin tức gì về bố mẹ em!

Được Hiếu giãi bày tâm sự, Cương phấn khởi hỏi thêm một câu không cần thiết:

– Thế cái gia đình đi chung với Hiếu đâu rồi?

Hiếu xoay người chỉ tay về phía xa xa và nói:

– Họ ở dãy B. Lúc nhập trại, dãy B chỉ còn chỗ trống cho một gia đình 4 người. Em muốn ở chung với họ nhưng Ban Điều Hành đưa em ra dãy này.

Việc Cương làm thân với Hiếu được Hiếu đáp lại dễ dàng bởi vì chính Hiếu cũng đang cần một người đồng hành. Trại tạm cư này chưa được nằm trong sự quản lý của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, nên vẫn do cảnh sát Mã Lai điều hành. Con gái đi một mình rất dễ trở thành miếng mồi rình rập của họ mà nếu chẳng may xẩy ra chuyện gì thì không kêu ca vào đâu được. Tình hình bất trắc như thế, nên ai cũng chỉ mong rời trại đi định cư. Đó là chưa kể cuộc sống thực tế trong trại cũng rất phức tạp. Tỷ lệ con gái quá ít so với thanh niên. Hiếu cần tắp vào một cái bến nào đó để chấm dứt sự theo đuổi của nhiều gã đàn ông khác. Cái bến ấy là Cương, nếu Cương ngỏ lời. Cương có cái lợi thế là làm việc cho Ban Điều Hành chung với cảnh sát Mã Lai, nên ngay cả du đãng trong trại cũng phải nể. Họ không nể Cương, nhưng sợ cảnh sát Mã Lai vốn rất tàn bạo.

Khi thấy mình đã đủ thân, một hôm Cương bạo dạn đến ngồi bên cạnh Hiếu trước cái bếp lửa nàng đang luộc hột gà. Cương tha thiết đề nghị:

– Anh thuộc diện sĩ quan cải tạo, ưu tiên được đi Mỹ. Nhưng chờ đi Mỹ thì lâu lắm vì số người xin đi quá đông. Canada nằm sát ngay bên cạnh Mỹ. Nếu Hiếu  muốn đi Canada cho mau thì mấy hôm nữa khi phái đoàn Canada đến phỏng vấn, Hiếu vào chung với anh, anh sẽ giới thiệu Hiếu là… người yêu hay là họ hàng. Canada nhận người tương đối dễ. Mà đã được nhận thì chỉ mấy tháng là mình lên đường!

Lúc ấy ở trại tỵ nạn, thiếu nữ độc thân là một ưu tiên lớn mà rất nhiều quốc gia muốn đón nhận, chẳng hạn như Úc. Hiếu chả biết gì về các nước ấy nên không dám đi, nhất là bơ vơ một mình. Giờ nghe Cương thuyết phục hợp lý mà nhìn mặt Cương thì lại thấy rõ Cương thật thà, nên Hiếu nhận lời ngay. Nàng rất tin tưởng ở Cương vì Cương làm trong ban thông dịch mỗi khi có phái đoàn đệ tam quốc gia đến phỏng vấn. Ai cũng khen Cương thuộc loại giỏi vì trước đây có học ở Hội Việt Mỹ ở Sài Gòn. Hiếu gật đầu bảo:

– Anh nhớ xin định cư ở vùng nào ấm. Em nghe bảo Canada lạnh lắm!

Cương mừng quá, say sưa đáp:

– Dĩ nhiên rồi! Anh cũng sợ lạnh! Anh sẽ xin họ cho về phía Tây, nằm sát biển Thái Bình Dương. Phía miền Đông lạnh lắm. Hồi nhỏ đi học, hễ nhắc đến Canada thì mình chỉ biết có Montreal vì lấy tài liệu giáo khoa của Pháp. Bây giờ mới biết Montreal nằm ở phía Đông nhiều tuyết lắm!

Cương miên man nói thì Hiếu ngắt lời:

– Hỏi thật anh, anh có vợ chưa? Anh còn độc thân hay anh đi một mình, để vợ lại?

Câu hỏi này rất chính đáng vì lúc này đang là thời điểm người Hoa ào ạt ra đi. Nhiều người Việt thuần túy móc nối được với chủ tàu, nộp vàng, mua giấy tờ giả và đi ké. Những chuyến đầu tiên thường rất đắt, mỗi đầu người thường trên 10 lượng. Cho nên nhiều cặp vợ chồng phải hy sinh để chồng đi trước. Trong trại này hiện có khá nhiều trường hợp như vậy cho nên Hiếu nêu thắc mắc cũng là phải. Cương vội xua tay cười đáp:

– Anh độc thân thứ thiệt! Chưa lấy vợ bao giờ!

Hiếu nhìn Cương và mỉm cười. Thế là Cương không phải tỏ tình mà vẫn có được một chuyện tình lớn. Từ hôm đó, hai người nhập lại với nhau, góp gạo thổi cơm chung. Hiếu nấu ăn cho Cương. Để bù lại, ngày ngày Cương ra giếng múc nước cho Hiếu tắm và giặt quần áo. Dãy nhà tập thể càng ngày càng chật, giang sơn mỗi cá nhân chỉ được một cái chiếu nhỏ. Không sao! Cương di chuyển lại nằm sát bên Hiếu nên càng chật càng tốt! Một ông người gốc Hoa nằm kế bên Cương mấy tháng nay, kinh ngạc nhìn Cương bảo:

– Công nhận ông hay thiệt! Mới đó mà đã dê được con nhỏ Hiếu!

Mấy hôm sau, phái đoàn Canada đến trại, Cương dẫn Hiếu vào xin phỏng vấn và giới thiệu Hiếu là fiancée. Ông đại diện Canada nghe Cương nói tiếng Anh lưu loát, hân hoan bắt tay hai người và thân mật nói:

– Welcome to Canada!

Quả đúng như Cương phỏng đoán, chỉ 6 tháng sau, hai người qua Canada định cư vào mùa thu 1979. Vì thuộc diện chính phủ bảo lãnh nên mỗi tuần được phát tiền ăn tiền mướn nhà và Hiếu được đi học Anh văn một năm. Để ổn định cuộc sống, hai người quyết định làm hôn thú và tổ chức tiệc cưới đơn giản ở một tiệm Tàu mà khách mời chỉ có vài người mới quen. Cô dâu 25 tuổi, chú rể 30. Đó là một chuyện tình viễn xứ mà ai cũng khen ngợi là thơ mộng và lãng mạn!

Thời gian trôi nhanh, mới đó mà đã gần 40 năm. Ông Cương đi làm liên tục và vừa về hưu ở tuổi 67. Đáng lẽ ông đã nghỉ ở đúng tuổi 65, nhưng công ty giữ ông lại thêm 2 năm để huấn luyện cho người mới được tuyển vào thay ông. Tuổi 67, nhưng ở hải ngoại ông trẻ lắm. Huống chi ông lại thường xuyên năng động nên vẫn còn rất nhanh nhẹn và minh mẫn.

Ba mươi sáu năm chung sống, ông bà Cương có tất cả 4 người con. Hai đứa đầu là con trai, ông đặt tên là Cung và Cầu, sinh cách nhau 2 năm. Sau đó, bà Cương nhận ra một điều là ở hải ngoại, đẻ con gái có lợi hơn con trai rất nhiều, nhất là khi đất nước không có chiến tranh. Bà bảo chồng:

– Con gái khi còn nhỏ thì gần gũi cha mẹ, lớn lên ra đời rồi cũng nặng tình cảm gia đình, báo hiếu nhiều hơn con trai!

Ông Cương không quan tâm trai hay gái. Ông bảo:

– Cũng tùy đứa! Cha mẹ sinh con, trời sinh tính! Các cụ vẫn bảo thế! Cha mẹ nào có phúc có phận thì có con hiếu thảo chứ chả gì là trai hay gái! Thiếu gì cha mẹ hết lòng vì con mà con vẫn bạc bẽo! Ngược lại có những cha mẹ chẳng ngó ngàng gì đến con mà con vẫn tận tình phụng dưỡng!

Bà Cương không nói gì nhưng trong thâm sâu vẫn muốn có đứa con gái. Nhưng trời không chiều lòng bà: Đứa thứ ba lại vẫn là con trai. Ông Cương đặt tên là Luật. Ở Canada, một gia đình có 3 đứa con là nhiều rồi, nhưng bà Cương cố gắng thêm một lần nữa. Bà bảo chồng:

– May ra lần này mình có con gái. Mà nếu chẳng may sinh con trai thì cũng vẫn tốt. Nhà có năm con gái thì gọi là ngũ long công chúa. Có bốn con trai thì kêu là tứ quí. Cả hai thứ đều tốt như nhau. Nhưng lần này tôi chắc là con gái vì hôm tôi đi xem bói bài, bà thầy bói quả quyết với tôi đứa tới sẽ là con gái.

Ông Cương lắc đầu cười bảo:

– Bói bài làm sao mà biết được con trai hay con gái. Chẳng qua là vì thầy bói biết bà đang mong con gái nên mới nói thế để bà vui lòng và để bà cho thêm tiền tip đấy thôi!

Bói toán vớ vẩn mà không ngờ lại trúng. Quả thực lần này trời cho bà đứa con gái. Bà mừng quá, ôm con sụt sùi khóc. Ông Cương nhìn vợ, xúc động đặt tên con gái là Mỹ Lệ để nhớ những dòng nước mắt hạnh phúc của vợ. Cung, Cầu, Luật, Bốn cái tên ấy có lẽ chỉ là vô tình nhưng ai nghe cũng thấy buồn cười.

Bà Cương tuy vất vả với 4 đứa con, nhưng bà vui lắm, vì đám trẻ càng lớn càng hiện rõ nét khôi ngô và chăm chỉ. Đặc biệt hơn cả là tuy sinh ở nước ngoài, nhưng nhờ gia đình gắn bó và nhờ các lớp Việt ngữ nên đứa nào cũng nói tiếng mẹ đẻ gần như ở quê nhà. Bây giờ khi ông Cương về hưu rồi thì gia đình bà lại càng đầm ấm hơn bởi cả 4 đứa đều đã học thành tài.

Buổi trưa hôm ấy, một ngày nắng dịu mùa Hè, bà Cương vừa đi Chùa về, thay áo dài rồi xuống bếp hâm thức ăn bà nấu từ hồi sáng. Lệ cũng vừa dạy xong lớp Việt ngữ 2 tiếng đồng hồ theo thông lệ mỗi sáng Chủ nhật. Năm nay Lệ đã 24 tuổi và đã xong đại học. Cả 4 anh em đều vẫn ở chung với cha mẹ trong căn nhà ông bà Cương mua lúc giá còn rất rẻ, nới rộng ra phía sau để làm thêm hai buồng ngủ. Sáng nay khi bà Cương đi chùa, Lệ đi dạy học thì hai anh em Cung, Cầu chở nhau đi câu cá. Dân Canada ai cũng quí mùa hè ngắn ngủi nên đều tận dụng để ra ngoài. Cậu con thứ 3 là Luật cũng đi chợ trời từ sớm giờ chưa về. Chợ trời chỉ mở mùa Hè, bán những thứ vớ vẫn rất ít người mua, nhưng lại có nhiều món ăn ngon và lạ, thu hút khách đông đảo từ sáng sớm.

Lệ vào bếp phụ mẹ dọn cơm và hỏi cho có chuyện:

– Chắc bố lại đi họp?

Bà mẹ chép miệng thở dài:

– Chủ nhật nào chả đi họp! Mấy chục năm rồi, hết hội đoàn này đến hội đoàn khác. Vẫn không chán! Lạ quá!

Lệ dịu dàng bảo:

– Bố bảo tại bố tuổi Sửu cho nên vất vả! Nhưng mà bố bây giờ về hưu rồi. Thôi cứ để bố gặp bạn bè cho qua thì giờ. Mẹ cũng đừng cằn nhằn nữa!

Lệ nói thế vì quả thực bà Cương vẫn thường hay than phiền chồng vì ông tốn quá nhiều thì giờ cho sinh hoạt cộng đồng mà bà không thấy có ích lợi gì cả. Lâu dần bà đành phải tin đó là cái nghiệp hay đúng hơn là cái nợ bám theo chồng bà suốt mấy chục năm nay và có lẽ sẽ kéo dài cả cuộc đời. Tập thể nào hình như cũng có những người xả thân như vậy. Ngày ông mới sang đây, thành phố này chỉ có vài trăm người Việt. Từng nhóm nhỏ gặp nhau cuối tuần ở một gia đình nào đó, họp mặt ăn uống, kết thân với nhau, cuộc sống tha hương nói chung là êm đềm vì chưa có hội đoàn. Cựu quân nhân các cấp nếu tập trung lại thì cũng có đến gần 100 người vì hầu như gia đình nào cũng có ít nhất một người lính trước năm 1975. Điểm nổi bật của ông Cương là ông ở lại Việt Nam và đi cải tạo đến 3 năm trong khi những cựu quân nhân khác đều đi từ năm 1975, không hiểu rõ tình hình quốc nội như thế nào sau khi Miền Nam sụp đổ. Thời ấy ra đi là kể như vĩnh biệt. Hai thế giới cách biệt, không có bất cứ thông tin nào từ trong nước truyền ra ngoài. Ông Cương trở thành nhân vật quan trọng, nổi bật lên như một vì sao sáng, mặc dầu ngày trước ông chỉ là thiếu úy ở đơn vị tác chiến tiểu đoàn địa phương quân. Ông ngồi kể chuyện quê nhà và mọi người chăm chú lắng nghe. Ông nói rành mạch, lôi cuốn, nhắc đến những từ ngữ mới lạ từ miền Bắc đem vô Sài Gòn khiến ai nghe cũng bật cười. Trong cái không khí hứng  khởi ấy, anh em thúc giục ông đứng ra thành lập Hội Cựu Chiến Sĩ và dĩ nhiên ông trở thành Chủ Tịch đầu tiên của Hội. Bà Cương tức là Hiếu, cô dâu mới, năm ấy mới 26 tuổi, ngây thơ hỏi:

– Anh làm chủ tịch có lương không? Mỗi tháng họ trả được bao nhiêu?

Ông Cương lắc đầu cười:

– Làm gì có đồng nào! Vì trách nhiệm, vì tình chiến hữu thôi!

Bà Cương chiều chồng nên không dám có ý kiến nữa, chứ thật ra trong lòng bà không vui tí nào. Hai vợ chồng mới chân ướt chân ráo đến xứ lạ lập nghiệp, cần nỗ lực tối đa để gây dựng cuộc sống. Huống chi còn bao nhiêu nỗi lo âu đang đè nặng trong lòng bà vì bố mẹ và cậu em bị bắt hôm vượt biên, giờ này vẫn chưa được tha. Cái apartment nhỏ của ông Cương hầu như thứ bảy hoặc chủ nhật nào cũng biến thành nơi họp mặt của chiến hữu. Nước trà, cà phê, có khi cả rượu bia và đồ nhậu, bà phục vụ liên tục để làm vui lòng chồng. Cũng may là ngày thường ông Cương vẫn siêng năng đi làm, nên bà không nỡ cằn nhằn. Nhất là một chiến hữu trong Hội của ông, giới thiệu ông vào làm ở công ty sản xuất các mặt hàng trang trí đặc sản của Canada, nơi anh ta đã làm từ ngày đặt chân sang đây. Nhờ tiếng Anh khá, ông Cương được thu nhận ngay và thăng tiến rất nhanh. Ông trở thành trưởng nhóm, làm sếp của chính cái người đã đưa ông vào!

Từ đó, như cái ách tự đeo vào cổ, ông Cương cứ liên tục bỏ thì giờ, công sức và đôi khi cả tiền bạc lo cho Hội mà ông là người sáng lập. Hễ không làm chủ tịch thì lại trở thành cố vấn. Ăn cơm nhà vác ngà voi mà đôi khi cái ngà voi đó lớn quá, nặng quá, vác không nổi! Mới năm thứ hai, lần đầu tiên bà Cương choáng váng nhận lá thư rơi mạt sát chồng bà gửi đến tận nhà. Đó là vào cái thời chưa có internet. Bây giờ thì tên ông lâu lâu lại xuất hiện trên vài trang mạng mà chỉ toàn lời chê bai chống phá! Mỗi lần như thế, bà Cương run run bảo chồng:

BRA200258_local_728x90_A

– Bỏ đi ông ạ! Ông phục vụ như vậy là quá đủ rồi!

Ông nai lưng ra làm việc mà chúng nó bảo ông tham quyền cố vị! Có quyền gì đâu mà tham!

Nghe lời vợ, ông nghỉ được một thời gian vì bà vừa sinh đứa thứ ba. Rồi bạn bè lại lôi ông ra! Họ bảo:

– Hội do ông lập ra, là đứa con tinh thần của ông! Ông bỏ sao được. Ông đừng quên ông là chủ tịch sáng lập. Anh em lúc nào cũng cần ông!

Ông nghe lại thấy bùi tai nhưng sợ vợ nổi nóng nên ông chỉ nhận chức cố vấn mà thôi. Rồi cộng đồng càng ngày càng đông, thêm nhiều hội đoàn khác thành hình và ông có mặt trong ban chấp hành của mấy hội đoàn nữa vì ai cũng bảo ông nhiều kinh nghiệm! Bà Cương lên tiếng trách thì ông phân trần:

– Tôi có sao nhãng việc làm đâu! Cuối tuần bỏ ra ít thì giờ hoạt động với anh em, chứ ở nhà làm gì!

Bà Cương gắt nhẹ:

– Tôi không cấm ông hoạt động. Mà có cấm ông cũng chẳng nghe! Nhưng tôi thấy vô lý ở chỗ là đã làm việc không công mà cứ lâu lâu ông lại bị chửi là thế nào!

Nói thật với ông, tôi thấy trên đời này chẳng có cái dại nào bằng cái dại này!

Bà ấm ức cũng đúng bởi chồng bà là người rất đường hoàng, giữ gìn tác phong, không bao giờ dèm pha hay ám hại ai thế mà vẫn có kẻ thù! Thời gian trôi nhanh, mấy đứa con trưởng thành rồi, đều đồng ý với mẹ nhưng không đứa nào dám lên tiếng với bố. Tất cả đều ngạc nhiên vì hình như càng bị chửi, ông Cương càng tự ái và nhất định không chịu rút lui!

Bà Cương có người em trai tên Thảo, ngày đó định vượt biển chung với bà, nhưng bị bắt cùng với cha mẹ trước khi đến điểm hẹn. Sau này Thảo lại tổ chức vượt biên thêm 2 lần nữa và lần thứ 3 thì thành công. Thảo xin đi Mỹ nhưng vì có chị ruột là Hiếu, tức bà Cương, ở Canada nên Thảo phải đi Canada và đến ở cùng thành phố với chị. Thảo học college 2 năm rồi làm salesman tức là đi chào hàng cho một công ty thực phẩm của Canada ở nhiều thành phố. Những ngày rảnh rỗi Thảo hay sang nhà chị và là người thân duy nhất để bà Cương tâm sự. Bà Cương buồn rầu bảo:

– Cuối tuần cậu sang đây thì chỉ gặp chị với các cháu thôi, chứ chả bao giờ gặp anh Cương đâu. Cứ thứ bảy chủ nhật là đi họp liên miên!

Bà Cương ấm ức nên nói hơi quá lời chứ thật ra Hội Cựu Chiến Sĩ của chồng bà đâu có bận rộn đến như vậy! Mỗi năm chỉ có vài sinh hoạt định kỳ như tổ chức ngày 30 tháng 4, ngày 19 tháng 6 và ra tờ báo Xuân. Lâu lâu mới đi biểu tình. Xét ra đâu có bận rộn gì lắm! Nhưng ông Cương quen nét văn hóa SàiGòn thuở trước, thích gặp mặt bạn bè trà dư tửu hậu để nhắc chuyện ngày xưa. Bà Cương không hài lòng vì thấy ông thiếu trách nhiệm gia đình. Đáng lẽ ông phải dành nhiều thời giờ cho các con, đưa chúng nó đi chơi ngày cuối tuần, nhất là mùa Hè ngắn ngủi. Những công việc ấy ông đùn hết cho bà, thậm chí các con đi học bơi và học tiếng Việt, bà cũng phải đưa đi.

Nghe chị than, Thảo hững hờ đáp:

– Em đi nhiều, em biết. Thành phố nào cũng có những người hăng say hoạt động như anh Cương!

Bà Cương phân trần:

– Chị có cấm anh ấy hoạt động đâu! Chị chỉ bực là tại sao vô cớ bị chửi mà vẫn cứ làm. Ngày trước thì thư nặc danh. Bây giờ thì trên internet!

Thảo cười bảo chị:

– Cái qui luật nó như thế chị ạ! Người Việt mình trọng danh chứ không trọng tiền. Chưa có ông tỉ phú, triệu phú nào bị lôi ra chửi. Chỉ những ai có chút hư danh là bị ném đá, dù thực tế họ nghèo xác xơ! Em nhớ Nguyễn Du đã viết “Hư danh vị phóng bạch đầu nhân”. Nghĩa là cái hư danh theo bám người ta, đến lúc bạc đầu vẫn không buông tha! Anh Cương lao ra hoạt động, thì sớm muộn gì cũng bị chửi!

Bà Cương ấm ức bảo:

– Nhưng anh ấy đàng hoàng lắm, có làm gì sai đâu!

Thảo đáp ngay:

– Không cần biết đúng hay sai! Có người chửi anh ấy chỉ vì ngứa mắt thôi! Canada mình vốn được tiếng là hiền hòa đấy chị! Nhiều thành phố bên Mỹ còn đánh phá nhau bạo hơn nhiều! Anh Cương cũng biết như thế và chắc cũng đã quen rồi!

Có lẽ Thảo nói đúng. Cái nợ cộng đồng của ông Cương kéo dài mãi cho đến bây giờ, sau khi đã về hưu. Chính ông cũng không ngờ năm tháng trôi qua nhanh như vậy. Tóc ông đã rụng bớt nhiều và da mặt đã điểm vài chấm đen đồi mồi. Về hưu, ông có nhiều thì giờ hơn nên gặp mặt chiến hữu thường xuyên hơn. Những chiến hữu đa số cũng đã về hưu như ông, ngày ngày gặp nhau không quên mang theo thuốc tiểu đường, cao máu và cholesterol. Chỉ có điều là đã lâu lắm rồi, bà Cương nhất định không cho chồng tiếp khách ở nhà nữa từ khi các con cần yên lặng để học hành. Bây giờ dù các con đã lớn cả, đã học xong cả, bà vẫn duy trì cuộc sống riêng tư, nên bảo ông Cương đi họp chỗ khác. Hội Cựu Chiến Sĩ không có tài trợ của chính phủ nên không mướn nổi trụ sở. Niên liễm hội viên thì quá ít, không đủ tiền tem thư. Muốn họp thì nay nhà này mai nhà khác, hoặc hôm nay, chả có gì quan trọng nên các ông kéo nhau ra cà phê Tim Hortons vừa họp vừa ăn sáng.

Bà Cương và Lệ ngồi vào bàn ăn. Bữa cơm trưa đơn giản chỉ có món đậu hũ chiên ướp xả và bát canh rau mùng tơi nấu với tôm tươi. Bà Cương không đói, vì lúc nãy đã ăn tô bún bò Huế chay trên chùa. Chùa có dãy nhà ăn khang trang ở sân sau, Phật tử nấu nhiều món rất ngon, trong đó bún bò Huế là một tuyệt chiêu mà người ta bảo là ngon hơn bún bò Huế mặn! Lần nào lên đây, bà Cương cũng phải ăn một bát, nhất là sáng nay khi vừa bước vào nhà ăn, bà rất mừng gặp lại người bạn cũ. Bây giờ bà vui vẻ kể lại với con:

– Rằm tháng trước mẹ lên chùa, gặp bà Lượng. Con còn nhớ bà Lượng không?

Lệ cười đáp:

– Con nhớ chứ! Bác Lượng làm sao con quên được!

Bạn thân của mẹ mà! Hồi con còn bé, bác hay sang đây chơi với mẹ, nhiều hôm ở lại ăn cơm với gia đình mình. Bác ấy hay mua quà cho anh em chúng con!

Bà Cương gật đầu nói:

– Ừ! Hôm nay mẹ lại gặp ở chùa. Lúc ngồi ăn với mẹ, bà ấy bảo mẹ: Lạ quá bà nhỉ! Tôi với bà thân nhau như thế, bà có 3 cậu con trai. Tôi có 2 đứa con gái. Hồi nhỏ chúng nó chơi chung với nhau. Thế mà lớn lên, chả đứa nào nhìn đứa nào. Gặp nhau cứ y như người xa lạ! Tôi tiếc lắm! Lúc nào tôi cũng chỉ muốn làm thông gia với bà mà không được! Mẹ mới bảo, tôi cũng tiếc lắm chứ chả riêng gì bà. Nhưng trẻ con bên này nó khác với chúng mình thời trước. Cha mẹ muốn cũng chả được!

Bà Cương ngừng lại một chút rồi kể tiếp:

– Bà ấy cứ hỏi thăm mãi thằng Cung. Bà ấy còn nhớ rõ anh Cung con năm nay đã 32 rồi mà bà ấy chờ mãi chả nhận được thiệp cưới!… Mẹ nhớ lại cách đây mấy năm, bà ấy cứ gợi ý xa gần với mẹ là muốn gả con My con gái đầu lòng của bà ấy cho thằng Cung. Mẹ hỏi ý thằng Cung thì nó chỉ lắc đầu cười! Bố con cũng hết lời khen con My con bà Lương, vừa đẹp vừa ngoan, nhưng thằng Cung cứ lờ đi!

Ngừng lại một chút để uống nước, rồi bà hãnh diện nói tiếp:

– Mà chả riêng gì bà Lượng. Mấy bà dạo trước làm cùng chỗ với mẹ, bây giờ có con gái lớn, cũng cứ hỏi thăm mẹ về anh Cung của con. Ấy là chưa kể mấy ông bạn trong Hội của bố con cũng muốn làm thông gia với nhà mình mà thằng Cung cứ chập chà chập chờn, giới thiệu ai nó cũng chả bằng lòng, làm mẹ sốt cả ruột vì nó đã trên 30 rồi!

Lệ ngắt lời mẹ:

– Ba mươi thì cũng vẫn còn trẻ lắm mẹ ạ!

Bà Cương nhấn mạnh:

– Bên này thì còn trẻ, chứ bên Việt Nam thì thằng Cung nhà này kể như ế vợ rồi!

Lệ rót thêm nước lạnh trong chai ra ly cho mẹ. Bà uống ngay thêm một hớp lớn.

Lệ nhận xét:

– Mẹ khát nước như thế thì chắc là bún bò Huế chay nhiều bột ngọt lắm!

Bà Cương cười bảo:

– Mẹ cũng biết thế! Các món chay thì thường là nhiều bột ngọt. Nhưng lâu lâu mình mới ăn một lần chứ đâu phải ngày nào cũng ăn!

Vì là con út, lại là con gái duy nhất nhất Lệ rất gắn bó với mẹ. Có thể nói là tay hòm chìa khóa của bà Cương. Tiền bạc bà không kiếm ra nhiều, chỉ mới gần đây khi các con đều đi làm, hàng tháng tặng cho bà, bà mới dư dả. Có bao nhiêu bà đều giao hết cho Lệ. Gửi ngân hàng cũng đứng tên con gái.

Nghe mẹ nhắc đến Cung và tha thiết mong Cung lập gia đình, Lê đắn do suy nghĩ một chút rồi ngẩng lên nhìn mẹ nói:

– Anh Cung bóng mà mẹ! Anh ấy đâu có thích đàn bà!

(Còn tiếp)

More Stories...