Nhớ Dương Nghiễm Mậu

Nguyễn Mạnh Trinh

 

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã từ trần lúc 21 giờ 35 phút ngày 2 tháng 8 năm 2016 (nhằm ngày 30 tháng 6 năm Bính Thân) tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Ông là một tác giả nổi tiếng của 20 năm văn học Miền Nam với 21 tác phẩm vừa truyện ngắn, vừa tiểu thuyết, vừa ký sự và nhiều bài báo đăng trên các tạp chí có giá trị.

Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phi Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936, ở quê nội làng Mậu Hòa, huyện Ðan Phượng, phủ Hoài Ðức, tỉnh Hà Ðông. Bút hiệu là tên thật của ông ghép với hai chữ đầu của quê nội và quê ngoại. Từ năm 12 đến 18 tuổi, ông sống ở Hà Nội, học tiểu học ở trường Hàng Than, và trung học ở trường Chu Văn An. Từ lúc còn đi học ông đã viết các bài đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. Năm 1954 ông di cư vào Nam, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, năm 1957 vào Sài Gòn. Từ năm 1957, ông đã viết nhiều tạp văn, tùy bút, truyện ngắn, truyện dài. Cho đến năm 1962 ông chủ trương tạp chí Văn Nghệ với nhà văn Lý Hoàng Phong, cho in tiểu thuyết đầu tay Ðầy Tuổi Tôi (sau đổi tên là Tuổi Nước Ðộc) Văn xuất bản năm 1966. Ðồng thời ông viết cho các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Tia Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa. Giao Ðiểm, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Sóng Thần. Năm 1966, ông nhập ngũ với cấp bậc hạ sĩ đồng hóa, năm 1967 làm phóng viên quân đội cho đến ngày 30 tháng tư năm 1975. Năm 1971, ông lập gia đình với giáo sư Anh ngữ Hồ Thị Ngọc Trang và có hai người con trai tên Hà và Việt. Sau ngày mất nước, Dương Nghiễm Mậu bị bắt giam, năm 1977 được tạm tha, ông học nghề làm sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn.

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đi trên một hành trình văn chương độc đáo với phong thái đặc biệt riêng mình. Có lúc, ở truyện ngắn và tiểu thuyết của ông đầy những ẩn dụ nhưng lại tạo hình bằng những hình ảnh sống động, gợi lại những không gian, thời gian đầy nét trăn trở của một thời thế máu lửa chiến tranh. Nhân vật của ông gợi lại từ hiện thực xã hội với nét nhân bản tràn đầy và phần nào biểu trưng được một thời thế phức tạp mà con người đã phải bước vào không có được chọn lựa khác. Nhưng ở những bài ký sự, đời sống thực của biến cố chiến tranh đã được nhìn ngắm bằng con mắt tinh tế được đãi lọc để chất sống động tỏa lan vào ngôn ngữ thành những cảm giác kích động mãnh liệt người đọc. Ký sự được viết ở Huế, ở Quảng Trị là những dòng chữ biểu tượng của một tâm tình nhạy cảm.

Khoảng thập niên 60-70, chiến tranh bắt đầu có những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi người. Cuộc sống không những chỉ phi lý, bi đát trong triết học trong văn chương mà còn phi lý và bi đát thực tế của con người. Thời thế tạo ra những bi thảm do con người tạo ra cho con người và đôi khi do chính mình tạo ra cho mình bởi sự dằn vặt nội tâm, bởi sự cố nhận diện mình là ai trong cái sương mù của cuộc đời, trong những điều tương phản cực dộ với nhau.

Một người viết, có phong thái riêng, có cá tính riêng, của tuổi trẻ cô đơn, của lòng phẫn nộ trước những phi lý của cuộc sống là nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Tiểu thuyết của ông, những nhân vật bàng bạc những nét hiện thực nhưng lại xa lạ và khó kiếm tìm trong cuộc sống hiện hữu. Không gian, thời gian, cũng mờ ảo không xác định, như một cõi sống nào, có không lẫn lộn và con người là thực thể chất chứa đầy những đối nghịch lẫn nhau. Nhân vật của ông, luôn xưng tôi ở ngôi thứ nhất, để như một cuộc độc thoại, để cái “tôi” của tác giả nhòa nhạt vào cái “tôi” của từng nhân vật.

Jason A. Picard, của đại học UC Berkeley, trong bài tiểu luận Poisoned Water: Vietnamese Youth in the Works of Duong Nghiem Mau (Nước Ðộc: Tuổi trẻ Việt Nam trong tác phẩm Dương Nghiễm Mậu) mở đầu:

“Vào năm 1954 hàng triệu người Việt ở miền Bắc di cư xuôi nam theo giải pháp của Hội Nghị Geneve. Trong làn sóng người tị nạn ấy có một cậu trai trẻ mười tám tuổi, Dương Nghiễm Mậu. Hơn bốn năm tiếp theo ông đã di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác: Huế, Nha Trang và Sài Gòn trong thời kỳ chính thể Việt Nam Cộng Hòa mới thành lập. Kinh nghiệm của ông là của một người tị nạn di cư, đã trải qua thời niên thiếu trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ nhất và cuộc đời ông là của một người trẻ trưởng thành ở giữa những trạng thái căng thẳng chính trị càng ngày càng tăng ở miền Nam bắt đầu thành những phóng ảnh và luận đề cho những truyện ngắn và tiểu thuyết của ông. Nhân vật chính của Dương Nghiễm Mậu là những người tuổi trẻ Việt Nam vật lộn với những biến cố của xã hội thay đổi cũng như những xung đột giữa người với người và người với chính nội tâm của hắn

… Khởi từ những kinh nghiệm bản thân và sự lưu tâm đến văn hóa của tuổi trẻ, ông đã mở những cánh cửa để độc giả nhìn thấu vào tuổi trẻ miền Nam Việt Nam trong những thập niên 1950,1960, 1970. Tuổi trẻ ấy tham dự trong vai trò của vở kịch lịch sử bi đát của một thời kỳ nhưng họ đã bị quên lãng trong chữ nghĩa. Sự khám phá của tôi từ tác phẩm Dương Nghiễm Mậu sẽ cung cấp nhiều hiểu biết thực thể về Việt Nam Cộng Hòa, trong văn học và trong văn hóa tuổi trẻ nữa…”

Khởi viết từ năm 1957, đến năm 1975, ông có rất nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự. Các truyện dài có thể kể: Gia Tài Người Mẹ (1964), Ðêm Tóc Rối (1965), Tuổi Nước Ðộc (1966), Phấn Ðấu (1966), Ngày Lạ Mặt (1967), Gào Thét (1969), Con Sâu (1971). Ký sự như Ðịa Ngục Có Thật (1969), Quê Người (1970)…

Sau năm 1975, vào năm 2007, 4 tập truyện ngắn của ông được tái bản ở Sài Gòn: Ðôi Mắt Trên Trời, Cũng Ðành, Tiếng Sáo Người Em Út Nhan Sắc.

Một tác phẩm đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1964 là truyện dài Gia Tài Người Mẹ. Gia Tài Người Mẹ là một cái nhìn trở lại lịch sử, để ở đó, vượt lên thành một tấn thảm kịch biểu hiện cho cả một thời kỳ nhân loại. Phân hóa, tranh giành, cướp lấy một phần gia tài đang đổ nát, để mọi người trong gia đình thành kẻ thù lẫn nhau. Người mẹ lả dần đi trong những viễn tượng đen thẳm, những đứa con không thèm nhìn mặt nhau, hầm hè trong sự đấu đá giành giật để mong cướp cho mình những gia tài trống rỗng đổ nát. Trong khi đó, ở ngoài, những kẻ lạ mặt hung hãn đang chờ để cướp tay trên.

Gia Tài Người Mẹ không phải là một tác phẩm phản chiến. Tác giả chỉ nêu ra một biểu tượng và không có tham vọng đặt ra những phương cách giải quyết. Thực tại của đất nước đã được nhìn ngắm với con mắt sắc sảo muốn đi sâu vào trong nội tâm con người và với một thái độ thật rõ ràng.

Ðọc truyện dài Tuổi Nước Ðộc, thấy được bút pháp lúc sôi nổi lúc lạnh lùng nhằm lột tả một tâm trạng, một tâm tư của tuổi trẻ bị ảnh hưởng nặng nề trong chiến tranh. Những đoạn độc thoại, những hình tượng bạo lực, những sa dọa nảy mầm, những đen tối phủ nhòa cuộc sống. Thế giới con người bị bôi đen, bi quan và họ sống gần với bản năng hơn là lý trí.

Dương Nghiễm Mậu viết về Hà Nội trong Tuổi Nước Ðộc với nhân vật Ngạc người sống một thành phố bất an, sống lẫn lộn giữa lòng yêu thương và sự khinh ghét. Sống nhờ gia đình nhờ sống bám vào ông nội nhưng lại khinh ghét cái nghề cho vay nặng lãi, Ngạc sống như một người lêu bêu, ích kỷ và vô luân. Cũng như Tân một người bị tàn tật trong chiến tranh được may mắn cứu sống nhưng lại không đường sinh kế và chết dần chết mòn, Ngạc bị đứa em khác mẹ gí bàn là vào mặt và trở thành một người độc ác, giết người thím tàn tật, chiếm hữu xác thịt người chị đã từng giúp đỡ mình. Ngạc sống như một thây ma thối rữa, ngụp lặn trong tội lỗi. Con người như một thấp thoáng của hư vô, của bạo lực ghê tởm, của bóng dáng chiến tranh xa gần.

Ðêm Tóc Rối với nhân vật Lễ là người luôn tự hỏi mình là ai, hoài nghi cuộc sống, không tin tưởng vào một giá trị nào và sống gần với bản năng hơn là lý trí. Say mê dục tính, ngoại tình với một người đàn bà có chồng dâm đãng, để làm chỗ trú thân cho dục vọng nhơ nhớp bẩn thỉu. Hắn luôn luôn đặt câu hỏi nhưng không bao giờ tự trả lời, luôn đầu hàng mọi sự khi khởi đầu. Ðời sống với hắn là hư vô là không nghĩa lý ngay việc làm tình hay phân biệt giữa tình yêu đích thực của người nữ trinh nguyên và mụ nạ dòng dâm dục. Ðời sống của Lễ và những nhân vật khác trong Ðêm Tóc Rối là những người sống không một chút hy vọng, lẫn lộn có và không, thực tại và hư vô, hiện hữu như một loại dư thừa. Phi lý và không nghĩa lý.

Gần nửa thế kỷ, sau bao cuộc đổi thay, sau những biến cố chính trị, ông vẫn được xác định như một nhà văn có đóng góp  vào gia tài văn chương của dân tộc. Tự Ðiển Văn Học, in trong thời của chế độ đã bắt giam ông với tội danh là văn nghệ sĩ phản động, trong ấn bản mới nhất viết về Dương Nghiễm Mậu: “Dương Nghiễm Mậu là một trong những nhà văn Việt Nam thế hệ 60-70 đã đào rất sâu  vào bản chất của  cuộc hiện sinh con người… Ông đứng riêng một cõi, dường như không có bạn đồng hành, và đã tạo được một lối cấu trúc về truyện ngắn, truyện dài nằm trong nhân sinh quan bao quát của triết học hiện sinh và vô thần…”

Từ tác phẩm Dương Nghiễm Mậu chợt nghĩ đến văn chương và thời thế. Có vẻ, như văn chương không thể bị hủy diệt được, nếu là văn chương chân thực. Qua sự sàng lọc, qua những thay đổi chế độ, dù có bị xóa bỏ nhất thời, dù tác giả có bị đầy ải tù ngục, nhưng tác phẩm vẫn sống. Chuyện thời thế, lúc này lúc khác, lúc mất lúc còn nhưng văn chương vẫn còn mãi mãi. Ở trường hợp bốn tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu được tái bản ở Sài gòn trong khi chế độ Cộng Sản vẫn còn ngự trị có ý nghĩa gì và có tác dụng ra sao trong thời điểm hiện nay?

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

 

 

 

More Stories...