Như cơn mưa ngày nào…

1. Về chuyến này, tôi nhận ra nhiều chuyện lạ. Ra đón tôi tại phi trường có Tiên và thằng Tỏa. Tiên là em họ tôi, nhỏ hơn tôi độ 4 hay 5 tuổi, còn tôi gọi Tỏa là thằng vì từ trước tôi vẫn quen gọi nó như thế. Bây giờ mặc dù nó đã lớn gộc, đứng gần bên đã xuýt xoát cao bằng tôi, nhưng bất chợt phải đổi cách xưng hô khác để gọi nó, tôi thấy chưa thích ứng ngay.

Nhìn cái cách Tiên và Tỏa ăn mặc ra đón tôi, tôi thấy chuyện lạ đã hiện diện ngay từ đó. Tiên mặc cái váy maxi, gấu quét lẹt xẹt dưới đất. Tóc nhuộm chỗ xanh, chỗ đỏ, môi tô son màu máu bầm, móng tay to bè, dài lêu nghêu, cắt vuông cạnh và sơn màu trắng ngà. Cái kính đeo mắt, Tiên không đeo mà gài trên tóc. Còn nhìn thằng Tỏa châm điếu thuốc, tôi đã tự thấy thua nó rất xa. Nó khum khum dùng cái bật lửa Zippo mồi thuốc, rồi khua lách cách trước khi đóng nắp lại cho vào túi, tôi không nghĩ nó là cái thằng Tỏa của dạo nào ngày trước. Ðã vậy nó còn dùng 2 ngón tay búng búng khảy tàn thuốc rồi mới đưa lên môi hút tiếp, quả thực nó điệu nghệ hết cỡ.

Mang tiếng là ở xa về, mà so ra tôi thua hai đứa nó rất xa. Tôi không thể ngờ được sự thay đổi ở hai đứa chóng vậy, vượt ra ngoài sự suy nghĩ của tôi. Chẳng bù với những ngày còn ở nhà, hai đứa nó ngây ngô, quê quệch hết sức. Thành thực mà nói, và nếu trung chính mà nhận xét, có khi tôi còn có nét kém cỏi hơn hai đứa hiện giờ rất nhiều.

Tôi quay qua nhìn Tiên chăm chăm. Có lẽ hiểu ngay ý tôi, Tiên cố giải thích: bây giờ mốt này ở đây thịnh hành lắm. Ba cái phim Hàn quốc nhập vào, thấy cảnh các cô đào sửa soạn, chưng diện, ai cũng làm theo để không bị chê là chậm tiến. Chị ở chơi vài ngày, có dịp nhìn sẽ thấy thành phố đâu đâu cũng kiểu tóc tai như vậy cả. Ðến các cô giáo vào lớp cũng sửa soạn vậy, đã xa rồi cái thời đi đâu cũng bà ba đen và đôi dép lốp. Tôi bật phì cưới, nhưng chỉ nói “hèn gì” mà không tiếp thêm lời nào.

Còn thằng Tỏa, nói gì thì gì, tôi không thể đoán ra nó chóng lớn đến vậy. Mới hồi nào tôi vẫn còn chê nó là thằng cả đẫn, lăng xăng lít xít, chỉ chực phá rối tôi một cách ngây ngô. Dạo đó, không mấy hôm nó không khiến tôi phải bực mình. Sáng nào cũng vậy, nó cứ như đánh vật, giành giựt với tôi cái nhà vệ sinh. Ðàn bà, con gái tụi tôi sáng nào cũng phải dùng cái nhà tắm lâu lâu một tí để chải gỡ, xăm xoi, trang điểm thì y như đúng lúc nó nhăn nhó gào lên kêu đau bụng đòi một hai tôi phải ra nhường chỗ cho nó. Có khi chưa kịp mặc nốt cái áo, nó đã gõ ầm ầm dọa là ra chậm, nó nhín không nổi nữa thì tai vạ gì là tôi lãnh đủ hết. Thế là tôi đành chui ra, tay còn bụm bụm cái vạt áo dài chưa cài kịp, và cái xú chiêng còn tòe lòe ra một khoảng. Những lúc đó, tôi thấy thằng Tỏa nhìn say sưa, mặt nghệt hẳn đi. Lúc đầu tôi cũng cho là thằng bé xấu tính xấu nết, ăn không chừa, nhịn không nổi; sau hiểu ra mới biết là nó giả ngộ để được thấy một chút gì thân thể của tôi. Có lần tôi giận quá khi biết mình bị mắc lỡm nó, tôi đã củng cái nào cái ấy nên thân lên đầu nó. Một mặt thì nó cứ xuýt xoa: “oan em, oan em”; nhưng mặt khác nó lại cười hề hề khiến tôi thêm lộn ruột.

Trước ngày tôi lên đường vượt biên, có hôm thằng Tỏa đã bịn rịn vào cửa phòng tôi, gọi nhỏ “chị ngủ chưa”. Ðến khi tôi lên tiếng, nó đã bộc bạch tâm sự nó: “trời ơi, chị mà đi, không biết Tỏa còn ai để đùa giỡn và bị ăn kí tiếp đây”. Tôi biết nó muốn nói trại đi, chứ nó mà thương tiếc gì tôi, chẳng qua nó hết còn dịp mằn mò nhìn trộm sự hớ hênh của tôi thì có. Cho nên tôi bảo nó “thì mày coi đứa nào chịu đèn, thương đại nó đi mà tha hồ ngắm”. Nhưng rồi tôi lại sợ nó sảng lên đem chuyện tôi tính vượt biên mà khai báo tùm lum, nên tôi hăm nó: “bồ tao là thằng du đãng có căn, mày giỡn mặt đi báo, tao mà bị bắt là nó lụi mày cái chắc, đừng loạng quạng chết uổng nghe em.”

Ðược cái thằng Tỏa cũng kín miệng, nên chuyện ra đi của tôi trót lọt êm xuôi. Tôi qua đảo rồi đi định cư, thư viết về, tôi vẫn gửi lời thăm và cám ơn nó. Thấm thoắt đã gần 10 năm trời. Tôi đã hai lần về, lần trước con Tiên và thằng Tỏa vẫn còn loắt choắt, cái dáng vẫn còn quê quê. Lần này thì cả hai thực tình đã thoát xác, đứa nào đứa ấy bự tổ chảng. Cái ngực con Tiên đã nhú nhú lên cao, cái mông đã tròn vo nung núc mỡ. Thằng Tỏa thì cũng lanh lẹn hẳn, nó nhìn vào người nào đã thấy như muốn cuốn hút người ta.

Tôi hỏi giỡn con Tiên: sao bồ bịch gì chưa. Sẵn tao dzìa, làm đại đám cưới cho tao dự luôn thể. Không dè con Tiên cũng hổng vừa. Nó trả lời tôi tỉnh bơ: thì cũng có mấy đứa, nhưng tụi nó con nít quá, em chưa chấm được đứa nào. Hưởn, hưởn để xem có vớ được đám nào khá hơn, em sẽ cho chị hay. Thằng Tỏa chụp lời chen vào: bà dữ như bà chằn, thằng nào dám nhào vô để lãnh búa. Con Tiên giơ nắm tay định thụi thằng nhỏ, thằng Tỏa la thêm: đó, chị thấy bả dễ sợ hôn. Chưa gì mà đã giở thói đấu võ, thằng nào vô phúc lọt vào trướng bả, chắc mỗi ngày cũng ăn đòn đôi trận.” Tôi bật cười, giải hòa cả làng.

2.

Chúng tôi ra khỏi phi trường trên chiếc xe thuê riêng của con Tiên và thằng Tỏa. Tôi bảo tụi nó: tụi bay bày đặt cho tốn tiền. Ði taxi ra được rồi, mướn xe riêng làm chi hổng biết. Con Tiên đối đáp ngay: Lâu lâu chị mới dzìa, tiếp đón coi cho được một chút, chớ để trở sang bển, chị chê tụi này cù lần sao. Thằng Tỏa cũng xen vô: hồi này tụi tui cũng khá hơn, chị cứ để tụi tui nghinh tiếp chị cho phải đạo. Tôi nghĩ chà hai đứa coi bộ bảnh dữ, song cũng không can, kệ để coi tụi nó lo được tới đâu cho biết.

Trời Saigon buổi trưa thiệt nắng gắt. Xe cộ chạy mù trời, len lách thấy mà ghê. Cái này chạy xẹt qua lối cái kia, có lúc tưởng đụng vào nhau tới nơi, vậy mà rồi hổng sao hết. Qua khúc Lăng Cha Cả thấy lạ hoắc, dãy câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc chìm lủm đâu mất biệt. Con đường rộng thêm ra, chia nhiều ngả, không còn nhận ra một chút bóng dáng nào của hồi xưa.

Tôi chợt nhớ đến kỷ niệm những đêm theo Tăng vào khiêu vũ trong câu lạc bộ. Tăng hồi đó là phi công F-5, từng đón tôi vào trong đó nhảy nhót, có lần phải xem vũ sexy giữa buổi khiêu vũ, tôi đã thẹn quá xá. Tôi một hai đòi Tăng đưa về, nhưng bạn bè Tăng trêu chọc giữ lại, Tăng vì tự ái không nghe tôi. Ðến khi khiêu vũ tan, Tăng đưa tôi ra, tôi đã giận đấm vào lưng Tăng bùm bụp. Sau lần đó tôi không bao giờ đi với Tăng nữa và chỉ vài tuần kế là được tin Tăng rơi máy bay chết. Ngày đưa Tăng có ai đó đã hát bên mộ huyệt Tăng “anh nằm xuống không bạn bè, không tiễn đưa…”, tôi đã tự trách mình cố chấp và lầm thầm xin Tăng tha lỗi.

Lần này về, tôi cố nhớ lại hình dáng Tăng khi xe chạy qua cổng Phi Long, nhưng không tài nào nhận ra được. Thằng Tỏa nãy giờ ngồi yên, chợt lôi tôi ra khỏi mộng mơ bằng câu nói: Chị Hai nè. Hồi chị đi rồi, sáng sáng chợt nhớ chị ghê, tiếc là không còn được chọc ghẹo để chị củng cho đau điếng. Thú thiệt với chị, hồi đó tui chỉ ước ao được một lần nào ôm ấp chị để hít cái hương của chị vào mình, cho dù chị có đập chết tui cũng chịu. Bây giờ nhiều khi nhớ cảnh chị chạy ra bíu bíu lấy cái áo che che tui vẫn cười tiếc rẻ. Tôi đưa bàn tay nhứ nhứ: cái thằng tật nào tật đó hổng chừa, coi chừng ăn roi đó em. Thằng Tỏa cười lên hềnh hệch: ối, tại mấy bà điệu bộ, chứ hà rầm gì, nói hổng phải khoe chớ giờ này tui hết ham rồi nghe.

3.

Chiếc xe đưa mấy đứa tôi về lại con hẻm xưa mà mỗi lần mưa hơi lớn là đã trở nên lụt lội, có khi mấy giờ sau nước mới rút hết. Cây cầu xi măng có niềng theo mấy thanh sắt chỉ hẹp vừa đủ một chiếc xe qua vẫn còn đó. Nhớ những đêm cuối cùng của tháng 4, xe chen nhau chạy kẹt cứng, mấy tay đeo băng đỏ bắn súng đùng đùng. Có lẽ trời cũng vừa mưa xong, nước còn đọng lệt sệt. Vài đám bùn còn đóng ở hai bên đầu cầu. Con Tiên, thằng Tỏa khệ nệ bưng mấy cái túi xách vào nhà, tôi đi tay không theo phía sau. Chừng như cái tin tôi về cả xóm ai cũng hay, nên lấp ló chỗ nào cũng thấy có người đứng trông ra. Tôi ít nhận ra những người quen cũ. Vả lại người về thì có nghĩa lý gì, đâu có phải làm nên vương tướng gì đâu mà chờ được săn đón, song bên nhà vẫn vậy, nghe tin ai về là cũng chờ xem.

Tôi hỏi con Tiên và thằng Tỏa: tụi bay hồi này có tiền sao không kiếm ra ngoài ở. Dù sao sau cơn mưa cũng đỡ hơn, ở chi cái nơi này, lụt lội thấy mà ớn. Con Tiên cho biết: đất Saigon bây giờ đắt hơn kim cương, cỡ tụi tui rớ vô hổng lọt. Vùng này vậy chứ gọi sang nhà là có người vớt ngay, nhưng bán đi thì chui rúc nơi đâu. Còn thằng Tỏa thì thêm: ở đâu miết quen đó. Coi vậy chớ đi chỗ khác, chưa chắc đã yên thân. Ba cái tay khu vực, thấy mình lạ hoắc là ăn hiếp, bắt chung lên chung xuống cũng mạt.

Tôi thay đồ sửa soạn đi tắm. Mồ hôi rịn ra khiến tôi rất khó chịu. Tôi hăm he thằng Tỏa: chuyến này tao cấm mày không được lộn xộn. Ðể tao ngâm mình lâu lâu một chút cho đã. Mày mà phá đám, tao ra đập cho văng mỏ luôn. Thằng Tỏa giả bộ như sợ sệt, rồi cười phân trần: ai mà ngu đụng vô Việt kiều để khỏi được bao xài hỉ hả. Nói rồi nó chuồn đi ngay.

Tôi vào nhà tắm, mọi vật vẫn như xưa. Vẫn cái vòi rô-bi-nê bằng đồng nhỏ nhoi, dưới là cái chậu ni lông hứng nước. Vẫn là khoảng xi-măng tráng mỏng, thế đất hơi nghiêng về phía lỗ cống thoát nước. Ngày xưa tôi vẫn phải vừa hứng nước vừa tắm hoặc gội đầu. Xà bông ào ra vẫn luềnh duềnh trôi xuống đọng tại lỗ cống, lâu thật lâu mới tan hết. Tôi nhớ đến cái lần tôi trượt chân suýt ngã, tôi đã ao ước khi nào có tiền sẽ xây một cái gờ cho nước chỉ quanh quẩn ở đó mà thôi. Rồi cho đến khi tôi bỏ đi, bao năm trời cái gờ vẫn không xây nổi. Con Tiên, thằng Tỏa chắc là chưa thấy sự nguy hiểm nên chẳng làm gì.

BRA200258_local_728x90_A

4.

Bóng nắng lao xao đưa cành trứng cá sau nhà lung linh trên khung cửa sổ. Tôi nhớ rõ cây trứng cá của căn nhà giáp vách phía sau lưng mà ngày còn ở nhà thỉnh thoảng tôi vẫn thấy đôi chùm trái chín đỏ loăng quăng cao thấp. Hồi đó, tôi không sao hái trái từ phía bên này nhà vì tường xây kín mít, nhưng cái bóng của cành thì luôn tung tăng rọi vào căn buồng tắm khi có cơn gió đưa. Món quà ưa thích của tôi khi còn chạy chợ dạo đó may được con bạn cũng có cây trứng cá hái cho một bọc vì biết tôi hay ăn. Buổi trưa ế khách, tôi lấy ra nhâm nhi vài trái, nghe cái ngọt nhè nhẹ và mùi thơm thoang thoảng len lách vào mồm. Hồi đó, đi buôn thì ít mà đầu óc lúc nào cũng toan tính tìm cách vượt biên thì nhiều, cho nên người ngợm trông cứ như con mắm khô thiếu nước.

Mấy lần ra đi, tưởng là thoát, rồi lại phải quay về. Tên khu vực xục xạo đoán mò chặn đầu chặn đuôi tôi hỏi: mấy bữa nay cô hai đi đâu dzắng, chắc là cô hai dzượt biên hổng lọt nên trở dzìa. Tui nói cho cô hai hai tui mà nắm được bằng chứng là tui cho đi cải tạo mút mùa đó nhen. Hồi đó giận cành hông mà cứ phải ngọt ngào với hắn: trời đất anh nói chi mà nghe bắt ghê. Còn đâu đẹp hơn quê hương mình, mắc gì mà bỏ đi anh. Không rõ hắn có tin hay chăng mà hắn cười hề hề bước đi. Còn tôi thầm chửi thề khi liền đó.

Nay lần mai lữa, thét rồi cũng lọt. Ngày lên đảo đã nghe xôn xao sắp đến hạn đóng cửa trại, cũng may mà còn thời gian và cũng may mà không bị vướng vào tay hải tặc. Lòng nhân đạo đã cho tôi đi định cư, dần dà hội nhập vào cuộc sống và dăm thì mười họa lại kéo về thăm bên nhà.

Chuyện thăm hay không thăm vẫn là đề tài bàn cãi của cộng đồng bên đó. Người lên án, người phe lờ, song giá như gia đình ai cũng trót lọt đi với nhau hết thì đã yên, đằng này còn có người đi kẻ ở, mà số đi ít hơn số ở nhà thì chuyện tình cảm làm sao bứt hết nổi. Tôi không biện hộ phân minh cho việc tôi đi về, vì có nói sao vẫn bị phê bình chỉ trích. Thế nhưng nồi nhà ai, vung nhà ấy úp, thì đành nhận cái khuyết điểm phía mình, chờ ngày nào có được phép lạ lôi tuột hết thân nhân sang với mình rồi sẽ cáo chung việc đi lại nhiêu khê.

Sống lâu dần quen, lo học hành dăm ba chữ xứ người rồi tếch ra đi làm miết. Bù đầu đánh vật với trăm thứ, được cái người Việt vốn giỏi liệu cơm gắp mắm, nên biết chi tiêu dành dụm mà rồi dù lương chẳng bằng ai vẫn dè xẻn lâu lâu về thăm nhà và thân thích. Ðời sống như thế là tốt quá rồi, trừ phi những ai dễ tìm ra đồng tiền thì mỗi lần về mới dám chơi ngông vung vít còn chung chung thì cốt về để cái dây thân tình đừng bị chặt đứt, chứ có phải hay ho gì mà vung vít như ai.

Thì như tôi đã nói, mang danh Việt kiều mà so ra tôi còn thua con Tiên, thằng Tỏa đủ mọi mặt. Con người, quần áo, đường đi nước bước, cách đối xử, nhất nhất tôi ở dưới cơ chúng xa. May mà mấy đứa cũng hiểu cho tôi nên không chê trách; trái lại còn cố làm đẹp với tôi để tránh cho tôi cái mặc cảm buồn phiền.

5.

Saigon vẫn vậy. Trời bước sang tháng 5 vẫn là những ngày với cái nắng hừng hực. Khắp nơi tiếng ve sầu kêu râm ran. Thật lâu lắm mới có một cơn gió, nhẹ đến nỗi chưa kịp lung lay cành lá đã lặn đi mất. Chỉ có hoa phượng nở ngập tràn. Ði đến đâu cũng thấy màu hoa chói chang trong nắng. Buổi trưa Saigon càng lúc càng ngột ngạt, cái ngột ngạt của một thành phố quá đông người đến mất dần đi khoảng trống, thiếu bóng cây xanh, thiếu khung trời rộng. Tầm mắt bị chặn khuất vì những bờ tường, tai ù vì tiếng động cơ chạy ào ào không đường lối, mũi cay vì khói đủ thứ nhiên liệu của xe. Cho dù vừa tắm táp xong bước ra đã thấy như muốn quay vào ngâm nước lại. Thế nhưng đến nước cũng hiếm, mọi người phải e dè xài để giữ lấy túi tiền và chia phân cho sự sống suốt cả tháng.

Người Saigon vẫn cắm cúi chịu đựng những chuỗi ngày khắc nghiệt đó. Chỗ nào cũng thấy ăn uống chen lộn với việc làm như là một. Vừa làm vừa nhâm nhi ly cà phê, vừa tính áp phe vừa nhậu, khói thuốc lá lúc nào cũng như hun hơi thở và buồng phổi con người. Thời gian không có sau trước, đời sống không thấy tính xa nên có bao nhiêu sức lực, đồng tiền con người dốc ra, như sợ không tiêu thì không còn kịp nữa.

Buổi sáng lên khi đèn đường Saigon chưa kịp tắt. Chợ cá, chợ trái cây đã thức như vậy suốt từ đêm. Bến ghe ồn ào nhộn nhịp, tiếng muỗng dĩa lao xao, người ta đổ cà phê ra dĩa húp xì xà xì xụp. Ổ bánh mì, cái bánh bao dằn bụng cho qua một đêm dùng nhiều sức. Tiếng xích lô máy, tiếng xe hon đa, tiếng xe ba gác lích kích tận trong xóm, ngoài lề. Ai ngủ cứ ngủ, ai thức cứ thức, Saigon là đêm dài của người này song lại là ngày quá ngắn của người kia. Cho nên bạ đâu người Saigon cũng ngủ được. Từ cái sạp trong chợ, từ lòng xe xích lô, từ trên yên xe thồ, từ trong khung ba gác, thậm chí chỉ cần dựa vào một cây cột, một cái sọt hay một mé tường là có thể nhắm mắt rất nhanh.

Ðó là những gì tôi đã nhận được khi về. Con Tiên, thằng Tỏa chạy đâu suốt ngày để mặc tôi làm chủ cả căn nhà bé nhỏ. Tôi ngại đi ra khỏi cái hẻm, tôi ngại dầm mình dưới cái nắng nóng nung. Tôi ngại gặp những người quen lối xóm vì tôi chẳng biết phải nói năng, trả lời những gì với họ. Tôi nằm nhà nghĩ vẩn vơ, bù lại những tháng ngày quên cả giờ giấc bên đất lạ. Tôi nhớ về những ngày nhỏ khi còn sống với Saigon. Tất cả như là một con nước duềnh lên và rút đi đem theo hết những gì êm ấm cũ. Chỉ còn lại cái ngấn nước đen xì của con rạch đóng bùn mà khi nước kéo đi không kéo nổi nó theo.

6.

Buổi chiều khi hai đứa trở về, tôi vẫn còn ngủ. Tụi nó đánh thức tôi dậy và nói mưa lớn quá. Từ lâu rồi Saigon thiếu mưa, chiều nay mưa đã đời, ai cũng khoái. Tôi rụt rè mắc cỡ, tụi nó xuề xòa hiểu cho tôi: thì ở không chị Hai cứ ngủ chớ ngại gì. Chưa chừng tại chị Hai đem mưa dzìa mà Saigon mát hẳn ra. Mai mốt chị Hai trở lại bển, có muốn ngủ cũng hôn ngủ nổi. Rồi tụi nó bày ra đủ thứ: bánh hỏi, thịt quay, gỏi cuốn, bò bía, nước mía, hối tôi ăn. Cơn mưa khi chiều tuy đã tạnh mà nước vẫn lấp xấp trước cửa nhà. Thằng Tỏa khoe với tôi: bữa nay em trúng mánh, mấy chả ở đâu vô mua đủ thứ hà rầm, em chạy hàng bắt mệt. Nhưng có vậy mới đãi mừng chị Hai dzìa. Nó vói tay ra sau lưng lôi chai rượu ngoại ra. Tôi hoảng hồn, trời đất nó ép tôi uống rượu thì chịu gì nổi. Nhưng thằng Tỏa đã trấn an tôi: chị Hai hổng uống được nhiều, chỉ nhắp môi thôi làm chủ tọa để con Tiên với em cưa hết. Chị mà không khui tiệc, ai dám hỗn cầm đũa lên.

Tôi bỗng thấy Saigon với những cơn mưa chiều đều đặn. Những cơn mưa tháng 5 chợt to rồi chợt dứt, bứt những lá me thử dài theo lề đường. Những cơn mưa làm cho con đường Yên Ðổ, Lê Lợi, Lê Lai, Phạm Hồng Thái đọng đầy nước không kịp rút mà có lần khi Tăng chở tôi trên xe Honda bị ngập bô phải ì ạch xuống đẩy qua. Tăng cứ lạch bạch trong bộ đồ bay với đôi giày sô ướt mẹp, tôi đòi xuống xe cho nhẹ, nhưng Tăng không nghe. Tăng bắt tôi ngồi yên co chân lên cho khỏi ướt quần và Tăng đưa tôi qua vùng nước ngập. Sau đó, hai đứa ngồi chờ cho anh thợ lau lại bu di xe và chấn chỉnh lại máy, rồi Tăng tiếp tục chở tôi về.

Bây giờ thì Tăng đã nằm yên trong lòng đất mẹ. Tôi lạc loài nơi một đất nước xa. Saigon vẫn có những cơn mưa, mưa như mưa cơn ngày nào, song người Saigon xưa giờ đã vắng đi nhiều lắm. Bất chợt tôi cất tiếng thở dài. Con Tiên và thằng Tỏa chưng hửng nhìn tôi. Chúng nghĩ là tôi giận vì chúng ép uống rượu. Tôi nói không sao, không sao; nhưng thằng Tỏa vẫn cầm chai rượu lên định cất đi. Tôi nói nhỏ với chúng: chị thở dài vì chợt nhớ đến một người. Người ấy của Saigon ngày trước và dĩ nhiên bây giờ Saigon đã khác nên người ấy không còn nữa.

Tôi chẳng nói gì thêm, song cả hai đứa em đều đã hiểu ra. Bởi vì tôi tin rằng tất cả những ai đã từng sống ở Saigon thì chắc chắn là trong tâm tưởng mình vẫn còn một góc Saigon nào đó theo mỗi bước chân đi. Cho dù đang ở đâu, sống ở đâu…

Ðỗ Thành

(Trích từ “Giao Mùa”)

More Stories...