Những chuyện đáng suy ngẫm

Chuyện người chồng Việt và người vợ Ý thời Covid
Năm 1972, cậu Trương Văn Dân 19 tuổi, nguời gốc Bình Định, từ Sài Gòn sang Ý du học. Ở đấy, cậu gặp cô Elena Pucillo, 16 tuổi. Năm 1985 tức 13 năm sau, 32 tuổi, ông Dần là một giảng viên đại học kiêm việc viết văn, còn cô Elena 29 tuổi cũng là một nhà văn nổi tiếng tại Ý, họ sang làm đám cưới tại Việt Nam.
Thế rồi đến tháng 12/2019, ông Dân nay đã 66 tuổi và bà Elena Pucillo 63 tuổi, sang thành phố Milan vùng Lombardy quê nhà ra mắt cuốn sách của bà, ăn Noel và Tết dương lịch ở đó. Sau Tết, ông về nước, còn vợ ở lại tiếp tục lo việc bán sách.

Đến đầu tháng 3/2020, Covid-19 bùng phát mãnh liệt ở Ý. Thành phố Milan và vùng Lombardy quê hương trở thành tâm dịch, số người chết tăng lên từng ngày. Ngày 24/3/2020, số người tử vong vì đại dịch Covid-19 ở Italy đã lên gần 7.000 người, cao gấp đôi Trung Quốc. Bà Elena đặt vé máy bay trở sang Việt Nam nhưng cuối cùng bị kẹt lại.
Ông Dần kể: “Nếu ở Việt Nam tôi sẽ được an toàn nhưng suốt ngày sẽ phải lo lắng cho vợ ở Ý”.
Biết vợ bị kẹt giữa vùng dịch nghiêm trọng nhất thế giới lúc đó, lòng ông Dần nóng như lửa đốt. Cuộc hôn nhân hơn 35 năm của ông bà tuy cũng đã trải qua nhiều sóng gió, như vấn đề khác chủng tộc, khác tôn giáo, khác phong tục tập quán chẳng hạn nhưng rồi cũng vượi qua, chưa bao giờ khiến ông mất ngủ nhiều như vậy. Ông nói: “Bà ấy ở nhà một mình, lỡ chẳng may bị nhiễm bệnh sẽ chẳng có ai bên cạnh chăm sóc”. Ông Dần suy nghĩ và quyết định bay về Milan.
Ngày 12/3, ông báo tin đặt vé trở lại Ý cho vợ biết dù vợ rất phản đối. Chuyến bay dự kiến cất cánh vào ngày 16/3. Lúc ấy, Ý đã trở thành ổ dịch lớn thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc. Ông kể: “Điều tôi lo lắng nhất là quá trình di chuyển sang Ý, nếu mình bị nhiễm bệnh sẽ lây cho vợ. Hoặc nếu có gì bất trắc, chúng tôi sẽ phải chia lìa”. Giọng ông Dần chùng xuống. Nhưng ông chưa kịp bay thì vé bị hủy.
Ông Dân tiếp tục đặt vé lần thứ hai, chấp nhận giá vé tăng cao gấp nhiều lần. Đường bay của chuyến này dự kiến sẽ phải quá cảnh ở Singapore và Đức rồi mới đến Milan. Vừa đặt xong vé, ông chưa kịp mừng thì hãng báo tin chuyến bay bị hủy.
Không bỏ cuộc, lần thứ ba ông Dần nhờ một người bạn làm trong ngành du lịch đặt vé giúp. Chuyến bay dự kiến khởi hành chiều 14/3 tại sân bay Tân Sơn Nhất, quá cảnh ở Belgrade (Serbia – Nam Tư cũ) rồi chuyển sang hãng khác để tiếp tục bay về Milan.
Ông Dân gấp nhanh vài bộ quần áo, mask, găng tay, kính bảo hộ…cho vào hành lý, xách theo ít đồ ăn khô. Hít một hơi thở thật sâu, ông kéo va-li rời nhà tại quận Bình Thạnh Sài Gòn, nơi hai vợ chồng định cư gần 10 năm qua. Tưởng như may mắn đã mỉm cười vì vé không bị hủy, đến khi làm thủ tục quá cảnh Belgrade, ông mới biết có lệnh cấm người mang passport Ý được vào Serbia vì Ý là trung tâm bệnh. Lần thứ ba ông không thể bay.
Ngồi phịch xuống ghế ở phi trường Tân Sơn Nhất vì thất vọng, nhưng ông Dần suy nghĩ, trong tuần này, khi các nước chưa thực sự siết chặt lệnh cấm, mình vẫn có thể “có cửa” để đi được. Ông quyết định ngồi lại phi trường, nhờ người quen tìm giúp một chuyến bay khác ngay trong đêm.
Quá nửa đêm, người bạn khuyên ông về nhà và hứa sẽ báo ngay khi có vé. Ông kể: “Tôi về nhà, nằm trên giường, mệt rã rời nhưng đầu óc tiếp tục nghĩ ngợi không sao chợp mắt được. Đó thật là một cơn ác mộng”.
Đến 9 giờ sáng hôm sau tức 15/3, nhận được điện thoại của người bạn thông báo có chuyến bay sang Doha (Qatar, là một trong Các Tiểu Vương Quốc Á Rập Thống Nhất UAE) để rồi sang Roma, ông Dân lại lặng lẽ kéo vali ra sân bay Tân Sơn Nhất. Ba lần bị hủy vé, ông tự nhủ mình đừng mừng vội. Ông cũng không dám báo tin cho vợ và cac bạn biết.
Đến 19 giờ chiều cùng ngày, ông Dân lên chuyến bay sang Doha của tiểu vường quốc Qatar.
Máy bay sang tới Doha, dừng ở sân bay 9 tiếng đồng hồ, ông Dần hy vọng mình sẽ sang được Roma. Ông đảo mắt tìm chỗ ít người qua lại để ngồi cho đỡ mệt. Ông kể: “Tôi đã quen với sân bay vốn rất đông đúc này, nhưng giờ chỉ còn khoảng 1/4 khách so với bình thường”. Lúc đó là 1 giờ sáng theo giờ địa phương.
Đã chờ đợi suốt 5 tiếng đồng hồ, ông sốt ruột cứ thỉnh thoảng lại đến các quầy để mong được làm thủ tục cho chuyến bay kế tiếp. Hàng chục lần lui tới, lồng ngực ông như khó thở vì quá căng thẳng. Ở các quầy của sân bay Doha, không ai dám trả lời ông là chuyến bay sang Roma có thể cất cánh hay không. Vợ va bạn bè liên tục nhắn tin hỏi han tình hình. Không muốn mọi người hy vọng hoặc thất vọng, ông chỉ nhắn lại: “Đang ở Doha, chưa thể nói trước điều gì”.
“Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi là bị mắc kẹt lại đất nước này khi không thể sang Roma mà cũng không thể về lại được Việt Nam”, ông kể.
Đến 7 giờ sáng hôm sau tức 16/3, màn hình hiển thị thông tin sân bay có chuyến bay ông Dân chờ đợi. Lúc này, ông mới đi lấy một chai nước suối nhỏ và lôi trong va-li ra chiếc bánh ngọt để ăn dằn bụng.
Khác với tưởng tượng của ông Dân, chuyến bay vẫn có khá đông hành khách lên. Nhớ lời bạn dặn “ngồi gần cửa sổ sẽ ít bị lây nhiễm”, ông chọn vị trí này. Trên máy bay, mọi người đều cảnh giác. Ông kéo cao mask lên quá mũi, ngoảnh mặt ra phía cửa sổ để tránh tiếp xúc, rồi thiếp đi.
Tỉnh lại, ông Dân thấy chiếc ghế bên cạnh bỏ trống, vị khách biến mất. Hóa ra, anh ta đã xin đổi xuống phía dưới ngồi với một người đồng hương. “Chắc biết mình là dân châu Á, tưởng mình là người Hoa nên đổi chỗ”, ông Dần bật cười.
Chuyến bay hạ cánh xuống phi trường Ciampino ở Roma, cách Milan 600km nhưng ông Dần vui mừng nghĩ mình đã đến đích. Sân bay vắng tanh. Hành khách người đeo mask, người không, nhưng đều đứng cách xa nhau ít nhất một mét. Cảnh sát đứng dày tại các lối đi, kiểm tra tờ khai y tế của từng người. Ông Dân mở điện thoại di động thông báo với vợ đã đến Roma, ông nghe thấy tiếng thở phào như đã trút được gánh nặng của vợ. Bà Elena dặn chồng cẩn trọng, hành trình về Milan còn dài.
Ông Dân và vợ không có con. Họ sống ở Ý sau đó về Việt Nam. Đam mê của họ là đọc sách và sáng tác. Bà Elena giỏi tất nhiên là tiếng Ý, sau đó là tiếng Anh, kể cả tiếng Việt.
Ông Dân tiếp tục mất hơn nửa giờ đi xe buýt từ phi trương đến nhà ga xe lửa Roma. Cả cái nhà ga lớn bậc nhất châu Âu này vắng tanh, nhân viên an ninh đông hơn hành khách. Nhà chức trách làm bốn hàng rào để kiểm soát người ra vào. Chỉ có duy nhất một quán ăn nhỏ mở cửa. Lúc này, bụng réo ầm ĩ, ông Dần đứng xếp hàng, mua được một chiếc bánh pizza nóng.
“Tôi ngồi phịch xuống ghế ăn ngon lành, có cảm giác như được sống lại thời sinh viên nghèo khó, lang bạt”, ông nói. Lúc đó là 13 giờ chiều ở Ý. Cả toa tàu chỉ có bốn hành khách, ngồi rải từ đầu đến cuối toa.
Bà Elena ra ga xe lửa Milan đón chồng. Ông Dân bỏ áo khoác đang mặc vào bao nilon. “Cười chảy nước mắt vì hạnh phúc nhưng vợ chồng chẳng dám ôm chầm lấy nhau”, ông kể. Về nhà, ông bỏ hết hành lý ngoài hành lang, thay quần áo, phun thuốc khử trùng trước khi bước vào nhà. Bà Elena đã chuẩn bị những món Ý nóng sốt cho chồng. Bữa cơm đã có hai người.
Ngày hôm sau 17/3, cả 3 phi trường tại Roma chính thức đóng cửa. Lệnh phong tỏa cũng đã được ban hành ở Italia. Sau đó một ngày, ở Việt Nam, Vietnam Airlines dừng khai thác đường bay quốc tế đến hết tháng Tư. Nếu chậm một ngày thì ông Dần không thể về được Ý trong mùa dịch khủng khiếp này.
Chàng trai không có bàn tay bàn chân đã từng suýt bị chôn sống
Nay Djrueng là con của ông Kbôr Djoang ở xã Krông Năng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (cách Sài Gòn khoảng 640 km). Cậu học đến cao đẳng công nghệ thông tin mặc dầu không có hai bàn tay và hai bàn chân từ lúc lọt lòng.
Nửa đêm hôm cuối tháng 4, Nay Djrueng vẫn lạch cạch bên chiếc máy tính xách tay trong phòng trọ nhỏ ở Bình Thạnh, Sài Gòn. Cậu dùng hai cái cổ tay lướt nhanh trên bàn phím. Đi ngủ muộn do cậu phải thức để hoàn tất các công việc liên quan đến hoạt động thiện nguyện mình phụ trách và học thêm về dựng phim.
Sinh ra trong một gia đình có 8 người con, nhưng Djrueng cùng một cậu anh trai bị khuyết tật do di chứng chất độc da cam của bố.
26 năm trước, người dân thuộc dân tộc thiểu số Jrai ở Krông Năng lại một phen bàng hoàng khi cậu bé Nay Djrueng chào đời trong hình dạng kỳ dị: Không có cả hai bàn tay lẫn hai bàn chân. Theo quan niệm của làng, đứa trẻ như vậy là hiện thân của ma quỷ nên phải chôn sống kẻo nó gây tai họa cho làng.
Xót con nhưng không dám cãi lệ làng, vợ chồng ông Kbôr Djoang chỉ biết ngồi khóc. Bé anh trai kế cận ngay trước Djrueng cũng bị dị tật như Djueng và đã bị chôn sống khi vừa sinh ra. Lần này, một người trong họ hàng biết chuyện, thương tình bế bé Djrueng chạy trốn.
Người làng sợ xui xẻo, không dám tìm kiếm mà cũng không dám bén mảng đến gần nhà ông Djoang, nên sau vài ngày trốn tránh, người họ hàng lén bế đứa trẻ về với bố mẹ nó mà không bị ai phát hiện. Ông Djoang nói: “Dầu sao nó cũng là giọt máu của mình nên vợ chồng tôi vẫn lén lút nuôi và yêu thương nó”.
Không có hai bàn chân và hai bàn tay nhưng Nay Djrueng vẫn lớn lên bình thường như những đứa trẻ Jrai khác. Cậu thích đi học song rất nhát, sợ bị bạn bè bắt nạt và sợ các anh, các chị của mình xấu hổ. Djrueng cũng thích lên rẫy, nhưng bố mẹ bận trồng trọt, không thể cho theo. Hàng ngày, theo bạn đi học về, cậu chỉ biết thơ thẩn chơi một mình trong nhà.
Năm học lớp 1, Djrueng có duy nhất một bộ quần áo để mặc đến trường, dơ thì giặt, phơi, hôm sau lại mặc; trời mưa, chưa khô thì cũng mặc được. Đôi dép đi ngược ra phía sau của Djrueng giúp cậu đỡ đau chân hơn khi đi trên đường. Năm học lớp 4, cậu được tặng chân giả, nhưng đau nếu di chuyển nhiều.
Bằng đôi chân chỉ có phía trên hai cổ chân ngắn ngủn chứ không có hai bàn chân, cậu bé ốm o chỉ cao hơn 1 mét đến trường cách nhà hơn 600 mét. Mùa nắng, cát bỏng rát khiến chỗ cụt ở hai cổ chân sưng tấy. Mùa mưa, nước ngập đường làng, mẹ phải cõng cậu đến trường. Từ năm lớp 3, Djrueng năn nỉ mẹ mua cho đôi dép, quay dép ngược ra phía sau để đi.
Ong Djoang kể: “Ở nhà, nó thích đi bằng hai đầu gối. Bạn bè rủ đi đau thì nó đi bằng hai cổ chân có dép quay ngược. Tính nó vui vẻ, cũng nghịch ngợm chứ không hiền lành gì đâu. Nhưng được cái nó rất chăm chỉ và sáng dạ. Nó bảo phải chăm học thì mới hy vọng thay đổi được cuộc sống của mình”.
Lên Cấp hai, Djrueng được vào trường nội trú dành cho học sinh người dân tộc, cách nhà 20 km. Tuần nào các bạn cũng được bố mẹ đón về, chỉ riêng Djrueng phải ở lại một mình vì vợ chồng ông Djoang còn bận làm rẫy nuôi cả đàn con, không còn thì giờ đi đón đứa con tàn tật. Mà đi bộ 20 cây số bằng hai cổ chân, cậu bé chịu không nổi, thuê xe thì không có tiền. Mà ở lại một mình, các chị nuôi nghỉ ngày chủ nhật, không nấu cơm. Các thầy cô giáo biết đứa học trò khuyết tật nhịn đói, những người có nhà ở gần trường, đến bữa thì cho con đem sang cho Djrueng bát cơm, khúc cá. Họ cũng nghèo, cơm và thức ăn tuy đạm bạc nhưng cũng đủ no, có khi còn hơn cơm ở nhà vì gia đình Djrueng quá đông, 7 anh chị em cộng với bố mẹ và bà nội nữa là 10 người tất cả, thường phải ăn độn. Riêng thầy hiệu trưởng thì cho sách vở. Thầy còn xin cho Djrueng được hỗ trợ mỗi tháng 300 ngàn đồng (tương đương với hơn 10 đô la.- ĐD) giống như mấy HS nghèo khác.
Djrueng nói: “Tình thương của thầy cô và thầy hiệu trưởng tiếp sức cho tôi. Có lần tôi ốm mấy ngày liền không ăn được cơm, thầy hiệu trưởng bảo các chị nuôi nấu cháo cho tôi, còn cô Thuỷ dạy môn Sinh vật thì cho tôi mấy quả trứng gà để ăn với cháo nóng. Chưa bao giờ tôi được ăn ngon như vậy nên khỏi bệnh liền”.
“Khiếm khuyết ngoại hình nhưng Djrueng không bị mặc cảm. Em đó thích ca hát và rất có năng khiếu ca nhạc”- cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết, giáo viên dạy nhạc tại trường Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Krông Pa kể. “Hoạt động nào Djrueng cũng tham gia. Có lần huyện Krông Pa tổ chức cuộc thi “Tiếng hát quần chúng”, tôi thấy Djrueng hát hay nên đăng ký để em ấy tham dự. Nhiều người e ngại khi một đứa trẻ khuyết tật đại diện cho trường đi thi. Nhưng lần đó Djrueng đoạt giải hạng nhì toàn huyện”.
Một lần xem chương trình truyền hình “Nghị Lực Sống” nói về “Hiệp sĩ công nghệ thông tin” Nguyễn Công Hùng – người khuyết tật sinh tại xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Khi mới 2 tuổi, vì mắc căn bệnh hiểm nghèo khiến Hùng bị liệt toàn thân. Nhưng cậu vẫn cố gắng đi học. Đến năm học lớp 7, Hùng phải nghỉ vì bệnh ngày càng trầm trọng, cơ thể chỉ còn chưa đầy 20 kg. Năm 15 tuổi, Hùng liệt gần như hoàn toàn, chỉ còn cử động được 2 ngón tay rồi cuối cùng là 1 ngón tay.
Bằng nghị lực của mình, Nguyễn Công Hùng vẫn tự học để đến năm 21 tuổi (2003), anh mở Trung tâm tin học dành cho người khuyết tật. Anh còn sáng lập trang website www.nghilucsong.net với nội dung hỗ trợ người khuyết tật tìm kiếm thông tin về việc làm và học tập với hơn 30.000 thành viên trên khắp thế giới, 100.000 bài viết đã chia sẻ từ các nơi gửi về.
Năm 2005, Nguyễn Công Hùng được Tạp chí Công nghệ Thông tin eChip trao tặng danh hiệu “Hiệp sĩ công nghệ thông tin”.
Từ sự cảm phục Nguyễn Công Hùng, sau khi học xong trung học, Djrueng thi vào ngành Cao đẳng công nghệ thông tin tại trường Đại học Đà Nẵng.
Trong suốt 3 năm học Cao đẳng Công nghệ thông tin, với uy tín của mình, mặc dầu khuyết tật nhưng Djrueng được các bạn bầu làm trưởng lớp, đại diện sinh viên trong ngành.
Sau khi tốt nghiệp, Djrueng đã xin được việc làm trong một công ty lớn chuyên về công nghệ thông tin của nước ngoài tại Đà Nẵng. Năm 2014, Djrueng xây dựng quỹ “Tiếp sức đến trường” để giúp đỡ các học sinh vùng sâu, vùng xa có hoàn cảnh khó khăn như mình ngày trước. Mỗi dịp khai giảng niên học mới, từ Đà Nẵng Djrueng tranh thủ về trường cũ trực tiếp trao quà cho các học sinh chăm chỉ và học giỏi năm trước. Món quà tuy không lớn nhưng cũng khích lệ các em học sinh rất nhiều. Ông Dương Văn Cư, giáo viên môn Vật lý đã từng dạy Djrueng năm lớp 12 tại trường THPT Đinh Tiên Hoàng huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai nói: “Djrueng không phải chỉ là niềm tự hào của nhà trường mà còn là tấm gương sáng của cả ba xã phía nam sông Ba thuộc huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai”.

BRA200258_local_728x90_A


Khuyến khích khôi phục lại áo dài xứ Huế
Mặc đầu được nhìn nhận là nơi phát sinh ra chiếc áo dài truyền thống, nhưng do trải qua các thời buổi khó khăn, Huế đã để phai nhạt “thuở vàng son” hình ảnh những chiếc áo dài thướt tha và đẹp dịu dàng ấy, nay đang tìm cách khôi phục lại
Cách đây hơn một năm, trong thư ngỏ vận động người dân Huế mặc áo dài, ông Phan Ngọc Thọ, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế, nói rằng từ lâu, áo dài đã trở thành biểu tượng trang phục của phụ nữ Huế, tạo thành nét đẹp không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của phụ nữ cố đô. Một biểu tượng trang phục đẹp, đặc trưng như thế đã dần phai tàn theo thời gian một cách đáng tiếc.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, đã khẳng định Huế là chiếc nôi khai sinh áo dài Việt Nam. Áo dài Huế xuất hiện từ dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát vào những năm 1740 và trở thành trang phục chính thức của cả nam giới lẫn nữ giới ở vùng Đàng Trong. Ông Hoa nói: “Huế đã sản sinh ra chiếc áo dài Việt Nam. Áo dài cũng từng góp phần tạo nên nét đặc trưng của cố đô Huế” .
Theo ông Hoa, ở các nơi trong nước, áo dài thường là lễ phục, riêng Huế thì áo dài vừa là một phần trong lễ phục vừa là y phục thường ngày, thậm chí ngay người buôn thúng bán bưng trong chợ cũng mặc áo dài.
Ông Nguyễn Xuân Hoa khẳng định áo dài Huế đang đứng trước các xu hướng cách tân, nên chắc chắn sẽ không có một mẫu áo dài nào cố định, càng không có một mẫu áo dài chỉ dành riêng cho Huế. Tuy nhiên, phần đông phụ nữ Huế vẫn hướng đến những kiểu dáng mà giá trị đã được sàng lọc qua thời gian.

Bao giờ trở lại thuở “vàng son”?
Tự hào đến như thế nhưng do biến chuyển của lịch sử, một thời gian dài áo dài xứ Huế không còn được người dân xứ Huế mặc như y phục trong sinh hoạt hàng ngày. Hình ảnh áo dài xứ Huế vì thế ít nhiều phai nhạt trong ký ức người Huế và cả du khách khi đến thăm đất thần kinh.
Tỉnh Thừa Thiên-Huế trong những năm qua đã nhận thức được hình ảnh áo dài gắn liền với văn hóa Huế, nên đã có rất nhiều chương trình tôn vinh áo dài, như tại các kỳ Festival Huế. Nhằm hồi sinh lại trang phục này, chính quyền địa phương đã khuyến khích nữ cán bộ, công chức, người lao động, nữ sinh… mặc áo dài vào các ngày thứ Hai đầu tuần tại nơi làm việc, trường học… Hay gần nhất, trong dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10, Thừa Thiên-Huế đã quyết định miễn vé cho phụ nữ mặc áo dài khi vào tham quan quần thể di tích cố đô Huế.
Mới đây, để tìm cơ hội trở lại “thuở vàng son”, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên-Huế tổ chức hội thảo “Phát huy giá trị văn hóa Huế trong xây dựng thương hiệu áo dài Huế”, ông Phan Ngọc Thọ đã khuyến khích các đại biểu làm sao để áo dài trở thành sản phẩm du lịch nổi tiếng của địa phương, để nghề may áo dài được tôn vinh. “Áo dài phải trở thành sản phẩm thủ công có giá trị thương hiệu cao. Áo dài là niềm tự hào của một vùng đất mà bất cứ ai, bất cứ du khách nào khi đến Huế đều cảm nhận được món quà có ý nghĩa này” – ông Phan Ngọc Thọ nói. ♦

More Stories...