NGƯỜI KHÁCH LẠ

Truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Ngạn

 

Căn biệt thự đồ sộ, chiếm một diện tích mênh mông cuối con đường Hàm Nghi phía Đông thị xã, là tư thất của đồng chí Vũ Duy Nhất, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, mới rầm rộ ăn tân gia cách đây gần 4 tháng. Chưa cần vào bên trong để xem cách trang trí nội thất như thế nào, mà chỉ mới quan sát lối thiết kế ngoại vi quanh nhà, người ta đã biết ngay chủ nhân là người rất chú trọng đến phong thủy. Điều này cũng chẳng có gì lạ. Những năm gần đây, phong thủy đã trở thành một cái mốt thời thượng đến nỗi tất cả các nhà hàng, các khách sạn và thậm chí sòng bài, chủ nhân dù là người Âu Mỹ, cũng đều bài trí theo phong thủy để chiều theo thị hiếu của khách bốn phương. Dĩ nhiên có người chỉ coi đó là một nét văn hóa Á Đông, hoặc một kiểu trang trí lạ mắt. Nhưng cũng có người tin phong thủy mãnh liệt như một niềm tin tôn giáo. Chủ tịch Nhất nằm trong nhóm những người này, luôn luôn bám sát phong thủy và hết lời ca ngợi sự kỳ diệu của môn lý học huyền bí này. Hôm liên hoan mừng nhà mới, có đồng chí thứ trưởng là bạn học cũ của ông, từ Hà nội về dự, tò mò đi tham quan hết lượt từ trong ra ngoài, luôn miệng trầm trồ khen ngợi, rồi dừng lại ở mảnh vườn bên hông nhà, gật gù bảo:

– Hoành tráng cực kỳ! Địa thế rất đẹp! Chỉ ở tỉnh mới có chứ về Hà nội thì tấc đất tấc vàng, lấy đâu ra!

Chủ tịch Nhất đang khoan khoái lắng nghe thì ông bạn thứ trưởng chỉ mảnh vườn nước chảy róc rách và thêm:

– Lại cái trò phong thủy chứ gì! Nhìn thoáng là biết ngay! Chỉ béo mấy đứa xưng là thầy phong thủy. Nói nhăng nói cuội ăn tiền! Tớ chả dại!

Chủ tích Nhất cười ngượng nghịu, đưa cốc rượu lên uống một hớp nhỏ. Bà Nhất đứng bên cạnh vội đỡ lời chồng:

– Tôi cũng cứ bảo thế, nhưng ông nhà tôi lúc nào cũng cãi là có kiêng có lành, chả tốn bao nhiêu mà mình an lòng!

Nói câu ấy, bà Nhất nhớ lại chuyện một bà bạn có cửa hàng bán mỹ phẩm lớn nhất ở thị xã, tiệm Mỹ Trang, làm ăn rất phát đạt ngay từ buổi khai trương. Một hôm có người giới thiệu thầy phong thủy ghé thăm. Bà Mỹ Trang không muốn tiếp, nhưng nể quá chẳng nỡ mời thầy ra! Thầy thản nhiên chắp tay sau lưng, đi một vòng, nhìn thoáng qua rồi đề nghị để thầy trang trí lại nội thất, tiền công thầy tính giá đặc biệt là năm triệu đồng. Chủ tiệm lắc đầu, xua tay từ chối:

– Không phải chuyện tiền bạc! Nhưng tôi không muốn thay đổi gì cả! Từ ngày mở hiệu đến giờ, ba năm nay, nhờ giời cho buôn may bán đắt! Sửa chữa làm gì! Cảm ơn ông!

Thầy phong thủy nghiêm mặt hỏi:

– Bà tuổi gì?

Đáng lẽ không nên trả lời thì bà Mỹ Trang lại dại dột buột miệng đáp:

– Tôi tuổi Dậu. Kỷ Dậu!

Thầy lẩm nhẩm bấm đốt ngón tay rồi trịnh trọng nói:

– Kỷ Dậu tức là sinh năm 1969… Tùy bà! Mấy năm nay bà làm ăn khá, tôi có lời mừng cho bà. Nhưng bà không nghe tôi thì hai năm nữa bà sẽ thấy hậu quả! Chỉ hai năm nữa thôi! Sợ là trắng tay đấy bà ạ!

Bà bạn đưa thầy phong thủy tới cũng chen vào:

– Thầy nói chưa bao giờ sai đâu! Mình không thấy được tương lai, nhưng mà thầy thấy! Vận đen nó đến, có ai mà lường trước được!

Chủ nhà bắt đầu hoang mang thì thầy lại thêm:

– Tôi không nỡ nhìn cảnh ấy nên mới ra tay giúp bà, chứ khách của tôi đẩy ra không hết, vài triệu bạc có thấm vào đâu đối với thu nhập của tôi! Bà xem lại đi!

Chủ nhà đăm chiêu một lúc, lại thêm có con gái 20 tuổi đứng bên cạnh, lo âu ngước nhìn và khẩn khoản nói nhỏ:

– Mẹ tiếc gì năm triệu bạc! Nhờ thầy đi!

Bà đành gật đầu vì bà cũng đang nghĩ giống cô con gái: Cửa hàng mình đang làm ăn phát đạt, mà lão bảo hai năm nữa có thể trắng tay! Chả biết lão nói có đúng hay không nhưng thà thí cô hồn cho lão năm triệu để mua lấy sự bình an trong lòng! Bà đành bất đắc dĩ nói nhỏ:

– Vâng! Nhờ thầy!

Cái lối coi phong thủy bằng cách hăm dọa như thế đã mang lại lợi nhuận rất lớn cho ông thầy mặt dày, vì ai cũng sẽ nghĩ như bà: Thà quăng ra ít tiền còn hơn cứ ngay ngáy lo âu, sợ cái tương lai đen tối sẽ ập đến như thầy tiên đoán. Mà thầy bạo mồm lắm! Thậm chí dám bảo người ta là nếu không để thầy xoay lại nội thất thì sang năm trong nhà sẽ có người bị mù! Rồi từ từ cả nhà sẽ mù hết! Thầy nói thế thì ai còn dám từ chối thầy!

Câu chuyện thầy phong thủy đòi trang trí lại nội thất của cửa hàng mỹ phẩm xẩy ra đã hai năm. Mỗi lần vợ chủ tịch Nhất ghé thăm, bà Mỹ Trang đều nhắc lại và phân vân nói:

– Hai năm nay, nhờ giời, cửa hàng của em lúc nào cũng đông khách. Bà cũng thấy đấy! Các công ty mỹ phẩm, các đại lý, hết sức tin tưởng, nên họ giao hàng trước, sáu tháng sau mới tính tiền! Nhưng em cứ tự hỏi, giả như không có ông thầy phong thủy nhúng tay vào cửa hàng của em, thì tính hình buôn bán có được khả quan như thế này hay không? Thành ra em cũng chả hiểu là mình tốn cho lão 5 triệu là xứng đáng hay là phí phạm, bị lão lừa!

Bà Nhất cứng rắn đáp ngay:

– Theo tôi thì bà bị lão lừa! Lão dọa để bà sợ, phải cống tiền cho lão! Hàng của bà bán chạy là vì chất lượng tốt, hợp với sở thích khách hàng và lại gặp lúc kinh tế thịnh vượng chứ dính dáng gì đến phong thủy!

Bà Mỹ Trang chép miệng thở dài:

– Thú thật là em cũng chả biết thế nào! Tức lão thì em vẫn tức, nhưng có lúc em lại tự nhủ: Giá không có lão, biết đâu em đã xuống dốc hoặc trắng tay rồi! Nhờ lão mà chẳng có chuyện gì xẩy ra!

Bà Nhất vốn đã không tin phong thủy, nay nghe người bạn kể chuyện này lại càng mất hết cảm tình với các ông thầy phong thủy. Bà Mỹ Trang lại thêm:

– Bà còn nhớ ông bà Trịnh Cương không! Thầy phong thủy chỉ chỗ cho đầu tư, bây giờ giàu lắm! Hôm nọ vợ chồng ghé đây thăm em. Ông ấy khoe là cách đấy mấy năm, nhờ thầy phong thủy chỉ cho ông ấy mua ba căn phố sát nhau, chịu trả tới 50 tỉ? Mua rồi cả hai vợ chồng cùng lo, nhưng thầy phong thủy quả quyết giá nhà sẽ lên. Mà thật chả sai tí nào! Bây giờ ba căn hộ ấy lên giá vùn vụt vì nằm đúng khu công nghiệp Hàn Quốc đầu tư! Bà Cương cứ bảo em là thầy xem đúng quá! Bà ấy ôm cả đống tiền đến tạ ơn thầy!

Bà Nhất vẫn lắc đầu biện luận:

– Nếu thầy phong thủy làm cho một người từ trắng tay trở nên giàu thì tôi mới phục. Chứ ông bà Trịnh Cương thì tôi còn lạ gì! Trước khi gặp thầy phong thủy, ông bà ấy đã giàu quá rồi! Không giàu làm sao dám bỏ ra một lúc 50 tỉ!

Đại để thì bà Nhất lúc nào cũng có thái độ ngờ vực như thế. Nhưng ông Nhất thì trái lại, niềm tin của ông sắt đá lắm, không ai lay chuyển nổi. Ông mua đất xây nhà mới thiết kế trong ngoài đều bám sát lời chỉ dẫn của thầy phong thủy. Không phải ông cầu cho công danh sự nghiệp thăng tiến. Thăng làm gì nữa khi ông đã là ủy viên trung ương đảng, đang nắm chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, nghĩa là làm vua một cõi với tất cả mọi quyền hành và lợi nhuận. Ông đâu có thích về trung ương, không mê làm bộ trưởng hay thứ trưởng mặc dầu ông cũng có bằng thạc sĩ kinh tế do người khác thi giùm. Thậm chí ngay cả cái chân ủy viên Bộ Chính Trị ông cũng không ham bởi tiếng thì lớn mà quyền hành chẳng có bao nhiêu, trừ chức vụ thủ tướng. Tình hình ngày nay thay đổi lắm rồi, không còn như thời chiến hoặc những năm đầu của thời hậu chiến lúc phe bảo thủ còn quá mạnh. Ông là thành phần trẻ, ngoi lên sau chiến tranh khi thế giới đã bước sang thời đại internet, khi mà dép râu nón cối đã vào hẳn trong dĩ vãng để thay bằng Mercedes và điện thoại di động I- phone đắt tiền. Đảng viên trung ương bây giờ dám ngang nhiên có vợ bé, có đào trẻ, đạo đức cách mạng chỉ còn là dư âm của thời nghèo đói mà thôi. Ông cứ nhắc mãi với vợ là ông làm nhà theo phong thủy không phải để vươn lên thêm, mà chủ yếu chỉ đễ giữ lại, để bảo vệ những gì ông đang có! Thế thôi! Dù không tin, bà vợ cũng gật đầu nhất trí bởi bước đường công danh của chồng bà mấy năm nay toàn gặp may mắn bất ngờ. Có lúc ngồi uống rượu với bạn bè, ông khề khà nói thẳng ra một sự thật:

– Những người như cánh chúng mình, lớn lên sau chiến tranh, tức là đã may mắn lắm rồi!

Ý thức rõ ràng như vậy cho nên ông cần phải làm bất cứ cách nào để duy trì cái may mắn ấy và một trong những cách ông tin rằng hữu hiệu, là phải theo sát mọi lời chỉ dẫn của thầy phong thủy.

Trước hết, ông xây căn nhà đồ sộ dựa lưng vào sông, dòng sông nhỏ vốn ngày xưa chỉ là con kênh đào dẫn nước thủy lợi, lâu dần biến thành con sông nước trong xanh, đưa làn gió thoảng mát quanh năm vào nhà ông. Ông giải thích đơn giản cho bà vợ hiểu:

– Thầy bảo tôi: Phong là gió. Thủy là nước! Làm nhà chủ yếu cần ở nơi cao ráo, có gió có nước! Càng nhiều nước càng tốt, vì ông bà mình vẫn có câu là tiền vào như nước! Bởi vậy tôi dứt khoát lấy cho bằng được mảnh đất này! Cả thị xã, chả có chỗ nào thoáng bằng chỗ này!

Nhớ đến những bài báo gần đây tố cáo sự xa hoa của các quan chức trên cả nước, bà vợ dè dặt góp ý:

– Ông làm gì thì làm, tôi không biết! Nhưng đừng có phô trương quá, cánh nhà báo bây giờ hay soi mói lắm! Mà nói cũng đáng tội! Dân chúng nghèo khổ lại cứ thiên tai bão lụt liên miên, cho nên người ta cũng bức xúc!

Chủ tịch Nhất hừ một tiếng rồi gằn giọng:

– Tôi là chúa ghét đám nhà báo. Chúng nó muốn mị dân chứ thương yêu gì ai! Nhưng bà cứ yên trí. Bố bảo chúng nó cũng chả dám động vào tôi! Đứa nào ngo ngoe, tôi sẽ cho công an cùm tuốt, tống vào tù!

Rồi ông lái xe chầm chậm, chạy qua chạy lại mấy vòng trên khu đất ông sắp xây nhà vừa được dọn dẹp sạch sẽ.

Ngày trước, trên mảnh đất này là nhà máy dệt và xưởng nhuộm vải có cái tên rất là hấp dẫn là Chiến Thắng. Vì không huy động được thêm vốn đầu tư, ban giám đốc cứ để cho nhà máy càng ngày càng xuống cấp, nom xơ xác hoang tàn. Công nhân thì làm việc lấy lệ, đủ một ngày 8 tiếng để lĩnh đồng lương ít ỏi, chẳng ai còn tha thiết nhưng vì thời buổi việc làm khan hiếm nên cứ đành phải bám trụ. Thuở xưa trong thời bao cấp, Nhà Nước đưa ra cái gì nhân dân phải nhận cái ấy, không có sự chọn lựa nào khác. Ngày nay theo cơ chế thị trường, hàng nội không đủ chất lượng để cạnh tranh với hàng ngoại nên những xấp vải xưởng dệt Chiến Thắng sản xuất ra cứ ùn ùn ứ đọng, không ai tiêu thụ. Đã thế bao nhiêu thuốc nhuộm phế thải, cùng các hóa chất dư thừa, công nhân đều thản nhiên đổ bừa xuống sông, chẳng có một chút ý niệm gì về ô nhiễm. Báo chí và dân chúng quanh vùng liên tục than phiền, bởi rất nhiều căn hộ dọc theo bờ sông, ngày ngày vẫn múc nước tắm rửa hoặc thậm chí nấu ăn. Đơn khiếu nại gửi khá nhiều lên văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, chủ tịch Nhất phân vân chưa có phương hướng giải quyết thì tình cờ một hôm, có nhà ngoại cảm lái ô tô từ Hải Phòng về thị xã của Nhất trên đường đi tìm hài cốt. Đó là Hoàng Nga, một phụ nữ tuổi mới ngoài 30, theo bước chân bà Phan thị Bích Hằng, nhưng tiến xa hơn một cấp: Chẳng những Hoàng Nga có khả năng tìm hài cốt mà còn cung cấp luôn dịch vụ gọi hồn để thân nhân còn sống, có thể nói chuyện với người quá cố qua trung gian nhà ngoại cảm!

Từ vài năm nay, khi Nhà Nước có chính sách bồi thường liệt sĩ bằng tiền mặt cho bất cứ gia đình nào tìm được hài cốt của bộ đội hoặc cán bộ bị chết hay mất tích qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, thì hàng loạt các nhà ngoại cảm bỗng dưng nối đuôi nhau xuất hiện. Không biết họ từ đâu ra hoặc học ở trường nào, nhưng chắc chắn họ là những người có óc sáng tạo, biết nắm bắt thời cơ bởi nghề này sẽ không kéo dài được bao lâu, cần phải lanh tay lẹ mắt! Và lạ hơn nữa là có những nhà ngoại cảm đã từng bị bắt đi tù về tội lường gạt mà khi được thả, vẫn có người mướn đi tìm thân nhân như thường!

Thế là từng đống hài cốt được khuân đến nộp cho Ủy Ban để lãnh tiền theo chính sách, trong đó dĩ nhiên có cả xương trâu, xương bò và nhiều loại xương động vật khác. Không sao! Vì chính Ủy Ban kiểm tra sẵn sàng thông đồng, hân hoan ký giấy xác nhận toàn là xương người, xương đồng đội bị bỏ lại trên chiến trường hoặc được vùi nông dưới ba tấc đất giữa lúc khói lửa, bây giờ hòa bình lập lại, phải đi tìm cho bằng được để tỏ lòng tri ân lớp người nằm xuống. Ủy Ban Kiểm Tra thông đồng không phải chỉ để ăn chia tiền chính sách, mà quan trọng hơn là để giải quyết cho xong danh sách những liệt sĩ đã được ghi nhận là mất tích. Trả tiền người nào, gạch tên người ấy, coi như Nhà Nước xong trách nhiệm. Chính vì vậy mà hài cốt liệt sĩ có mập mờ trộn lẫn với xương thú vật thì Ủy Ban Kiểm Tra cũng đành chấp nhận cho êm chuyện!

Bà Bích Hằng nổi tiếng một thời, giờ không còn giữ thế độc quyền được nữa. Hàng chục nhà ngoại cảm khác, nam cũng như nữ bất ngờ xuất hiện, suốt ngày bận tíu tít vì thân chủ tìm đến quá đông. Hoàng Nga là một trong những nhà ngoại cảm đột xuất ấy, rất trẻ trung, năng nổ và biết cách làm cho mình đẹp. Hơn thế nữa, Hoàng Nga lại vượt hẳn các đồng nghiệp khác là có xe hơi, ăn mặc thời trang và xách bóp LV, trông giống như một chuyên viên địa ốc cao cấp hoặc nhà đầu tư của ngân hàng chứ không phải một người đàn bà xuề xòa chuyên đi tìm hài cốt và gọi hồn.

Trước khi về thị xã, Hoàng Nga đã liên lạc với một người quen, thuê phòng khách của họ để làm văn phòng tiếp thân chủ. Bà Thục, chủ nhà, có nhiệm vụ đi lang thang khắp phố phường, quảng cáo sự hiện diện hiếm có của nhà ngoại cảm Hoàng Nga để ai cần tìm hài cốt thân nhân thì đến gặp. Cô con gái đầu lòng 24 tuổi của bà Thục thì làm thư ký, trả lời điện thoại, đăng ký khách hàng và hẹn giờ để Hoàng Nga tiếp chuyện.

Ngay hôm Hoàng Nga mới khai trương văn phòng, bà Thục đã thi hành nhiệm vụ, nói oang oang ngoài chợ:

– Cô ấy giỏi lắm! Nhưng cứ bận suốt, nên chỉ nán lại đây được độ hai tuần là cùng! Người ta mua vé máy bay mời cô ấy đi khắp nơi. Cả trong thành phố Hồ Chí Minh!

Rồi nhân thấy nhiều người hiếu kỳ vây quanh lắng nghe, bà liền kể thêm câu chuyện mà Hoàng Nga mới nói với bà tối hôm qua:

– Có cái ông kia quê ở bên Phùng, năm 1954, đi dân công theo du kích đánh Tây ở bốt Phù Sa, rồi mất tích luôn từ dạo ấy! Cả nhà cứ khóc thương mãi, ma chay giỗ kỵ mấy chục năm giời không sót năm nào. Mãi đến khi gặp nhà ngoại cảm Hoàng Nga, mới phát hiện ra là lão chưa chết!

Bà Thục dừng lại một chút để nhìn phản ứng người chung quanh. Câu chuyện xem chừng hấp dẫn vì mấy người cùng ồ lên một tiếng ngạc nhiên. Bà Thục kết luận:

– Hóa ra dạo ấy đi đánh Tây, lão mới 18 tuổi, thừa lúc hỗn loạn, lão bỏ trốn, rồi theo Ngô Đình Diệm vào Nam. Đến năm 1975 lão lại đi thuyền sang Úc. Bây giờ gần 80 tuổi rồi, vẫn còn sống khỏe mạnh ở bên Úc!

Một bà bạn hàng chép miệng lên tiếng:

– Người đâu mà lại có cái người… bất nhân đến thế! Còn sống lù lù mà không liên hệ với người nhà để năm nào gia đình cũng phải làm giỗ!

Một bà khác tò mò hỏi:

– Nhưng làm thế nào mà cô Hoàng Nga biết lão còn sống?

Bà Thục rành mạch kể:

– Cô Hoàng Nga hơn các nhà ngoại cảm khác là chỗ đấy! Cô biết gọi hồn. Hồn về chỉ chỗ cho cô ấy, cho nên cô ấy tìm hài cốt được ngay… Nhưng riêng cái lão ở bên Úc, thì người em của lão đến gặp cô Hoàng Nga, kể chuyện lão đi đánh bót Phù Sa đã 60 năm. Bà em bây giờ cũng già lắm rồi, cứ sụt sùi khóc mãi vì yên trí anh mình chết bờ chết bụi, thương quá, ai nỡ đành lòng bỏ qua không tìm! Còn chiến tranh thì chả nói làm gì. Bây giờ hòa bình rồi, quên công lao người chết sao được! Thành ra muốn nhờ cô Hoàng Nga chỉ chỗ để mang xương cốt về cải táng! Nhưng cô Hoàng Nga gọi mãi mà hồn ông ấy không về!..

Mọi cặp mắt đều mở to, đăm đăm nhìn bà Thục chờ đợi đoạn kết câu chuyên. Bà nhấn mạnh:

– Gọi mãi mà hồn không về tức là lão còn sống! Phải chết mới có hồn mà hiện về chứ sống sờ sờ ra đấy thì hồn với vía cái gì!

Nhiều người lai ồ lên kinh ngạc, kèm theo những lời bình phẩm phê phán lão già mất nết bên Úc, làm khổ thân nhân suốt mấy chục năm nay. Những cái đầu gật gù nhất trí với bà Thục, khen ngợi tài năng của Hoàng Nga.

Một bà bạn hàng lại tò mò hỏi:

– Nhưng làm thế nào mà biết lão còn sống bên Úc! Mất liên lạc cả 60 năm rồi cơ mà!

Bà Thục đã được Hoàng Nga trang bị đầy đủ kiến thức nên đáp ngay:

– Biết là lão còn sống, cô Hoàng Nga mới đưa tin lên mạng…

Bà kia ngắt lời:

– Đưa lên đâu? Lên mạng là lên đâu?

– Mạng tức là trên máy vi tính, đưa tên tuổi kèm theo ảnh chụp của ông ấy lúc còn trẻ, nhờ mọi người, ai biết tin lão thì báo cho bà em biết! Thế là chỉ mấy hôm sau có người ở Úc biết thông tin về lão, xác minh lão còn đang sống ở bên ấy!

Câu chuyện kết thúc ở đây, mọi người đều thán phục tài của Hoàng Nga. Thế là ngay sau đó, bà Thục đem cho Hoàng Nga được một mớ khách khá đông. Bà Thục luôn luôn nhắc nhở mọi người rằng nghĩa tử là nghĩa tận, hết chiến tranh rồi đừng quên người đã chết! Và quả nhiên lời tuyên truyền ấy có kết quả cụ thể!

Thị xã không lớn lắm, nên bất cứ sinh hoạt nào lạ đều dễ gây xôn xao, nhất là bà Thục suốt ngày đi lang thang, quảng cáo tên tuổi Hoàng Nga. Chỉ vài hôm sau, tiếng đồn đến tai bà Nhất. Thân phụ bà mất tích năm 1969 trong đợt bổ sung bộ đội cho chiến trường Miền Nam sau những tổn thất nặng nề của cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, lúc bà mới hai tuổi. Bà nhớ mãi lúc bà bắt đầu có trí khôn, bà mẹ thường kể bằng giọng nuối tiếc:

– Bố mày đáng lẽ có thể tìm cách ở lại, chả cần phải đi B. Mẹ cứ cản mãi mà bố mày không nghe. Vì lúc ấy bố mày đang là Bí thư chi đoàn, tự nguyện đăng ký xin đi để làm gương cho người khác! Khổ thân! Nghe bảo chưa đặt chân vào đến Miền Nam thì đã mất rồi!

Giờ đây phong trào tìm kiếm hài cốt bừng bừng sống dậy, làm bà Nhất cũng nôn nao theo. Thân mẫu bà cũng đã mất cách đây 6 năm, chỉ còn mình bà gánh trách nhiệm với ông bố mà bà chỉ biết mặt qua mấy tấm hình trắng đen. Bà liền sai công an ra gọi Hoàng Nga vào cho bà gặp riêng. Hoàng Nga mừng hơn trúng số vì không có cách quảng cáo nào mạnh mẽ cho bằng bà chủ tịch tỉnh nhờ Hoàng Nga tìm hài cốt ông bố. Tìm thế nào được khi ông chết dọc đường Trường Sơn đã hơn 40 năm! Nhưng không sao! Hễ được bà chủ tịch tỉnh mời đến nhà là tên tuổi Hoàng Nga sẽ nổi bùng lên ngay trong khoảnh khắc. Hoàng Nga vốn là người khéo nói, biết cách đưa đẩy để tạo thân tình nên bà chủ tịch chẳng những cảm mến mà còn hết sức tin tưởng khả năng của cô.

Chủ tịch Nhất ở Ủy Ban về ăn trưa như thông lệ. Chỉ trừ những khi phải ra quán thù tiếp bạn bè, còn bình thường thì ông luôn luôn về ăn cơm nhà. Lý do là vì ông rất thích món cá rô chiên ròn chấm nước mắm gừng. Cá rô phải lựa những con còn nhỏ để khi rán thì ăn luôn cả xương. Những con cá rô lớn thì xé thịt, bỏ xương, nấu canh cải đắng thái nhuyễn như thuốc lào. Cả hai thứ đó chỉ có vợ ông hoặc chị người làm nấu là ông vừa ý. Một năm ít lắm ông cũng ăn hai món này cả trăm bữa vẫn chưa thấy chán. Bà vợ biết ý ông nên thường tự tay nấu rồi chờ ông về ăn chung cho vui.

Hôm nay chỉ có chị người làm dọn mâm lên, ông ngạc nhiên nhưng chưa kịp hỏi thì chị đã nhanh miệng báo cáo:

– Mời ông cứ xơi cơm đi! Bà đang có khách!

Chủ tịch Nhất kéo ghế ngồi và hững hờ hỏi:

– Khách nào? Lạ hay quen?

Ông hỏi câu này vì bình thường vợ ông không phải là người quảng giao, mặc dầu bản tính bà khá bình dị. Khách tìm đến với bà thường chỉ là những người cần nhờ cậy nhưng ngại nói chuyện trực tiếp với ông. Có bà vợ làm trung gian vừa tiện cho ông mà tiện cho cả người cần xin xỏ. Hôm nay ông cũng đoán thế nhưng chị người làm đáp:

– Thưa khách lạ. Con chưa gặp bao giờ!

Vừa lúc đó từ nhà trên bà vợ cất tiếng gọi:

– Ông ơi! Ông lên đây, tôi nhờ một tí!

Chủ tịch Nhất miễn cưỡng đi lên. Bà vợ vẫy ông lại và long trọng giới thiệu:

– Có nhà ngoại cảm Hoàng Nga mới từ Hải Phòng sang đây, chỉ cho người ta tìm hài cốt thân nhân. Kết quả tốt lắm, ông ạ! Ai cũng khen! Tôi định nhờ cô ấy giúp.

Hoàng Nga đứng dậy, kính cẩn chào. Chủ tịch Nhất chỉ khẽ nhếch mép gật đầu rồi tiến lại ngồi xuống bên cạnh vợ. Chiều vợ, ông để vợ muốn làm gì thì làm chứ bản thân ông, ông chán cái trò ngoại cảm này lắm! Ông biết chắc trăm phần là không thể nào tìm được nắm xương tàn giữa rừng núi mênh mông. Ông không dám bàn ra vì sợ vợ hiểu lầm là mình không có tình cảm với ông bố vợ đã khuất, nhất là bố vợ ông đã từng được địa phương biểu dương là một liệt sĩ anh hùng. Ông hỏi Hoàng Nga cho có chuyện:

– Thế đã có trường hợp nào tương tự như nhạc phụ của tôi mà cô phát hiện được hài cốt chưa? Ý tôi muốn nói là người mất đã 45 năm, chả có một nhân chứng nào cho biết là mất ở đâu, rồi cũng chả có ai tự tay chôn cất. Mà dù có chôn, thì có để dấu vết gì lại hay không? Làm sao mà tìm được!

Hoàng Nga tuy tuổi mới hơn 30, so với ông bà Nhất thì chỉ là hàng con cháu, nhưng cô tiếp chuyện thân chủ, không bao giờ xưng em, xưng cháu, bởi xưng hô như vậy sẽ làm mất cái thế của mình. Cô mỉm cười tự tin:

– Báo cáo ông chủ tịch. Có chứ ạ! Tôi tìm được nhiều rồi, chứ không phải đây là lần đầu! Muốn cho chắc ăn, tôi sẽ gọi hồn người quá cố về để bà chủ tịch nói chuyện rồi xác minh!

Điều này thì chủ tịch Nhất lại càng không tin, nhưng chưa chi đã thấy vợ mình xúc động rưng rưng nước mắt nhớ người đã khuất nên ông dằn lại không lên tiếng bài bác.

Nhìn mặt chủ tịch Nhất, Hoàng Nga cũng biết ông không hăng say trong công việc này, nên cô vội thêm:

– Người chết từ thời chống Pháp còn tìm được hài cốt, huống chi là mới đây! Nói chung, chết trong chiến tranh chống Mỹ thì không khó khăn gì!

Chủ tịch Nhất hững hờ đáp:

– Mới gì nữa! Mấy mươi năm rồi!

Dứt lời, ông bỏ mình vợ ngồi lại tiếp chuyện Hoàng Nga, còn ông lững thững xuống nhà ăn cơm tiếp vì còn phải trở lại văn phòng với bao nhiêu chuyện cần giải quyết chiều nay. Hoàng Nga bảo:

– Ngày mai xin bà chủ tịch sắm lễ, hương nhang đầy đủ. Rồi khoảng xế chiều, tôi sẽ đến, gọi hồn thân phụ bà về!

Bà Nhất gật đầu hài lòng:

– Vâng. Chiều mai độ 6 giờ, cô cứ chờ ở văn phòng của cô, tôi sẽ cho lái xe ra đón cô vào đây. Tôi sẽ sửa lễ đầy đủ!

Hoàng Nga lấy phone di động trong bóp, gọi về nhà cho con gái bà Thục, tức là cô thư ký mới mướn được một tuần. Hoàng Nga nới lớn:

– Thi hả? Chiều mai dứt khoát em đừng nhận khách. Chị bận cả chiều mai! Ai cần thì bảo họ sáng ngày kia quay lại!

Đầu dây bên kia, có tiếng nói đáp lại, nhưng Hoàng Nga cắt ngang:

– Thôi. Chị đang vội! Không nói chuyện được. Để chốc nữa chị gọi lại!

Rồi cô cúp máy và bảo bà Nhất:

– Vâng. Cứ như thế đi! Chiều mai độ 6 giờ, nhờ bà chủ tịch cho lái xe lại đón tôi! Cảm ơn bà chủ tịch trước!

Hoàng Nga đã toan đứng dậy ra về, nhưng cảm nhận được bà chủ tịch tính tình bình dị mà lại có thiện cảm với mình nên cô nán lại gợi chuyện thêm vì không dễ gì cô có cơ may lọt vào nhà nầy. Cô vốn tự tin ở khả năng ăn nói của mình, mồm miệng đỡ chân tay. Cái khả năng ấy đã đem lại cho cô xe hơi, trang phục tươm tất cùng nhiều món hàng giá trị khác mà đại đa số phụ nữ đều mơ ước nhưng rất khó đạt được. Cho nên trong bất cứ trường hợp nào, cô cũng cần phải khai thác tối đa khả năng giao tế của mình. Huống chi hôm nay may mắn được ngồi tiếp chuyện bà chủ tịch tỉnh, một đối tác quan trọng nhất kể từ ngày Hoàng Nga lao ra hành nghề ngoại cảm.

Từ lúc bước chân vào sân, Hoàng Nga đã để ý ngay đến những thứ mà cô thường thấy bày ra ở những gia đình khá giả, hoặc những đại gia đang có cơ sở làm ăn vững vàng. Thí dụ ngoài cổng thì hai con kỳ lân bằng đá trắng nằm gác hai bên. Cửa thì treo hình bát quái, gắn mảnh gương phản chiếu trên nóc. Trong nhà thì hồ cá nước chảy róc rách, từng bó cây thủy trúc gọi là cây phát tài đặt trên bàn trên kệ mà bó nào cũng gồm đúng tám cây. Và rõ nét nhất là cửa chính thì khóa lại, đặt mấy chậu kiểng chắn lối không cho khách vào. Cả chủ lẫn khách đều phải ra vô bằng cửa phụ bên hông. Tất cả những cái đó đều là dấu hiệu chắc chắn của một gia chủ nặng niềm tin phong thủy. Biết được điều đó, Hoàng Nga đi thẳng vào vấn đề vì tưởng bà Nhất là người mê phong thủy. Cô gợi chuyện:

– Bà chủ tịch chắc không tin, nhưng cuộc đời có những điều huyền bí trời sắp đặt mà mình không thể ngờ được. Trong chiến tranh, biết bao nhiêu bộ đội nằm xuống. Nói xin lỗi bà chủ tịch, người đời cứ bảo là chết bờ chết bụi. Nhưng có khi vô tình người chết lại nằm đúng chỗ địa lợi, gặp thế đất tốt, rồi nhờ vậy mà con cháu phát lên, trở thành phú quý!

Lần đầu tiên nghe một ý nghĩ lạ, bà Nhất nhíu mày hỏi:

– Nghĩa là cô cũng tin địa lý phong thủy? Tôi thì tôi không tin, nhưng ông nhà tôi thì làm gì cũng theo phong thủy! Lắm lúc tôi bực cả mình!

Hoàng Nga hơi giật mình nhưng vội nghiêm mặt đáp:

– Chết! Sao bà lại bực mình! Thưa bà, không tin cũng phải tin, bà ạ! Ba anh em ông Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ và Đinh Đức Thiện, đều làm to cả là nhờ thân phụ các ông ấy chôn đúng vào chỗ đất tốt. Thầy địa lý đã nói trước như thế chứ không phải sau này các ông ấy thành công rồi, người ta mới bịa ra!

Bà Nhất cãi lại:

– Tôi thì tôi lại cho rằng, người chết phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, chứ địa lý thì mơ hồ quá!

Hoàng Nga lắc đầu đáp:

– Chả phải đâu bà ạ! Phù hộ thì ai chả phụ hộ. Cha mẹ nào ở cõi bên kia mà không hết lòng phù trợ cho con cái! Nhưng có mấy người khá đâu bà! Cũng như thế đất, dễ gì gặp được thế đất tốt! Dễ gì chôn được vào long mạch!

Nghe câu chuyện hấp dẫn, lại đúng đề tài mà chồng say mê, bà Nhất ngẩng lên, lớn tiếng gọi:

– Ông ơi! Lên tôi nhờ cái này một tí!

Chủ tịch Nhất buông đũa, miễn cưỡng cầm chai bia lên nhà. Ông Ngồi xuống cái ghế cũ bên cạnh vợ, nhưng chưa kịp cất tiếng hỏi thì bà vợ bảo Hoàng Nga:

– Cô kể lại cho nhà tôi nghe đi. Ông ấy thích phong thủy lắm! Chuyện lớn chuyện nhỏ đều theo phong thủy cả!

Hoàng Nga hồi hộp nhắc lại chuyện ba anh em Lê Đức Thọ, điều mà ông Nhất có nghe láng máng từ lâu nhưng không rành lắm. Mà dù đã nghe rồi, ông vẫn muốn nghe lại vì ông thích có người đồng minh cùng mê phong thủy như ông. Ông vốn là người dễ nóng nảy, hay bẳn gắt quát mắng thuộc cấp theo thói quen cửa quyền của những xã hội chậm tiến thiếu dân chủ. Nhưng ông có một nhược điểm lớn là rất quí các thầy phong thủy và tiếp chuyện họ không biết mệt, mặc dầu đa số là thầy “dởm” kiến thức chẳng có bao nhiêu. Vợ ông thường nhắc ông về điều này, nhưng ông không thể thay đổi được. Người thường xin gặp ông rất khó, kể cả các quan chức dưới quyền, mà thầy phong thủy thì ông lại rộng mở vòng tay đón tiếp quá dễ dàng. Mới lúc nãy khi vừa gặp Hoàng Nga, thái độ của ông rất lạnh lùng vì Hoàng Nga chỉ bàn đến chuyện đi tìm hài cốt. Giờ này Hoàng Nga đổi sang đề tài phong thủy, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên, sẵn sàng tham gia câu chuyện một cách hào hứng. Dĩ nhiên Hoàng Nga nhận ngay ra điều ấy, nên cô lại kể thêm:

– Thời Pháp thuộc, ông Huyện Sĩ là một người giàu nhất Miền Nam. Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Lộc. Chắc ông chủ tịch có nghe. Bốn người giàu nhất Nam Kỳ thì ông Huyện Sĩ đứng đầu. Ông ấy xuất thân chỉ là anh lái đò ở Tân An. Nhưng nhờ làm nhà trên bờ sông, đúng thế đất tốt, nên phát lên thật nhanh như diều gặp gió!

Chủ tịch Nhất gật gù lẩm bẩm nhắc lại:

– Làm nhà trên bờ sông!.. Nhưng chắc phải có thầy chỉ chỗ cho ông ấy, chứ chả nhẽ ai làm nhà trên bờ sông cũng giàu cả hay sao! Phải không cô?

Hoàng nga đáp:

– Thưa ông chủ tịch. Tất nhiên là phải có thầy phong thủy tìm ra thế đất cho ông ấy! Nhưng nguyên tắc cơ bản là thế này: Phong là gió. Thủy là nước. Gió thì mình không kiểm soát được. Nhưng nước thì mình có thể uốn nắn theo ý mình được! Nếu muốn tập trung cả hai yếu tố là gió và nước, thì chả có chỗ nào bằng bờ sông! Nhất cận thị, nhị cận giang! Sách phong thủy vẫn dạy như thế!

Chủ tịch Nhất càng nghe càng thích thú vì không ngờ Hoàng Nga biết nhiều như vậy. Ông vui vẻ bảo:

– Tôi cứ tưởng cô chỉ là nhà ngoại cảm tìm chỗ người chết, hóa ra lại biết rành cả phong thủy!

Hoàng Nga gật đầu:

– Báo cáo ông chủ tịch. Tại nó có liên quan chặt chẽ với nhau! Khi tôi đi tìm hài cốt, tôi cũng phải nghiên cứu cả thế đất chỗ người chết đang nằm, để xem có nên cải táng đem đi chỗ khác, hay cứ để ở đấy, chỉ cần tu bổ lại ngôi mộ mà thôi! Nếu gặp thế đất tốt, thì tội gì mà đưa đi chỗ khác!

Bà Nhất dè dặt chen vào:

– Tôi nghe bảo ông Huyện Sĩ làm thông ngôn cho Tây, rồi Tây lấy ruộng bán rẻ cho ông ấy. Ông ấy cho tá điền thuê lại. Nhờ thế mà làm giàu chứ phong thủy nào vào đấy!

Hoàng Nga nhìn bà Nhất gật đầu:

– Thưa bà! Ông Huyện Sĩ giàu nhờ ruông đất thì đúng rồi! Nhưng người xưa có câu: “Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở”. Nếu ông Huyện Sĩ không có ngôi nhà trên bờ sông, đúng vào thế đất tốt, đúng vào long mạch, thì làm sao mà phát lên được! Thông ngôn cho Tây thời ấy thì thiếu gì người, sao lại chỉ có mình ông ấy giàu nứt đố đổ vách! Có phải thế không, thưa bà?

Chủ tịch Nhất hài lòng cười chen vào:

– Tôi vẫn bảo thế mà bà nhà tôi không tin!

Hoàng Nga mừng lắm. Được ông chủ tịch tỉnh đồng hành bàn chuyện phong thủy, cô đem hết kiến thức ra nói chuyện làm chủ tịch Nhất say mê lắng nghe, quên cả giờ phải ra văn phòng Ủy Ban. Điện thoại di động reo mấy lần, ông đều lờ đi, không thèm nhìn! Cô hứng khởi quay sang phía bà Nhất và thuyết phục thêm:

– Thưa bà. Phong Thủy là môn học tối cổ của Trung Hoa, có từ trước đời nhà Tần, là nét văn hóa lâu đời từ Trung Hoa truyền sang Việt Nam và trở thành văn hóa dân gian. Ngay cả cung đình chứ chả phải dân gian. Chắc ông chủ tịch thừa biết vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long cũng là theo phong thủy. Vua Gia Long nhà Nguyễn bỏ Thăng Long lấy Huế làm kinh đô cũng là theo phong thủy. Mà nói chi xa xôi: Cụ phó bảng Nguyễn sinh Sắc, thân phụ của Bác Hồ, là người nổi tiếng về địa lý. Cụ chuyên dùng la bàn đi tìm thế đất. La bàn của cụ hiện còn trưng bày tại khu lưu niệm ở Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp…

Chủ tịch Nhất càng nghe càng cảm phục. Hóa ra ngay cả bố của Hồ Chủ Tịch cũng còn say mê phong thủy huống chi là ông! Chẳng những say mê mà bản thân cụ phó bảng còn đi lang thang tìm đất người đời thường gọi là “tầm long” để đặt mộ, nhằm tương lai cải số.

Bà Nhất gượng cười ngắt lời Hoàng Nga:

– Người ngày xưa có thể họ giỏi thật. Chứ thời bây giờ thì người lợi dụng phong thủy để kiếm ăn nhiều lắm! Trăm người chưa chắc đã được một người giỏi. Lắm khi tiền mất tật mang đấy cô ạ!

Vừa nói bà vừa đưa mắt nhìn chồng. Chủ tịch Nhất lắc đầu cười nhạt và đứng dậy bảo:

– Thôi! Cô ngồi nói chuyện với nhà tôi nhé! Tôi phải ra Ủy Ban bây giờ!

Rồi ông bỏ xuống bếp. Hoàng Nga nán lại vài phút nữa rồi cũng đứng dậy xin phép ra về, hẹn sẽ gặp lại hôm sau để tiến hành thủ tục gọi hồn và tìm hài cốt.

Sau buổi gặp gỡ tình cờ ấy, chủ tịch Nhất cứ ám ảnh mãi câu chuyện “ông Huyện Sĩ nhờ làm nhà trên bờ sông rồi trở thành phú gia địch quốc, giống như Thạch Sùng ngày xưa.” Đầu óc ông bỗng nảy ra một sáng kiến độc đáo làm ông đang nằm trên ghế bố, bật ngồi thẳng người lên và lớn tiếng gọi lái xe đến chở ông ra thăm nhà máy dệt Chiến Thắng. Trong trí ông vừa lóe lên quyết định sẽ xuống lệnh giải tỏa toàn bộ khu vực nhà máy này. Giải tỏa nhưng có bồi hoàn chứ ông không đến nỗi chiếm không của người ta. Mà giải tỏa theo yêu cầu của quần chúng vì cần giải quyết vấn đề vệ sinh chung quanh bờ sông, chứng tỏ sự quan tâm của chính quyền đối với nhân dân, ông thấy quá hợp lý, không phải đắn đo gì nữa.

Đến nơi, ông không vào văn phòng, chỉ đỗ xe trên mảnh sân xi măng lỗ chỗ đầy ổ gà từ bao nhiêu năm nay nhà máy không hề bận tâm tu bổ. Từ bên trong có người nhìn thấy, vội vàng bảo cho nhau biết có đồng chí Chủ tịch Tỉnh đến tham quan. Thế là chỉ trong khoảnh khắc, cả ban giám đốc với đại diện công đoàn đều lục tục kéo ra chào đón. Rồi từ từ cả đám công nhân đều rón rén theo nhau ra diện kiến chủ tịch Tỉnh, nét măt ai cũng rạng rỡ vì quá bất ngờ. Chủ tịch Tỉnh đột xuất đến tham quan nhà máy, mang theo cả một niềm hy vọng cho họ: Chắc là Tỉnh đã lên kế hoạch tân trang lại xí nghiệp, trang bị máy móc mới để gia tăng sản xuất hầu theo kịp đòi hỏi của thị trường. Nghĩ như thế, nên cả bọn cùng xum xoe mời chủ tịch Nhất vào văn phòng, uống với anh em công nhân cốc cà phê. Nhưng ông không vào. Ông xuề xòa bắt tay từng người, rồi giục họ quay vào làm việc, chỉ giữ lại đồng chí giám đốc và đại diện công đoàn. Trước cặp mắt ngơ ngác của đồng chí giám đốc và vị đại diện công đoàn, chủ tịch Nhất vắn tắt thông báo quyết định đóng cửa nhà máy và xưởng dệt, giải tỏa khu vực bờ sông vì lý do ô nhiễm! Ông chỉ thị họ làm thủ tục xin bồi hoàn, đem nộp cho ông, rồi ông lên xe giục tài xế chuyển bánh vì không muốn giám đốc nhà máy kì kèo năn nỉ!

Một tuần sau, chủ tịch Nhất huy động xe đến ủi sập hết nhà máy, dọn dẹp sạch sẽ mọi thứ phế thải cùng rác rến bởi ông đã dứt khoát lấy luôn khu đất mênh mông đó làm nhà ở cho mình trên bờ sông, bắt chước ông Huyện Sĩ thời Pháp thuộc. Ông cứ nhớ mãi lời Hoàng Nga đã dặn:

– Muốn tập trung cả hai yếu tố là gió và nước thì chả có chỗ nào bằng bờ sông! Tục ngữ ta có câu: “Trăm người quạt hầu không bằng ngồi đầu ngọn gió!” Là vì cái gió tự nhiên từ mặt sông thổi lên mới là phong thủy đúng nghĩa.

Từ định luật căn bản ấy, ông mau mắn lên kế hoạch xây ngôi nhà phong thủy cho mình, noi gương ông Huyện Sĩ thời Pháp thuộc. Chỉ có điều Hoàng Nga không nhắc chủ tịch Nhất một câu quan trọng nhất trong thuật địa lý phong thủy là “Tiên tích đức, hậu tầm long”. Cha con ông Huyện Sĩ dù sao cũng chịu ảnh hưởng nền văn hóa Thiên chúa giáo, nên bỏ tiền xây nhà thờ, phát gạo hằng tuần cho người nghèo. Còn quan chức Việt nam ngày nay như ông, giàu nứt đố đổ vách mà chả có mấy ai nghĩ đến chuyện làm từ thiện!

Quả đúng như chủ tịch Nhất dự kiến, người trong thị xã chẳng những không trách ông chiếm đất công làm của tư, mà trái lại còn khen ông có mắt thẩm mỹ, vì nhờ căn nhà lộng lẫy của ông mà bờ sông đẹp hẳn lên, khác xa lúc còn cái nhà máy dệt tồi tàn, lắm hôm gió sông đưa mùi thuốc nhuộm hôi nồng, rất khó chịu cho lối xóm chung quanh. Cẩn thận hơn, ông chỉ thị cho công an thị xã thường xuyên kiểm tra, hễ bắt gặp nhà nào đổ rác xuống sông là bắt ngay, vừa phạt tù vừa phạt tiền. Nhà ông từ nay gắn liền với dòng sông. Nó phải trong lành, phải thơ mộng, chứ không thể bắt ông nhìn rác rến lững lờ trôi qua.

Nhà xây gần xong, bà vợ mới từ căn hộ cũ ở giữa thị xã ra tham quan, đứng trên lan can lầu hai sau nhà nhìn xuống mặt sông gợn sóng lăn tăn, hài lòng gật đầu:

– Tôi thì tôi chả cần biết phong thủy có lợi gì hay không? Nhưng trước mắt là nhà mình có gió mát quanh năm. Thế là mừng rồi! Nhà cũ của mình tuy đầy đủ tiện nghi, nhưng bí lắm. Cứ như là ở tù! Ra đây thoáng hơn nhiều!

– Nhà cũ tuy bí một tí nhưng đúng hướng! Vợ đàn bà, nhà hướng nam! Thầy phong thủy đã bảo tôi như thế! Không đúng hướng, không bài trí nội thất theo phong thủy thì làm sao bỗng dưng tôi được Đảng bố trí toàn những chỗ tốt! Bà có thấy kỳ diệu không! Chẳng phong thủy thì là gì!

Chủ tịch Nhất nói đúng! Tuy gọi là nhà cũ, nhưng thật ra đó là một căn hộ khá mới ông mua lại từ lức chưa lên nắm ghế chủ tịch Tỉnh. Ông mua lại do lời khuyến cáo của Cậu Bồng, tức là vị cố vấn phong thủy thường trực của ông. Cậu Bồng già rồi, nhưng hình như chưa bao giờ cưới vợ, nên người ta cứ quen gọi là Cậu và Cậu cũng thích như thế bởi Cậu là người của cõi trên, hư hư thực thực, y như tiên giáng trần để cứu nhân độ thế. Thầy xem phong thủy để cứu đời nhưng tiền thù lao thầy tính rất đắt bởi thầy bảo:

– Tiền nào của nấy! Xem phong thủy làm gì có giá! Có ai qui định tiền lương của thầy phong thủy bao giờ! Muốn tính bao nhiêu là tùy thầy! Nhưng phải hiểu rằng, càng đắt giá thì lời nói càng có trách nhiệm, càng đáng tin cậy! Ai không thích thì đừng mời tôi!

Chủ tịch Nhất thân với Cậu Bồng lắm, bởi hai người gặp nhau thường xuyên, chuyện lớn chuyện nhỏ đều tham khảo. Chủ tịch Nhất thưởng cho Cậu Bồng một món tiền lớn khi ông được bố trí lên chủ tịch Tỉnh, vì ông cho rằng đó là do công lao của Cậu. Bà vợ xót của, bảo chồng:

– Ngày nào tôi cũng thắp hương bàn thờ Mẫu, rồi đi lễ hết đền này đến đền kia. Mẫu ban lộc cho ông với tôi chứ phong thủy cái gì! Ông cứ có cái tật cứng đầu!

Điều này thì bà vợ nói rất thật lòng. Bà không tin phong thủy, nhưng bà đổ khá nhiều tiền vào các đền thờ Mẫu, mỗi năm ít lắm bà cũng phải lên đồng hai lần, phát lộc rộng rãi vì bà cho rằng chồng bà có sự nghiệp hôm nay là nhờ các Mẫu ban cho. Bạn bè của bà cũng thế, càng có chỗ đứng cao trong đảng, trong chính quyền, càng siêng năng đi chùa và sửa lễ rất hậu cho các thầy. Nói chung, ngày nay đền chùa phát triển mạnh một phần cũng nhờ các quan chức và đại gia tự nguyện đóng góp. Bà nhìn chồng nhấn mạnh thêm:

– Đền Phủ Giầy lúc nào cũng linh thiêng. Cầu gì được nấy! Chỉ phải cái tội là bây giờ đông người đến xin quá, thành ra cứ chật cứng như nêm. Chỗ đỗ xe cũng không có, lắm hôm đỗ xa quá, cuốc bộ mỏi nhừ cả chân! Đền Sòng cũng thế mà Phố Cát cũng chả thua gì! Người đâu mà cứ như nêm!

Chủ tịch Nhất xưa nay chưa bao giờ tin Mẫu bởi theo ông, các Mẫu đều là những nhân vật tưởng tượng do người ta chế ra. Chúa hay Phật còn có thật, cho nên cầu Chúa cầu Phật còn hợp lý, chứ các Mẫu thì rõ ràng chỉ là huyền thoại. Đã không có thật thì cầu làm sao được! Huống chi là một đảng viên cao cấp, trong thâm sâu chủ tịch Nhất vẫn cho tôn giáo là duy tâm phản động, là sản phẩm của tư bản để mê hoặc con người. Bài bác tín ngưỡng, nhưng ông lại tôn sùng phong thủy gần như mù quáng, gây nên mâu thuẫn thường xuyên giữa hai vợ chồng.

Về phần bà Nhất, ngay cả những khi không đi lễ các đền, lâu lâu bà vẫn thấy nhớ tiếng hát tiếng đàn của cung văn nên bà hay mở cassette hoặc CD đã thâu sẵn những bài ca quen thuộc để bà hát theo, bắt ông cứ phải nghe đi nghe lại mãi rồi thuộc lòng luôn từ lúc nào mà ông không biết:

Lạy bà! Bà ở trên ngàn

Thương con đệ tử trần gian bà về

Xá lầm, xá lú, xá mê

Trần gian bà về, bát nhã thuyền huê

Bà về bát nhã thuyền huê

Con công đệ tử ngồi kề hai bên

Lạy bà ! Bà đẹp chín nghìn

Trăng còn thua sáng, hoa nhìn kém tươi

Đó là những lời xưng tụng Bà Chúa Thượng Ngàn. Bà Chúa Thượng Ngàn, tức là mẹ núi rừng, mà cũng được ca ngợi là đẹp hơn tiên nga. Như vậy là người trần đã đánh giá Mẫu thấp quá, bởi chẳng nhẽ Mẫu mà cũng ưa nịnh giống như người phàm hay sao!

Ông đã từng cãi nhau với vợ nhiều lần từ ngày mới lấy nhau. Bây giờ thì ông chán rồi, vả lại tiền bạc đã dư giả, địa vị đã vững vàng, ông để vợ muốn làm gì thì làm, đi đâu thì đi. Bà Nhất thì trái lai, say mê các đền các phủ. Hội Phủ Giày hằng năm, bà không thể nào bỏ qua. Bà thích cái không khí ấy lắm. Trong suốt 10 ngày đêm, những ông đồng, bà đồng, những con công đệ tử, những người ngả nghiêng mặt đỏ như gấc, đi đứng xiêu vẹo. Người ta mê lên đồng như mê cờ bạc, dứt không ra. Người ta chìm đắm trong nhang khói và ngây ngất với tiếng đàn tiếng hát lôi cuốn của cung văn đến độ nhiều bà tan cửa nát nhà. Chủ tịch Nhất lúc đầu cũng lo lắng lắm bởi ngày ấy vợ ông thuộc loại phụ nữ có nhan sắc mặn mà. Nếu chẳng may sa ngã vào vòng tay một gã cung văn nào đó thì ông chỉ còn cách gục mặt độn thổ chứ làm sao nhìn thiên hạ khi ông là một đảng viên cao cấp!

Bây giờ thì ông không lo lắng nữa bởi vợ ông đã ngoài 45, có vắng nhà vài ngày mà ngụp lặn trong nhang khói và tiếng hát chầu văn cũng không sao!

Lần này xây nhà mới, để chiều ý vợ, để vợ khỏi đi đâu xa, ông dành hẳn cho vợ một căn phòng vuông vức trên lầu hai, cửa mở nhìn xuống dòng sông. Vợ ông gọi người về lập đền thờ Mẫu ngay tại nhà. Thôi thì cũng choáng ngợp sơn son thiếp vàng, đầy đủ một cung đình, ông hoàng, bà chúa, các cô các cậu, khói nhang nghi ngút, hoa thật và hoa giả tràn ngập không thua gì những ngôi đền quen thuộc mà trước đây bà thường lui tới cầu xin. Bà cảm động lắm, run run bảo chồng:

– Ông cho tôi thế này thì tôi chả còn mong ước gì nữa!

Bà nói câu ấy một cách rất thành tâm bởi bà vẫn tin chắc trăm phần rằng, mọi sự may mắn của chồng bà đều do Mẫu phù trợ. Lập đền thờ ngay tại nhà thì địa vị của chồng bà sẽ càng vững như bàn thạch! Đền của bà thờ Mẫu Liễu, tức là Đức Thánh Mẫu, được coi là vị thần thượng đẳng tối linh của dân gian! Bà mê chuyện Mẫu Liễu từ nhỏ, do thân mẫu bà vẫn kể mỗi tối trước khi đi ngủ:

– Mẫu Liễu vốn là công chúa Quỳnh Hoa trên thiên đình, vì đánh vỡ chén ngọc bị đày xuống trần gian, đầu thai vào nhà họ Lê ở thôn Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, thường được gọi là công chúa Liễu Hạnh. Sau lấy chồng sinh được 2 con thì bỗng dưng chẳng có bệnh tật gì mà viên tịch. Mất rồi, công chúa Liễu Hạnh vẫn thường hiển thánh, hiện về cứu giúp dân lành. Dân làng lập đền thờ và tôn vinh lên làm Vân Cát Thánh Mẫu…

Bà thích chuyện này đến nỗi hồi mới lớn bà cũng đã từng lim rim tưởng tượng, chính bà trước đây có thể cũng là một tiên nữ trên thiên đình bị đày xuống trần gian, như người ta vẫn gọi là “tiên mắc đọa”! Cho nên bà dự định mai kia, sau khi bà qui tiên, bà cũng sẽ hiện về cứu giúp dân nghèo trong tỉnh! Tạm thời bà rất hãnh diện vì Mẫu Liễu cùng quê huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định của bà. Lập đền thờ tại nhà, bà muốn lên đồng, hầu bóng lúc nào cũng được, chả cần đi đâu nữa. Những bà bạn chuyên lên đồng chung với bà, nườm nượp kéo đến, một phần vì muốn viếng Đền Mẫu của bà Nhất, nhưng lý do chính là hiếu kỳ muốn tham quan căn nhà đồ sộ nhất thị xã. Chủ tịch Nhất ưu tư nhắc nhở vợ:

– Bà phải qui định lại, cứ hai ba tháng hay là cùng lắm mỗi tháng các bà gặp nhau một lần. Không thể tùy tiện cứ mỗi ngày một đám kéo lại đây như thế được. Với lại, phải là những người quen của bà, bà biết mặt biết tên từng người mới cho vào. Nhỡ gặp thành phần xấu nó trà trộn vào đây thì làm sao! Mình là chủ tịch Tỉnh chứ có phải là nhà dân thường đâu! Dễ dãi quá không được!

Bà Nhất cũng nhận ra điều ấy, ngượng ngùng phân trần:

– Tại lúc đầu họ tò mò thôi! Tôi sẽ qui định lại!

Lo cho vợ xong, chủ tịch Nhất tính đến chuyện của ông.

Dựa vào thuật phong thủy, phía sau nhà, ông làm một cái sân rộng, lát gạch vuông, kê máy bộ bàn ghế mây bên cạnh những chậu kiểng, những cây bonsai cắt tỉa cầu kỳ, để sáng chiều vợ chồng ra ngồi ngắm hoa uống trà. Rồi ông cho lát gạch xanh một lối đi rộng, thoai thoải chạy sâu xuống sát bờ sông, hai bên trồng những cột đèn kiểu Âu Châu thời Cách Mạng Pháp 1789, nom vừa cổ kính vừa lãng mạn. Cuối con đường, sát mặt sông, ông cho đóng cái sàn gỗ để từ đó bước xuống chiếc du thuyền nhỏ mầu trắng, lúc nào cũng neo sẵn ở đấy mà ít khi gia chủ có dịp dùng tới. Phú quí sinh lễ nghĩa. Ông chủ tịch thừa tiền nên mua tàu để đó làm cảnh thôi chứ cả vợ lẫn chồng đều không thích du ngoạn trên mặt nước.

Hoàn tất phía sau rồi, ông mới tính đến sân trước và hai bên hông nhà. Theo lời chỉ dẫn của thầy phong thủy, thì bốn bề đều phải có nước. Ông liền gọi người đến đào hẳn một cái ao hình chữ nhật bên hông trái. Ông sẽ biến nó thành hồ sen, sẽ có chiếc thuyền con để chiều chiều chính tay ông bỏ từng nắm trà nhỏ vào từng bông sen rồi mỗi sáng sớm sai người ra lấy vào pha uống. Còn phía hông nhà bên phải thì ông đặt một loạt hòn non bộ nước chảy róc rách với hai bức tượng vệ nữ Âu châu bưng bình nước xối xuống chân liên tục. Cầu kỳ hơn, ông cho đàn em đem xe tải đi chở về những khối đá khổng lồ, dựng thành hòn núi cao nước tuôn róc rách y như núi thật trong rừng. Và đặc biệt nhất là ông cho xây một bức tường bằng đá hình chữ nhật, cao hai thước rưỡi, chiều ngang 5 mét, lúc nào nước cũng chảy suốt ngày đêm như một tấm màn mưa phùn vừa đẹp về mỹ thuật vừa có lợi về tài lộc. Phải nói sân nhà ông chính là một cái công viên thu nhỏ mà ông hết sức hãnh diện vì nó là một sáng kiến chưa từng có người nào nghĩ ra trước ông. Chưa đủ, trên khu sân trước rộng mênh mông, ông cho đào một con suối chảy ngang để bắc cây cầu gỗ cong cong kiểu Nhật Bản, ai vào nhà cũng phải đi trên cây cầu sơn đỏ dễ thương ấy. Trong thị xã cũng có nhiều người giàu, hoặc do kinh doanh, hoặc do buôn lậu hoặc do thân nhân từ hải ngoại đổ tiền về xây dựng. Nhưng sánh với chủ tích Nhất thì giang sơn của họ không thấm vào đâu xét về diện tích và óc sáng tạo.

Tất cả những thiết kế cầu kỳ ấy, thật ra không phải do chủ tịch Nhất nghĩ ra. Ông là người giỏi tính toán về tiền bạc chứ năng khiếu về mỹ thuật thì nông cạn lắm. Tất cả đều do công lao của thầy Lâm Quan mà chủ tịch Nhất đón từ Hà nội về. Cố vấn phong thủy thường trực của ông là Cậu Bồng mới chết vì ngộ độc thức ăn, khiến chủ tịch Nhất đâm ra bơ vơ khi tính chuyện xây nhà mới. May mà lại gặp được thầy Lâm Quan từ xa đến mà xem chừng nội công của thầy còn thâm hậu hơn cả Cậu Bồng. Thầy phác thảo sơ đồ trước cho chủ tịch Nhất xem. Chủ nhân hết sức hài lòng, giao hết công việc cho thầy trực tiếp chỉ đạo, lại còn rộng lượng bảo:

– Có tốn kém một tí cũng không thành vần đề. Miễn là thợ làm phải đúng ý của thầy!

Gặp được thân chủ khoáng đạt không quan tâm đến tiền bạc, thầy Lâm Quan thoải mái tha hồ vung tay hoàn tất công trình để đời của mình. Chủ tịch Nhất dù bận công vụ đến đâu, cũng cố chạy lại tham quan một ngày ít nhất hai lần để gật gù hài lòng với thành quả.

Xong cái vỏ thì đến cái ruột. Nhưng việc mua sắm đồ đạc trong nhà thì thầy Lâm Quan không phải động tay đến, bởi các ban các ngành, các đại gia từ các huyện lên đến thị xã đều tranh nhau dự phần đóng góp cho tân gia của ông chủ tịch tỉnh. Từ giường tủ, bàn ăn, bàn làm việc, sa lông phòng khách v.v… đều đã có người xí phần từ lúc nghe tin chủ tịch Nhất khởi công xây nhà mới. Thầy Lâm Quan chỉ có nhiệm vụ trang trí nội thất và kê giường tủ cho đúng với phép phong thủy mà thôi. Chẳng hạn ở trên nóc, chỗ hai mái nhà nối lại với nhau cho nước mưa chảy xuống ống máng, thầy bảo đó là hình ảnh một lưỡi gươm, cho nên chủ tịch Nhất phải tránh đừng kê gường nằm hoặc bàn làm việc ngay phía dưới lưỡi gươm dễ đâm vào người, có thể bị đau bụng hay đau lưng! Lý luận dù vô lý và ngây ngô đến đâu, chủ tịch Nhất cũng đều ngoan ngoãn nghe theo!

Khi mọi việc đã hoàn tất, thầy Lâm Quan đề nghị với chủ tịch Nhất thêm một chi tiết nữa để chứng tỏ sự tận tâm của mình đối với thân chủ quá quan trọng. Thầy nói:

– Nhà ông chủ tịch là số 191 đường Hàm Nghi…

Chủ tịch Nhất ngắt lời:

– Thì đúng rồi. Vẫn là số cũ của nhà máy dệt Chiến Thắng! Tôi đang đặt người ta đúc cho cái bảng số nhà bằng đồng thật nổi để gắn ở ngoài cổng!

Thầy Lâm Quan giơ tay ngăn lại:

– Khoan! Ông chủ tịch đừng đặt bảng số nhà vội…

Chủ tịch Nhất lại nhíu mày ngắt lời:

– Sao thế? Tôi đặt rồi. Họ hẹn vài ngày nữa là xong!

Thầy Lâm Quan ân cần cắt nghĩa:

– Đứng về mặt phong thủy thì 191 không phải là số đẹp! Số đẹp nhất vẫn là số 8. Bởi tiếng Tàu phát âm là “bát”, mà “bát” cũng đồng âm vời chữ “phát” tức là phát tài hay phát lộc. Vì vậy người ta mua bảng số xe, số nhà hay số điện thoại, chịu trả tiền nhiều hơn để có số 8.

Chủ tịch Nhất chưa hiểu, mặt ngơ ngơ nhắc lại:

– Nhưng nhà mình là số 191, thì lấy ở đâu ra số 8?

– Người ta không lấy được nhưng ông chủ tịch thì lấy được chứ ạ! Tôi đề nghị ông chủ tịch bỏ số nhà 191, lấy số 188, tức là có đến 2 số 8 thì lại càng tốt hơn!

Chủ tịch Nhất vẫn chưa hiểu, tròn mắt quay nhìn thầy Lâm Quan, gắt nhẹ:

– Mình lấy số 188 cho nhà mình thì cái thằng đang có số nhà 188, mình quăng nó đi đâu!

Thầy Lâm Quan nhẹ nhàng giải thích một cách chi tiết:

– Nhà ông chủ tịch là số 191, phải không ạ? Bây giờ ông chủ tịch muốn lấy số nhà mình là 188 thì ông chỉ việc chỉ thị cho 3 căn hộ trước ông, tức là các hộ 188, 189 và190 phải đổi số. Căn hộ 187 thì giữ nguyên. Căn 188 thì bắt nó đổi thành 187a, rồi 189 đổi thành 187b và 190 thì thành 187c. Đến nhà ông chủ tịch sẽ là 188!

Chủ tịch Nhất im lặng trầm tư. Thầy Lâm Quan tưởng ông chưa hiểu, vội nhanh nhẩu thêm:

– Nghĩa là trên con đường Hàm Nghi này, từ căn hộ số 1 đến căn hộ số 187, cứ giữ nguyên. Sau 187 sẽ là 187a, 187b, 187c và kế đến là 188, tức là nhà ông chủ tịch! Như vậy ông chủ tịch được 2 con số 8!

Chủ tịch Nhất bật cười thành tiếng:

– Nghĩa là sẽ có đến bốn căn hộ cùng mang số 187?

Thầy Lâm Quan gật đầu:

– Cùng mang số 187, nhưng mình cho nó thêm a,b,c. Bưu điện giao thư đâu có lẫn lộn được!

Chủ tịch Nhất thấy ý kiến này của thầy Lâm Quan ngang ngược quá, nhưng vì nhu cầu phong thủy, ông sẽ phải làm theo. Ông nói thêm:

– Như thế thì sẽ phải đổi hết tất cả những căn hộ nối tiếp sau nhà mình hay sao? Chả nhẽ nhà mình là số 188 rồi căn hộ kế tiếp là 192!

– Có sao đâu, ông chủ tịch! Nhảy một vài số có thiệt hại gì cho ai! Cứ giữ như thế cho bưu điện họ dễ làm việc! Với lại, đường Hàm Nghi này theo tôi biết thì cũng khá dài. Thay hết số nhà thì mất nhiều thời gian lắm!

Chủ tịch Nhất hài lòng gật đầu. Những chuyện động trời khác, ông còn dám làm thì ăn thua gì vài cái số nhà!

Ba tháng làm việc chặt chẽ bên nhau, tình thân giữa chủ tịch Nhất và thầy Lâm Quan phát triển rất tốt đẹp. Lúc chia tay, chủ tịch Nhất tiễn thầy ra tận cổng, tặng thầy thêm một cây thuốc 3 số 5 và ân cần dặn:

– Có dịp ghé ngang đây, nhớ gọi cho mình một tiếng!

Thầy Lâm Quan cảm động đến rơi nước mắt!

Vậy mà hôm ăn tân gia, chủ tịch Nhất lại không mời thầy Lâm Quan về dự. Thậm chí có vài người hỏi thăm, chủ tịch Nhất còn cẩn thận không cho địa chỉ hoặc số điện thoại của thầy. Chả phải ông ích kỷ, nhưng ông không muốn bất cứ một người nào khác nghe lời cố vấn của thầy Lâm Quan rồi lại xây nhà giống như của ông, thì cái dinh cơ đồ sộ này của ông sẽ mất đi nét độc đáo có một không hai tại thị xã này. Dinh thự của chủ tịch Nhất hiện nay tuy chưa đáng gọi là “siêu khủng”, nhưng vẫn đứng hàng đầu tại thị xã, chưa biết bao giờ mới có căn hộ thứ hai tương tự như thế.

Dân trong thị xã, nhiều người xầm xì bảo nhau: Ông Nhất về nắm chủ tịch tỉnh mới có hơn 2 năm mà giàu xụ, xây nhà to đùng, cực kỳ hoành tráng. Ý nói là nhờ ông tham nhũng mới giàu nhanh như vậy!

Thật ra nói thế là oan cho ông. Ông giàu từ trước chứ chả phải chờ lên chủ tịch mới khá. Thu nhập của ông bắt đầu vào dồn dập như nước từ lúc ông được bố trí làm chủ tịch Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng của Tỉnh. Cái Ủy Ban này Tỉnh Ủy mới chế ra để tạo uy tín cho chính quyền và làm an lòng nhân dân phần nào. Nắm Ủy Ban này, ông có nhiệm vụ thanh tra tất cả những tập đoàn kinh doanh, những đại gia, các cơ sở thương mại, viên chức chính quyền các cấp trong toàn tỉnh. Nếu phát hiện tham ô là bắt ngay đưa ra tòa hoặc đề nghị ngưng chức.

Báo chí vừa loan tin chức vụ mới của ông, lập tức những kẻ có máu mặt trong tỉnh và nhất là ở thị xã, ùn ùn kéo đến xin gặp riêng để quà cáp, bởi xã hội Việt Nam ngày nay làm gì có ai không vướng tội tham ô nếu ông muốn moi móc! Nhưng ông Nhất cứng rắn lắm, nhất định không nhận quà. Ông dặn vợ chỉ lấy tiền mặt hoặc vàng mà thôi! Cho nên bất cứ ai đến gặp ông ở văn phòng hoặc tại tư gia, đều đi tay không, chẳng để lại dấu vết gì cho đám nhà báo có cơ hội soi mói. Vợ ông tổ chức tiệc liên hoan tiễn chân đứa con gái út sang Canada du học, khách mời không đông nhưng tiền mừng thừa sức cho con ông tiêu xài thoải mái 4 năm ở xứ người. Sau buổi tiệc, bà ngồi đếm tiền trong buồng ngủ và vui vẻ bảo chồng:

– Tôi đã để hẳn ra một món tiền cho cái Phụng nó đi học, định mở cho nó một tài khoản ngân hàng ở bên ấy. Không ngờ hôm nay khách cho nó nhiều quá, chắc chả phải dùng đến tiền của mình nữa!

Ông Nhất gạt đi:

– Người ta cho tôi chứ ai cho nó! Tôi không nắm cái ghế chủ tịch Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng thì đứa nào thèm ngó đến cái Phụng của bà!… Nhưng được bao nhiêu mà bà bảo là nhiều? Thấm vào đâu! Đàng nào thì mình cũng còn phải mua cho nó một căn hộ ở bên ấy tệ lắm thì cũng phải vài trăm ngàn đô, vừa là chỗ cho nó ở, vừa để đầu tư cho mai sau. Các ông ở trung ương, chả có ông nào không có nhà ở nước ngoài. Có ông ôm đến mấy căn!

Bà Nhất chép miệng nói:

– Thì ai cũng phải tính chân trong chân ngoài chứ ông! Mình như thế là chậm đấy!

Rồi bà cất tiền vào tủ và mỉm cười thêm:

– Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ! May mà ông được bố trí công tác mới chứ ông cứ nắm Thông Tin Văn Hóa thì có gì mà ăn!

Chủ tịch Nhất nhẹ nhàng cãi:

– Nhưng mà cũng nhờ uy tín của tôi suốt mấy năm nắm Thông Tin Văn Hóa, Đảng ủy mới tin tưởng mà giao cho tôi Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng!

Trong các xã hội chậm tiến như Việt Nam thì người phụ trách chống tham nhũng thường là những người tham nhũng nhất. Nhưng họ có cách tự giải thích để xóa mặc cảm tội lỗi của mình rất dễ dàng. Chẳng hạn chủ tịch Nhất vẫn thường bình thản nói với vợ rằng: Họ tự nguyện đem tiền đến cho ông chứ ông có ép buộc ai đâu mà bảo là tham ô!

Hai năm sau, nhân kỳ bầu cử, tỉnh ủy sắp xếp lại các chức vụ, ông được bố trí làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh. Đồng chí Dương Thành đang làm Bí thư kiêm Chủ tịch Tỉnh thì nhiệm kỳ này chỉ còn giữ chân Bí thư, nhường chức Chủ tịch cho ông Nhất. Trên nguyên tắc, Bí Thư Tỉnh Ủy là chức lớn nhất, đứng đầu tỉnh, nhưng chưa chắc thu nhập đã dễ dàng bằng chủ tịch Tỉnh. Thời còn phe bảo thủ, giáo điều, thì Bí thư mới thực sự quan trọng bởi là đại diện của Đảng mà Đảng luôn luôn đứng trên chính quyền. Còn bây giờ chuyển sang cơ chế thị trường thì Chủ tịch Tỉnh mới là người trực tiếp nắm giữ mọi hoạt động kinh tế trong tỉnh cũng như các thủ tục hành chánh, để có cơ hội làm tiền.

Đúng là thời cơ đến như diều gặp gió! Tổng kết lại thì suốt 2 năm coi Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng, chủ tịch Nhất chẳng phát hiện được vụ nào đáng kể bởi những đối tượng mà ông cần thanh tra đều đã mau mắn đến gặp riêng ông ngay từ buổi đầu rồi. Tuy vậy, tất cả các đồng chí trong tỉnh ủy đều nhìn ông thông cảm¸ bởi họ đều biết, tự căn bản, Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng lập ra, một mặt để xoa dịu quần chúng và báo chí, mặt khác để chính các đồng chí trong ủy ban có cơ hội kiếm tiền! Suốt thời gian tại chức, ông chỉ hy sinh vài đứa tép riu, cho đi tù để làm đẹp mặt cho chế độ mà thôi!

Bây giờ lên ngồi ghế chủ tịch tỉnh, ông Nhất mãn nguyện coi như đường công danh của mình đã đạt đến tột đỉnh rồi. Ông thốt nhớ đến công lao của Cậu Bồng đã sắp đặt phong thủy nội thất để mở ra con đường quan lộc thênh thang cho ông. Người tài như thế mà chẳng may vắn số chỉ vì ăn nhầm thức ăn thiếu vệ sinh. Thật là đáng tiếc!

Phần ông, ông cần phải bảo vệ địa vị và tài sản của mình, mà cách bảo vệ duy nhất là tận dụng sự kỳ diệu của môn phong thủy. Cho nên ông dò la kỹ lưỡng, thăm hỏi đó đây và cuối cùng phát hiện được thầy Lâm Quan từ Hà nội về gặp ông trước khi cho công nhân bắt tay vào việc đổ nền xây nhà. Ngay cả việc khởi công, ông cũng nhờ thầy chọn ngày lành tháng tốt để mọi việc được xuôi buồm thuận gió. Thật ra thì việc phát hiện được thầy Lâm Quan không phải do công lao của chủ tịch Nhất. Lúc có ý định xây nhà mới, ông rất khổ sở vì Cậu Bồng vừa qua đời, cần tìm ngay một thầy phong thủy mới. Ông thăm hỏi mãi chả thấy ai đáng tin cậy. Ông sực nhớ tới Hoàng Nga mà ông tin là có kiến thức sâu sắc qua mấy lần nói chuyện. Lúc ấy Hoàng Nga đã về nhà, sau chuyến đi ngắn ngày thật vui vì được làm quen với ông bà chủ tịch Nhất, lại thêm món tiền bà trả công cho cô rất hậu. Mừng hơn nữa là chủ tịch Nhất rõ ràng không tin chuyện ngoại cảm, lại càng không tin chuyên gọi hồn, nhưng ông hoàn toàn yên lặng, không cật vấn cô như nhiều ông chồng khó tính mà cô từng phải đương đầu. Hôm nay cô về Hải Phòng vì có người đón sang hành nghề ở Quảng Ninh. Lần này cô không phải đi tìm hài cốt bộ đội mà tìm xác một đứa bé đi tắm sông rồi chết đuối, thi thể không biết trôi dạt về đâu! Chủ tịch Nhất muốn mời Hoàng Nga trở lại để cố vấn ông về thiết kế phong thủy cho căn nhà mới sắp xây, bởi ông vẫn nhớ ơn Hoàng Nga đã gợi ý cho ông chọn địa thế trên bờ sông và bây giờ ông làm theo. Nhưng Hoàng Nga thoái thác vì bận. Cô bảo:

– Cảm ơn ông chủ tịch đã nhớ đến tôi. Nhưng sự hiểu biết của tôi còn nông cạn lắm, chưa thấm vào đâu. Để tôi giới thiệu ông thầy của tôi, tức là thầy Lâm Quan, cả Hà Nội ai cũng biết tiếng! Chỉ có điều là thầy tôi bận lắm, chả biết có thu xếp thì giờ được hay không?

Cô nói thêm vài câu ca ngợi tài năng xuất chúng của thầy Lâm Quan, mặc dù cô chẳng cần nói, chủ tịch Nhất cũng đã tin tưởng rồi, bởi kiến thức của Hoàng Nga từng làm ông nể phục thì huống chi là thầy của Hoàng Nga. Cô hỏi:

– Bao giờ thì ông chủ tịch khởi động?

Chủ tịch Nhất khẩn khoản:

– Càng sớm càng tốt cô ạ! Đừng để sang mùa mưa, vất vả lắm! Cô chưa biết: Đất vùng này hễ lầy lội thì dính lắm, nhấc chân lên không nổi! Nhờ cô nói khéo hộ tôi! Cô nói một tiếng thì thể nào cũng được!

Hoàng Nga làm bộ ngần ngừ một chút rồi đáp:

– Vâng! Ông chủ tịch đã bảo thế thì tôi từ chối thế nào được! Để tôi gọi điện cho thầy Lâm Quan ngay bây giờ! Có gì tôi sẽ báo lại ông chủ tịch!

Bà Nhất nghe chồng nói chuyện với Hoàng Nga, cũng thấy vui trong lòng, vì bà rất mong cô trở lại. Chuyện tìm hài cốt tuy chưa giải quyết xong, nhưng bà cũng tạm an tâm vì hôm ấy, trước bàn thờ đầy hoa quả và khói hương nghi ngút, Hoàng Nga đã xuất hồn, dùng thần giao cách cảm, tiếp xúc được với vong linh ông bố bà, rồi kể lại:

– Ông bảo đơn vị xuất phát từ Quảng Bình, mới đi được bốn ngày trên đường mòn Hồ Chí Minh thì bị bom của giặc lái Mỹ. Đợt bom đầu tiên, ông không sao cả, chỉ bị điếc tai, nói chuyên với đồng đội phải dùng thủ hiệu tức là lấy tay ra hiệu cho nhau. Mười lăm phút sau, giặc lái Mỹ quay lại ném bom lần thứ hai, ông vẫn bám lấy sườn núi. Nhưng đồng đội có mấy người bị hất văng xuống vực. Ông dũng cảm lao xuống cứu, không may, do sức ép của bom, từng tảng đá lớn bên sườn núi theo nhau lở xuống. Thế là đất với đá trút ào ào xuống vực, đè chết cả mấy người dưới ấy…

Nghe đến đây, bà Nhất òa lên khóc lớn rồi nức nở hỏi:

– Chỗ bố tôi nằm hiện giờ có dấu tích gì để mình phát hiện mà đem hài cốt về hay không, cô?

Hoàng Nga đã chuẩn bi sẵn, đáp ngay:

– Tôi có hỏi ông, nhưng ông bảo thôi cứ để yên cho ông an nghỉ bên cạnh đồng đội. Hằng năm, cứ đến ngày 12 tháng 9 gia đình nhớ đến ông là được rồi!

Chủ tịch Nhất nghe Hoàng Nga kể chuyện gặp người từ thế giới bên kia, lòng dửng dưng không tin một chút nào, nhưng thương vợ nên kiên nhẫn đứng chắp tay trước di ảnh nhạc phụ đặt trên bàn thờ trong làn khói mờ mờ ảo ảo. Bà Nhất sụt sùi lấy bút ghi ngay dưới tấm ảnh của ông bố ngày giờ hằng năm là 12 tháng 9, rồi ngay hôm sau mang bức hình trắng đen của ông, lên đặt trên chùa. Thầy chủ trì đón tiếp ông bà chủ tịch Tỉnh hết sức ân cần và dành một vị trí trang trọng nhất để đặt di ảnh của người bộ đội dũng cảm!

Chuyện đi lấy hài cốt, bà không bàn tới nữa vì ý nguyện của người đã khuất muốn như thế. Chỉ có điều từ hôm ấy, bà thấy lòng mình bớt áy náy hơn vì biết rõ ngày bố bà mất để từ nay cúng giỗ. Huống chi đó là một cái chết anh hùng vì bố bà dám hy sinh lao xuống vực cứu đồng đội. Từ đó bà càng có cảm tình vời Hoàng Nga và mong cô thỉnh thoảng trở lại ăn với bà một bữa cơm cho vui.

Chủ tịch Nhất lại càng mong Hoàng Nga hơn bởi Hoàng Nga có kiến thức sâu xa về phong thủy. Tiếc rằng dịp này cô bận nên phải từ chối cộng tác và giới thiệu thầy Lâm Quan đến thay. Cũng tốt thôi, vì ông rất cần một người giỏi giúp ông thiết kế căn nhà mới bên sông.

Thế là năm hôm sau, thầy Lâm Quan lù lù xuất hiện trước hiên nhà, xin vào gặp chủ tịch Nhất. Đúng ra thì thầy đã có thể qua gặp chủ tịch Nhất ngay hôm Hoàng Nga vừa gọi điện vì thầy đang thất nghiêp nằm dài ở nhà. Nhưng thầy phải đóng vai người bận rộn quanh năm vì thân chủ giành nhau níu kéo, nên thầy đành ngồi chơi xơi nước ăn mì gói thêm mấy hôm nữa rồi mới đón xe khách sang trình diện chủ tịch Nhất. Thầy trạc tuổi ngoài 40, dáng người đầy đặn, đeo kính trắng, dù thầy không hề cận thị. Thầy mặc bộ đồ đặt may màu trắng đục, cài nút từ cổ thẳng xuống bụng giống như trang phục của võ sinh Tàu thời Lý Tiểu Long. Thầy mang theo cuốn sách dày cộm toàn chữ Tàu mà chính thầy không hiểu gì cả, nhưng có in hình bát quái ở ngoài bìa nên nom rất huyền bí. Thầy đặt cuốn sách trên bàn, bắt tay chào hỏi rồi nhập đề ngay:

– Tôi phải bỏ dở công việc bên Thường Tín, khẩn trương chạy sang đây, vì cô học trò tôi cứ nằng nặc bảo là ông chủ tịch cần gặp tôi gấp!

Chủ tịch Nhất gọi người nhà pha trà mời khách rồi nói:

– Cảm ơn thầy!Thế thì quý hóa quá! Tôi vội lắm! Thầy uống tạm cốc nước chè cho đỡ khát rồi tôi với thầy ra bờ sông!

Chủ tịch Nhất mở tủ, lấy gói thuốc ba số 5 còn nguyên, khui ra mời thầy và lịch sự nói:

– Chưa được hân hạnh biết thầy, nhưng cô Hoàng Nga đã có lời giới thiệu thì tôi rất an lòng!

Thầy Lâm Quan bật lửa, rít hơi thuốc đầu tiên rồi hạ giọng nhỏ xuống như sợ có người theo dõi. Thầy bảo:

– Xin ông chủ tịch giấu hộ tôi, đừng để lọt ra ngoài. Nhà ông Nguyễn Tấn Dũng với ông Nguyễn Phú Trọng đều do một tay tôi thiết kế. Nhất là ông Dũng. Nhờ theo đúng lời tôi, ông Dũng ngồi ghế thủ tưởng vững như bàn thạch!

Sở dĩ thầy bạo mồm như thế là vì đã được Hoàng Nga cho biết chủ tịch Nhất mê phong thủy một cách cuồng tín bà vợ cản thế nào cũng không lay chuyển được. Phải mạnh miệng bảo đảm cơ nghiệp của thân chủ sẽ đứng vững lâu dài thì mới dễ ăn tiền!

Mà thật ra thì chẳng cần Hoàng Nga dặn dò, bởi thầy Lâm Quan vốn có cái thú huênh hoang như vậy từ khi ra hành nghề. Thiên hạ cứ bảo nhau, nghề phong thủy của thầy cũng như nghề ngoại cảm của Hoàng Nga, đều là những nghề không vốn mà thu nhập đôi khi rất cao. Nói thế cũng không chính xác. Không cần vốn bằng tiền, nhưng phải có vốn bằng miệng lưỡi, bằng phét lác điêu ngoa, miễn là làm cho người ta tin. Cái lợi thế của người làm nghề phong thủy là ở chỗ, họ không tin, người ta đã không đón rước thầy về nhà! Họ đón thầy về hân hoan trả thù lao cho thầy, tức là trong lòng họ đã sẵn tin tưởng rồi, thầy không cần dè dặt hay đắn đo. Muốn nói hươu nói vượn gì cũng được! Huống chi Việt nam ngày nay có một nền văn hóa mới rất phổ biến, gọi là “văn hóa nổ”! Hình như không nổ, người ta không chịu được! Nổ từ trên xuống dưới, đủ kiểu, đủ cách! Ở những nước văn minh như Mỹ, như Canada, người có nhiều thì giấu bớt. Ở Việt Nam, có cái gì cũng đem khoe và khoe luôn cả những cái mình không có! Dần dần nói dóc trở thành thói quen, thành truyền thống, trăm voi không được bát xáo! Mà đặc biệt là nói dóc nhưng không ai biết ngượng cả! Người Mỹ, người Canada, rất sợ bị gọi là “liar”, tức là kẻ nói dối. Từ đứa bé cho đến người lớn, hễ bị chê là liar thì cảm thấy nhục nhã có thể gây nên ẩu đả! Việt nam thì khác hẳn, có thể nói dối rất thản nhiên, không một chút áy náy! Âu cũng là do xuất phát từ mặc cảm tự ti, vì sợ người ta coi thường mình nên mới phải nổ! Thật là vừa đáng trách vừa đáng thương! Cái lối sống nặng về mặt mũi, phô trương bề ngoài, phồn vinh giả tạo, đã đẩy người ta vào những hoạt động bất chính miễn là kiếm được tiền, và nhất là đẩy các quan chức vào con đường tham ô không thể tránh được. Một đại gia lương chính thức không đủ sống mà vẫn có thể mua cho đào nhí cái bóp Hermes cả trăm ngàn đô Mỹ thì tiền ấy ở đâu ra!

Nghe thầy Lâm Quan khoe thành tích, chủ tịch Nhất không thắc mắc bởi chính ông cũng đã từng nghe đồn các đồng chí đàn anh ở Bộ Chính Trị đa số đều áp dụng phong thủy để vun đắp cho sự nghiệp và tài sản của mình lâu dài. Ông chưa biết khả năng của thầy Lâm Quan đạt tới mức nào. Nhưng chỉ cần biết thầy là thầy của Hoàng Nga thì chắc chắn thầy phải giỏi rồi! Ông bảo:

– Tôi cũng có nghe nói. Thầy cố giúp tôi, xong việc tôi không thể để thầy thiệt thòi!

Câu này, chủ tịch Nhất đã từng nói với Hoàng Nga, bây giờ lặp lại trực tiếp với thầy Lâm Quan khiến thầy mừng lắm, nhưng thầy tỏ thái độ thản nhiên làm như mình không quan tâm đến tiền. Thầy uống cạn tách trả rồi bảo:

– Ông chủ tịch sắp dọn sang nhà mới, nên tôi chả cần nói. Chứ nếu ở lại căn hộ này thì nên chặt bỏ cây liễu trước cửa. Cây liễu thường rủ xuống, là hình ảnh buồn thảm, về lâu về dài sẽ không có lợi về sức khỏe, về bản mệnh và gia đạo. Nguyễn Bính có mấy câu thơ chắc ông chủ tịch đã biết:

“Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh

Tơ liễu theo nhau nhảy xuống hồ

Tôi thấy quanh tôi và tất cả

Châu thành Hà nội chít khăn sô”!

Xin ông chủ tịch nhớ hộ tôi là liễu chỉ nên giồng quanh bờ hồ hoặc cuối vườn, không giồng trước cửa nhà!

Chủ tịch Nhất gật đầu:

–  Vậy mà chả ai nói với tôi về việc này!

Hai người sánh bước ra cửa. chủ tịch Nhất thấy Hoàng Nga nói đúng: Thầy Lâm Quan là người trí thức, thông hiểu nhiều vấn đề, lại giỏi cả thơ văn. Ông hài lòng bảo:

– Tôi giao hết công việc cho thầy chỉ đạo! Sân trước sân sau, giồng cây gì là việc của thầy! Nhưng mà bây giờ mình đi ra ngoài ấy đã, để thầy xem thế đất rồi mới lên kế hoạch cụ thể được!

Thầy Lâm Quan mừng lắm. Được một thân chủ quan trọng đứng đầu một tỉnh trù phú đặt niềm tin và giao trọn trách nhiệm cho mình, thầy thấy vai trò của mình được nâng cấp lên tới tột đỉnh. Đến nơi, thầy bước xuống xe, đứng nhìn dòng sông và quan sát địa thế rồi bảo chủ tịch Nhất:

– Thế đất này đẹp lắm! Chẳng riêng gì sự nghiệp ông chủ tịch mà thế hệ thứ hai thứ ba, tức là con cháu ông chủ tịch, cũng sẽ phát lớn về văn chứ không phải là võ!

Chủ tịch Nhất không bận tâm lắm về con cháu. Ông khá là được rồi. Tốt số không bằng bố giàu. Ông khá thì con ông sẽ nương nhờ vào ông, lo gì tương lai!

Thế là chỉ vài ngày sau, công nhân các ngành lập tức tụ tập trên mảnh đất mới của chủ tịch Nhất, tổng số có đến cả trăm người vì gia chủ muốn hoàn thành càng nhanh càng tốt. Xây nhà thì có công trình sư chỉ huy công trường. Còn bốn phía quanh nhà thì thầy Lâm Quan toàn quyền thiết kế. Nhà xây cứ xây, cùng lúc với việc đào hồ sen, dựng non bộ và xẻ kinh bắc cầu ở sân trước. Công tác cho chủ tịch Tỉnh thì đứa nào dám lơ là, thành ra chỉ ba tháng sau là hoàn tất cả trong lẫn ngoài. Chủ tịch Nhất trả tiền thầy Lâm Quan rất rộng rãi. Trước khi chia tay, thầy cẩn thận dặn:

– Cửa chính chỉ để cho đẹp, cho đúng hướng thôi. Ông chủ tịch nên ra vào bằng cửa hậu, cứ xem như nhà ông chủ tịch quay mặt ra dòng sông, như thế có lợi hơn!

Điều này thì hoàn toàn đúng ý chủ tịch Nhất vì ông vẫn cố tưởng tượng nhà ông giống nhà ông Huyện Sĩ thuở xưa, nhìn ra dòng sông mới phát tài được!

Thời gian trôi nhanh, mới đó mà Chủ tịch Nhất dọn vào ngôi biệt thự đã được gần 4 tháng. Mấy ngày đầu, bà Nhất cứ cười cười hãnh diện bảo chị bếp:

– Nhà to quá, đi mỏi cả chân!

Chị bếp ở với bà đã 5 năm nên cũng như người trong nhà, thành thật đáp:

– Mỏi chân thì cũng chả đến nỗi mỏi chân! Nhưng nhà to quá mà chỉ có ông với bà…

Bà Nhất vui ngắt lời:

– Có chị nữa chứ! Rồi còn bảo vệ, còn lái xe, ít nhất cũng 5 người chứ ít gì!

Chị bếp buồn rầu thêm:

– Bà ơi! Bên nhà cũ thì con chả để ý. Nhưng dọn sang đây, nhà đã to mà nhất là cái sân nhớn quá, tự dưng con thấy vắng vẻ quá. Nhất là cô Phụng đi xa rồi!

Bà Nhất nén tiếng thở dài. Chị bếp lại thêm:

– Cô con có gọi điện về thì bà nhớ cho con gửi nhời thăm. Bà bảo với cô là con nhớ cô lắm!

Bà Nhất gật đầu:

– Ừ! Nó mới gọi điện về tối hôm qua! Lúc này bên ấy giời rét lắm, không như bên mình!

Cũng may bà Nhất dọn về đây, suốt ngày bận bịu với ngôi đền thờ Mẫu tại gia nên chẳng những không thấy vắng vẻ mà còn thấy vui hẳn lên vì cuộc sống có ý nghĩa. Chỉ có điều lâu lâu trong đêm vắng, bà thường giật mình thức giấc vì nhớ hai đứa con đều đi xa!

Riêng chủ tịch Nhất thì vì quí căn nhà mới, nên thường xuyên về ăn trưa, đi dạo một vòng quanh nhà rồi nghỉ một giấc cho khỏe rồi quay lại văn phòng Ủy Ban. Chị bếp lại thêm:

– Cậu Hàm đi xa chắc cũng nhớ nhà lắm, phải không bà?

Hàm là con trai đầu lòng của ông bà Nhất, hiện đang ở bên Đức. Bà Nhất đang cắm mấy cây nhang vào cái bát sành đựng cát trên bàn thờ Mẫu, vội quay lại bảo:

– Thì đã đành rồi! Nhưng chị đừng nhắc đến nó trước mặt ông nhà tôi. Ông nhà tôi vẫn còn giận nó lắm!

Chị bếp bình phẩm:

– Cậu ấy dại quá! Con nghe bảo cậu ấy nghe người ta xúi, rồi nhân cái lúc uống rượu say nên làm càn!

Bà Nhất thở dài:

– Thôi thì thà nó đi xa còn hơn ở nhà mà đi tù!

Chị bếp vừa lau mấy cái chân nến bằng đồng, vừa kể:

– Ông thì ông bảo con là không nhờ phong thủy thì cậu Hàm không thể nào mà tránh khỏi án tù! Ít lắm cũng 2 năm!

Bà Nhất cười buồn nói:

– Do khéo chạy chứ phong thủy cái gì! Thiếu gì người bị án tử hình mà còn chạy được. Cái ông gì giám đốc thuế vụ, rõ ràng báo với đài đều tường thuật là đã bị xử tù, thế mà bây giờ có người bắt gặp đang sống ở bên Nga!

Chị người làm hăm hở bảo:

– Bà nói khéo với ông, cho cậu Hàm về thăm nhà, độ một hai tuần rồi lại đi. Bắt cậu xa ông bà đã hai năm nay, chắc cậu buồn lắm!

Bà Nhất chớp mắt im lặng không đáp bởi bà biết chồng mình rất cương quyết trong vụ này. Chẳng phải ông cần trừng phạt con về tội lỗi nó đã gây nên, mà ông cần củng cố địa vị của mình, không muốn tạo cơ hội cho người dân và nhất là các nhà báo khơi chuyện cũ. Dĩ nhiên bà vẫn ray rứt nhớ hai đứa con ở phương xa nhưng bà ít nói ra, tránh nhắc đến, nhất là thằng con trai mà chồng bà vẫn còn đang căm giận. Mỗi lần thắp hương bàn thờ Mẫu, bà đều chắp tay thành khẩn cầu xin cho hai con được bình yên và sớm có ngày đoàn tụ. Dọn về căn nhà mới thênh thang này, bà lại càng da diết nghỉ đến các con, nhưng bà cố che giấu nỗi nhớ nhung sâu kín. Chị người làm không hiểu thấu tâm trạng bà nên cứ giục bà xin cho các con về. Đêm đêm nằm thao thức, bà cứ nghĩ: Giả như hai đứa con đều có mặt ở nhà, thì việc ăn mừng tân gia vui biết bao nhiêu!

Ông bà Nhất chỉ có hai đứa con một trai một gái. Thật là một gia đình lý tưởng theo đúng yêu cầu kế hoạch của Nhà Nước. Cô út Phụng tuy học hành không xuất sắc, nhưng tình tình giống mẹ, hiền lành và bình dị, suốt ngày quấn quít bên mẹ, lớn lên trong cái khung cảnh khói hương của đền thờ Mẫu. Bà Nhất chẳng bao giờ muốn xa con gái, nhưng chủ tịch Nhất dứt khoát cho cô du học bên Canada. Ngày đi cô khóc sướt mướt, nhưng bây giờ, tuy bố làm lớn ở quê nhà mà cô không muốn về nữa vì cô đã có người yêu học cùng lớp.

Cậu Hàm, con đầu lòng, thì trái lại, có cái đặc tính chung của đa số đám con các quan chức, vừa có tiền và nhất là có thế lực, nên ít đứa nào lo học hành mà chủ yếu chỉ là phá làng phá xóm và phá của cha mẹ! Các cô chân dài có câu: Cặp với đại gia không bằng cặp với con đại gia. Bởi vì con đại gia mới là những đứa phá của!

Ngay từ lúc chủ tịch Nhất còn nắm Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng, Hàm đã ỷ thế bố, tác oai tác quái khắp thị xã mà chả ai dám làm gì bởi lúc nào Hàm cũng có hai gã bảo vệ đi kèm. Hai gã bảo vệ ấy thực ra là công an thường phục được bố trí công tác rất nhàn rỗi là cả ngày đi theo Hàm để ăn chơi. Cô gái nào trong thị xã không may bị Hàm để ý, lập tức đám thanh niên phải né hết, vì không muốn trở thành mục tiêu tấn công của Hàm, Hàm trở thành một vĩ nhân tỉnh lẻ, hống hách và ngược ngạo, lộng hành như bọn kiêu binh thời chúa Trịnh

Đến khi ông Nhất lên Chủ tịch Tỉnh thì Hàm lại càng công khai phách lối hơn vì coi như thời cơ của mình đã đến. Hàm ép một thanh niên ở thị xã, trước đây là bạn học của Hàm, phải nhường người yêu cho Hàm. Tất nhiên chẳng những chàng thanh niên đó không bằng lòng mà chính cô gái xinh đẹp ấy cũng nhất quyết cự tuyệt. Hàm sai bảo vệ, tức, hai gã công an mặc thường phục, lôi anh thanh niên vô tội kia về đồn, đánh cho một trân nhừ tử! Rồi vẫn hai gã công an ấy, bắt cô gái về cho Hàm hãm hiếp.

Chuyện đáng lẽ đã có thể chìm xuồng vì người dân thấp cổ bé miệng vốn đã quen chịu đựng nạn cường hào ác bá trong cái xã hội đầy nhiễu nhương này, nhưng cô gái uất quá tự tử chết! Chàng thanh niên khốn khổ trốn xuống Hà nội và nhờ báo chí nhất loạt lên tiếng tố cáo Hàm. Dĩ nhiên nhờ báo chí rồi thì anh ta đâu còn dám quay về tỉnh này nữa!

Buổi sáng hôm ấy, chị người làm giật mình thảng thốt, cầm tờ báo chạy vào bếp đưa cho bà Nhất và kêu lên:

– Bà ơi! Sao lại thế này? Có thật không hở bà?

Bà Nhất chưa hiểu gì, giằng tờ nhật báo, đọc nhanh bản tin ngay trên trang nhất với hình ảnh đầy máu của chàng thanh niên bị gãy xương sườn và hai cái răng cửa do con trai bà gây nên, chính bà cũng thấy nao nao xúc động. Bà lảo đảo bước ra sân sau ngồi khóc sướt mướt. Bà gọi điện ngay cho chồng đang ở văn phòng Ủy Ban, mếu máo nói:

– Ông về ngay! Có việc khẩn trương. Về gấp, ông ơi!

Chủ tịch Nhất ngắt lời:

– Tôi biết rồi! Để tôi liệu! Bà gọi thằng Hàm về, bảo nó ở nhà chờ tôi! Cấm nó ra khỏi nhà!

Buổi chiều, chủ tịch Nhất ở Ủy Ban về sớm hơn thường lệ. Hàm đang ngồi ở bàn ăn với mẹ, ông xông vào, không nói lời nào, giơ thẳng tay tát cho Hàm một cái cực mạnh làm thằng con suýt ngã văng xuống sàn. Ông uất ức gào lên:

– Tao mới nhận chức chủ tịch tỉnh mày đã bôi gio trát trấu vào mặt tao! Đồ mất dạy! Mẹ mày ăn chay thắp hương cầu Mẫu hằng ngày, con mày thì đánh người ta gần chết để cướp người yêu của người ta rồi hãm hiếp! Tao không ngờ tao đẻ ra đứa con khốn nạn như mày! Bây giờ báo chí nó làm ầm ĩ lên, cả nước đều biết, tao có nước độn thổ chứ làm sao lãnh đạo cả một tỉnh!

Bà Nhất ngước mắt nhìn chồng khẩn khoản:

– Báo chí cứ đòi làm cho ra nhẽ, đòi đưa con mình ra tòa. Ông tính thế nào?

Ông không trả lời vợ, tiếp tục đay nghiến đứa con:

– Mày là một thằng hèn! Mày không biết nhục! Trai trẻ mới 25 tuổi, không tán nổi một đứa con gái hay sao mà phải đi cướp người yêu của đứa khác! Không biết xấu hổ à!

Hàm biết cơn giận của bố đang lên đến cực điểm nên cúi đầu ngồi yên. Ông quay sang não nề bảo vợ:

– Thiếu tướng Sâm, giám đốc công an tỉnh, vừa gọi điện cho tôi. Nói là có lệnh bắt khẩn cấp thằng con mình để điều tra. Ông ấy bảo tôi là cả hai đứa nạn nhân đều là con cựu chiến binh. Mà cựu chiến binh thì mình không nên động vào. Cái ấy do chính tôi chỉ thị. Ông Sâm bảo nếu không giải quyết thì sợ câu lạc bộ Cựu Chiến Binh lợi dụng tình thế nhảy vào làm lớn chuyện! Nhưng tôi nói khéo với ông Sâm, bảo ông ấy hẵng khoan bắt thằng Hàm!…

Ngừng lại một chút, ông cay đắng tiếp:

– Bà phải nhớ là chẳng riêng gì quần chúng bức xúc, mà ngay trong Đảng ủy cũng có bao nhiêu người đang nhòm ngó cái ghế chủ tịch của tôi. Thằng này nó tạo cơ hội cho người ta phê bình tôi. Không khéo tôi có thể bị ngưng chức vì nó! Bà hiểu chưa!

Đến giờ này Hàm mới biết sợ. Gã ngước nhìn mẹ cầu khẩn. Bà khổ sở đáp lời chồng:

– Tôi biết rồi, nhưng bây giờ ông tính làm sao? Chả nhẽ cho con vào tù! Ông với tôi chỉ có mình nó!

Chủ tịch Nhất thở hắt ra rồi chậm rãi nói:

– Thằng Hàm từ hôm nay không được ra khỏi nhà. Tôi đã trao đổi với ông Sâm, bảo ông ấy khoan thi hành lệnh bắt nó. Ông ấy bảo tôi phải giấu nó không cho ra đường! Đừng để đám nhà báo nhìn thấy, chúng nó sẽ làm toáng lên…

Bà vợ ngắt lời:

– Nhưng nó cứ ngồi trong nhà mãi hay sao?

– Ngồi trong nhà còn hơn là ngồi trong tù! Ngồi nhà để chờ tôi thu xếp, bà hiểu chưa?

Rồi ông lại thở dài và bảo:

– Tôi sẽ nói chuyện với ông Sâm, bảo ông ấy đổ hết tội cho hai thằng bảo vệ. Không đưa chúng nó ra tòa nhưng ông Sâm sẽ bố trí công tác cho hai thằng ấy đi chỗ khác. Xuống Huyện chẳng hạn. Rồi tôi sẽ khẩn trương tìm cách đưa thằng Hàm ra nước ngoài. Đi Đức, Tiệp là dễ nhất! Ở bên ấy vài năm chờ tình hình nguôi đi rồi mới về!

Hàm đưa mắt nhìn mẹ rồi khẩn khoản nói:

– Con không muốn xuất cảnh…

Chủ tịch Nhất dí đầu thằng con xuống bàn và quát lên:

– Câm mồm! Tiên sư bố mày. Đi nước ngoài hoặc đi tù, mày muốn đằng nào?

Bà Nhất cũng không muốn xa con, nhưng bà đành ngồi yên và tự an ủi: Chồng bà thu xếp để con trai bà khỏi vào tù là quí lắm rồi. Chủ tịch Nhất lại buồn rầu thêm:

– Ông Thành, Bí thư Tỉnh Ủy, cũng vừa gọi cho tôi. Ông ấy bảo: “Con dại cái mang. Tội qui vu trưởng! Thu xếp đi! Đừng để to chuyện”! Ông ấy nói thế là nhẹ đấy! Nay mai Tỉnh Ủy thể nào cũng phê bình tôi ra trò! Tôi sợ nhất là cánh cựu chiến binh nhảy vào, là bởi vì cả hai đứa bị thằng Hàm làm nhục đều là con cựu chiến binh. Riêng con bé tự tử chết thì ông Sâm bảo tôi, nhà nó có đến 3 người là liệt sĩ!

Đêm hôm ấy, bà Nhất ba bốn lần dậy thắp hương bàn thờ Mẫu, cầu xin cho con trai được bình yên. Tình mẫu tử tự nhiên khiến bà chỉ nghĩ đến con mình mà không hề bận tâm đến con người khác! Mãi đến sáng hôm sau, chị bếp đi chợ về, vội vàng đặt giỏ thức ăn rồi hốt hoảng bảo bà:

– Không xong rồi bà ơi! Cả chợ hôm nay chỉ xúm nhau bàn tán về chuyện cậu Hàm. Hễ con đi qua chỗ nào là chỗ ấy họ cố ý nói thật to để con nghe thấy rồi về kể lại với bà!

Bà Nhất sau một đêm thức trắng, nét mặt lo âu hỏi:

– Họ nói cái gì?

Chị người làm tường thuật tỉ mỉ:

– Họ bảo, mẹ thì lập đền thờ ngay trong nhà mà để con hãm hiếp rồi giết người!

Bà Nhất đau nhói trong lòng nhưng vẫn nhăn mặt cãi:

– Sao lại bảo thằng Hàm giết người? Nó giết ai!

Chị người làm phân trần:

– Con chỉ lặp lại lời người ta nói thôi. Họ bảo cậu Hàm tuy không trực tiếp gây nên cái chết của cái Trang, nhưng vì cậu ấy làm nhục nó nên nó phải tự tử… Bà Mùi bán bánh cuốn nói oang oang lên rằng oan hồn con bé ấy sẽ theo đuổi cậu Hàm suốt đời, không ngóc đầu lên được đâu!

Bà Nhất vốn tin những chuyện huyền hoặc ở cõi bên kia nên vô cùng lo sợ. Chị người làm lại thêm:

– Họ định sẽ đưa đám ma cái Trang đi qua trước cửa nhà mình, mà đám ma sẽ đông lắm vì con nghe bảo họ sẽ huy động tất cả cựu chiến binh đi hết! Bà nên báo cho ông biết trước để ông bố trí bảo vệ!

Bà Nhất nước mắt lưng tròng, vội vã gọi điện cho chồng và kể lại hết những điều chị người làm vừa tường thuật. Rồi bà kết luận xuôi theo ý chị người làm:

– Ông ơi! Con mình, mình thương. Con người ta, tất nhiên người ta cũng thương như mình thương con mình. Con bé nó mới hăm mấy mà tự tử chết, mẹ nào chả đứt ruột! Hay là ông để tôi chạy lại gặp người ta, đưa cho người ta ít tiền ma chay, gọi là xoa dịu phần nào nỗi khổ của gia đình người ta!

Chị người làm đứng bên cạnh, nghe bà Nhất nói, gật đầu lia lịa. Chị biết bà Nhất vốn là người từ tâm. Nhưng ông Nhất bực bội lắm! Đưa tiền tức là gián tiếp nhận trách nhiệm về cái chết đó hay sao? Con bé nó tự tử chứ đâu phải con ông giết? Nhưng ông mới lên nắm chủ tịch tỉnh có mấy tháng, nếu những thành phần xấu lợi dụng tình thế, biến đám tang thành cuộc biểu tình tuần hành đi qua nhà ông thì Tỉnh Ủy sẽ xử trí thế nào. Thời buổi này cứ nhắc đến mấy chữ “tập trung biểu tình” là ông ngại rồi! Bất đắc dĩ ông đành phải não nề bảo:

– Bà đến gặp người ta cũng được. Nhưng kín đáo một tí. Để tôi bảo thằng Hữu nó đưa bà đi!

Ông không thấy việc làm của vợ là đúng, nhưng ông cần xoa dịu tình thế để bảo vệ cái ghế chủ tịch của ông. Cho nên ông thêm:

– Nếu bà định đi gặp người ta thì đi ngay đi. Bà hạ mình nói khéo với họ cho chuyện nó êm đi!

Bà Nhất hỏi:

– Ông định đưa cho họ bao nhiêu?

Ông Nhất gắt nhẹ:

– Tùy bà. Mười triệu, hai mươi triệu. Miễn bà đến gặp là họ hả dạ rồi!

Một mặt chủ tịch Nhất khẩn trương lên kế hoạch đưa Hàm ra nước ngoài để khỏi ra tòa. Giờ này, Hàm ở Đức đã gần 2 năm, dứt khoát chủ tịch Nhất chưa cho về!

Trong thâm sâu, chủ tịch Nhất vẫn tin rằng nhờ Cậu Bồng thiết kế ngoại vi cũng như nội thất đúng hướng phong thủy cho nên con ông phạm tội tày trời mà vẫn thoát hiểm một cách dễ dàng. Giờ này về nhà mới, ông lại được thầy Lâm Quan, cao kiến hơn cả Cậu Bồng, tự tay chăm sóc, chắc chắn sự nghiệp của ông sẽ bền vững lâu dài. Ngày ngày ông hân hoan dạo quanh nhà, dừng lại ngắm hòn non bộ và càng cảm phục óc sáng tạo tuyệt vời của thầy Lâm Quan.

Một buổi trưa, có người đàn ông tuổi khoảng 40, ăn mặc tươm tất, áo sơ mi trắng bỏ trong quần Tây màu xanh nước biển, đi bộ trên con đường Hàm Nghi. Mặt trời đang đứng bóng, tỏa sức nóng mùa hè hừng hực xuống cảnh vật. Lúc ấy chủ tịch Nhất cũng vừa từ Ủy Ban về ăn trưa, chiếc ô tô màu bạc đậu lẻ loi bên hông nhà gần phía sân sau.

Khi tới gần cổng chính mặt tiền nhà chủ tịch Nhất, chỗ gã công an trẻ mặc sắc phục đeo súng đứng gác, người đàn ông lạ mặt dừng lại, rút trong túi áo một phong thư, chìa ra trước mặt gã công an và nói:

– Anh cho tôi gửi lá thư này cho ông chủ tịch Tỉnh!

Gã công an trố mắt nhìn người lạ, lùi lại một chút rồi nói:

– Đây là nhà riêng của đồng chí chủ tịch. Ông muốn xin xỏ hay khiếu nại điều gì thì ra văn phòng Ủy Ban.

Người đàn ông thoải mái nói:

– Không! Tôi không khiếu nại gì cả. Tôi chỉ gửi ông chủ tịch lá thư thôi!

Gã công an gỡ cây súng trên vai xuống, lăm lăm cầm trong tay và gắt nhẹ:

– Ông là gì của ông chủ tịch mới được chứ! Gửi thư sao không dán tem, bỏ thùng thư?

Người đàn ông nhẫn nại đáp:

– Tôi chả là gì của ông chủ tịch cả! Tôi chỉ là một người dân thường nhưng tôi cần gửi ông chủ tịch lá thư này!

Mẩu đối thoại chỉ mới được một hai phút, thì từ quán cà phê phía bên kia đường, hai gã bảo vệ đã lao nhanh sang hầm hầm nhìn người đàn ông lạ mặt và hỏi:

– Chuyện gì thế?

Gã công an sắc phục vội đáp:

– Ông này muốn gửi lá thư cho chủ tịch Nhất.

Một gã bảo vệ nhìn tác giả bức thư, gằn giọng:

– Đây không phải là văn phòng ủy ban. Không thư từ gì ở đây cả. Đi ngay không thì còng tay bây giờ.

Vừa lúc đó, anh lái xe ngồi trên thềm nhà chờ chủ tịch Nhất ăn trưa, thấy cảnh lạ, cũng hiếu kỳ chạy ra. Đó là Hữu, còn rất trẻ nhưng tướng tá khỏe mạnh, vừa là tài xế vừa là bảo vệ của chủ tịch Nhất. Hữu đứng sau hàng rào sắt và hỏi:

– Có việc gì mà ồn thế?
Gã công an sắc phục lặp lại:

– Có cái ông này muốn gửi lá thư cho chủ tịch Nhất. Tôi bảo ông ấy ra nộp ở ủy ban, nhưng ông ấy cứ nhùng nhằng không chịu đi!

Chuyện này chưa xẩy ra bao giờ nên Hữu rất ngạc nhiên. Anh tò mò hỏi:

– Thư gì mới được chứ!

– Thư riêng. Anh làm ơn đem vào cho ông chủ tịch. Cần lắm! Tôi nói thật! Tôi chịu trách nhiệm!

Hai gã bảo vệ cùng với gã công an đều im lặng đứng nhìn để nhường lời cho Hữu. Bởi vì Hữu tuy chỉ là lái xe, nghĩa là chức vụ rất nhỏ, nhưng ngày ngày gần gũi xếp lớn, dù sao cũng hiểu rõ xếp hơn. Huống chi Hữu là em bà con của bà chủ tịch, nên ngoài công tác còn có tình họ hàng của chủ tịch Nhất, những giao dịch tiền bạc đút lót thường phải qua trung gian Hữu rồi mới đến bà chủ tịch.

Hữu đỡ cái phong thư từ tay người đàn ông lạ, nhìn thoáng rồi ngẩng lên hỏi:

– Ông tên gì?

Người đàn ông tự tin đáp nhanh:

– Tôi tên Phong, Trần Quốc Phong. Tôi có ghi tên, địa chỉ, số điện thoại đầy đủ ngoài phong bì. Nhờ anh đưa vào giúp!

Hữu nhìn người đàn ông tên Phong, thấy ông ta có vẻ hiền lành và thành thật nên sau mấy giây ngần ngừ, Hữu bảo:

– Ông đứng đây chờ tôi… Các đồng chí giữ ông ấy lại đây, đừng cho đi đâu. Nhỡ thủ trưởng cần gọi…

– Tôi sẽ chờ ở đây. Nhờ anh cứ đưa vào đi! Tôi cảm ơn!

Hữu cầm phong thư quay vào, đi những bước thật nhanh lên thềm nhà. Hai gã bảo vệ đứng xớ rớ một chút rồi cũng băng ngang đường trở lại quán nước tiếp tục uống cà phê. Còn lại mình Phong đứng với gã công an gác cửa. Gã cũng thuộc loại hiền lành, không hống hách nạt nộ người lạ dù gã là bà con xa bên vợ chủ tịch Nhất. Gã hỏi Phong:

– Ông ở gần đây hay ở xa! Sao không gửi thư qua bưu điện mà lại đem lại tận đây?

Phong cười giải thích:

– Tôi sợ ông chủ tịch nhiều giấy tờ quá, không có thì giờ đọc, nên tôi đánh liều đem thư lại đây!

Điều này thì Phong nói thật. Mà quả đúng như thế! Lúc Hữu đưa thư vào thì chủ tịch Nhất đã ăn trưa xong, đang nằm thoải mái hút thuốc trên ghế bố sau nhà, cái vị trí mà ông yêu thích nhất trên hàng hiên cao có mái che rợp nắng. Gió sông đưa lên từng đợt thoáng mát, chỉ trong khoảnh khắc là chủ tịch Nhất sẽ thiu thiu ngủ thiếp đi. Nhưng Hữu bước vào đúng lúc. Nghe tiếng động, chủ tịch Nhất ngẩng lên hỏi:

– Gì thế Hữu?

Vừa nói, ông vừa nhỏm người dụi mẩu thuốc hút dở vào cái gạt tàn thủy tinh đặt trên bàn nhỏ bên cạnh rồi nâng ly trà uống cạn. Đối với người ngoài thì chủ tịch Nhất thường cứng rắn và hay nổi nóng gắt gỏng. Nhưng với kẻ ăn người ở trong nhà thì ông lại dịu dàng. Ông luôn luôn nhớ lời dặn:

– Những đứa gần mình, chính là những đứa có thể hại mình dễ dàng, bởi chuyện gì trong nhà mình chúng nó cũng biết. Cứ nom cái gương ông Sán thì biết. Ai đời ông ấy cho thằng Hiếu ở trong nhà, cơm ăn áo mặc chả thiếu gì. Thế mà nó nỡ thông đồng với đám nhà báo, khui hết mọi chuyện tham ô của ông ấy! Đúng là nuôi ong tay áo! Ông Sán bây giờ ngồi tù đã hơn bốn năm. Nhà Nước tịch thu tài sản. Vợ con nheo nhóc đi bán từng rổ khoai. Thảm lắm!

Vì câu chuyện ông Sán, giám đốc thủy sản, bị người ta tố giác đến thân bại danh liệt, bà Nhất tuyển người rất kỹ. Từ bảo vệ, gác cổng, lái xe cho đến mấy người ở trong nhà, bà đều dùng người họ hàng vì bà cho rằng, dù sao tình máu mủ vẫn hơn người ngoài. Hữu là một trường hợp điển hình. Chủ tịch Nhất thích Hữu lắm, vì nhanh nhẹn mà lại kín đáo, ít khi la cà trà dư tửu hậu. Bà Nhất muốn dùng Hữu làm gián điệp vì Hữu là em họ của bà, nhưng Hữu ăn cây nào rào cây nấy, đưa chủ tịch Nhất đi ngủ với gái. Hữu sẵn sàng ngồi chờ hàng giờ ngoài xe mà không bao giờ xa gần nói bà Nhất biết. Trái lại, lâu lâu bị cật vấn Hữu luôn mạnh miệng bênh vực chủ tịch Nhất.

Nghe chủ tịch Nhất gọi, Hữu bước nhanh lại và nói:

– Có cái ông kia cứ nằng nặc đòi gửi lá thư này cho anh. Bảo vệ đuổi đi, lão cũng không đi. Lão bảo lá thư này cần lắm! Em cầm vào trình anh, nhưng em bắt thằng Cang giữ lão lại ngoài cổng.

Chủ tịch Nhất đưa tay đỡ lá thư, lật qua lật lại rồi hỏi:

– Nó là thành phần nào? Già hay trẻ!

Hữu ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh chủ tịch Nhất và lắc đầu đáp:

– Em cũng chả biết thành phần nào, nhưng nom mặt mũi thì thấy hiền lành! Chắc cũng độ 40 tuổi rồi!

Chủ tịch Nhất đoán ngay là thư khiếu nại hoặc kêu oan nên quay sang mắng Hữu.

– Thư từ vớ vẫn, mày cầm vào đây làm gì?

Hữu ngượng ngùng ú ớ nhắc lại:

– Em nom mặt lão thấy hiền lành mà lão lại bảo là cần lắm nên em mới nhận!

Chủ tịch Nhất lại hỏi:

– Nó vẫn còn ngoài cổng!

Hữu gật đầu nhắc lại:

– Vâng! Lão vẫn còn ngoài ấy đợi lệnh anh. Em bắt thằng Cang phải giữ lão lại vì đâu có biết lão viết gì trong thư!

Chủ tịch Nhất nghĩ nhanh đến những bài báo gần đây mà đám ký giả gọi là những khiếu tố của dân oan, làm ông bực mình toan quăng lá thư đi. Nhưng thấy tên tuổi và địa chỉ người gửi ghi rõ ràng ngoài phong bì, lại thêm tác giả vẫn còn đứng ngoài cổng, ông mới tạm an lòng bóc thư ra xem. Tuy trước khi đọc ông lại hỏi:

– Thế đã xét chứng minh thư của nó chưa!

Hữu ú ớ đáp:

– Chưa. Nhưng mà lão vẫn đứng đấy. Anh muốn thì em chạy ra bảo thằng Cang lấy giấy tờ của lão vào đây!

Chủ tịch Nhất không nói gì nữa. Hữu chờ một lúc rồi lủi ra xa mấy bước rón rén ngồi xuống cái ghế kê sát tường ở góc nhà, yên lặng chờ đợi phản ứng của xếp lớn. Chủ tịch Nhất ngả người trên ghế bố, đưa lá thư lên đọc:

“Kính gửi ông chủ tịch,

Tôi chỉ là một người dân thường, ngày nào cũng đi qua nhà ông chủ tịch. Nhiều lần muốn gửi ông lá thư này mà cứ ngần ngại mãi vì chẳng biết có đến tay ông chủ tịch hay không? Thành ra hôm nay tôi đánh liều mang đến tận nhà ông. Mong ông bỏ qua cho sự đường đột của tôi.

Bây giờ tôi xin vào thẳng vấn đề vì biết ông chủ tịch rất ít thời gian.

Tôi xem báo và truy cập thông tin trên mạng thì được biết ông chủ tịch sinh năm 1964, tuổi Giáp Thìn, mạng Phúc Đăng Hỏa…”

Chủ tịch Nhất nhíu mày khựng lại vì chả hiểu thằng điên này định nói chuyện gì mà lại đem ngày sinh tháng đẻ của ông ra! Tuy nhiên, thư mở đầu như thế làm ông tạm yên tâm. Ông tò mò cúi xuống đọc tiếp:

“Thưa ông chủ tịch,

Dù là Tử Vi, Tử Bình, Địa Lý hay Phong Thủy, thì cơ bản vẫn phải dựa trên ngũ hành: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Việc sinh khắc chế hóa của ngũ hành không thể xem thường được! Ngày xưa nhà Chu cai trị Trung Hoa đến 700 năm mà cuối cùng bị nhà Tần lật đổ. Vì sao? Bởi nhà Chu thuộc hành Hỏa. Nhà Tần biết dùng hành Thủy mà chế ngự rồi tiêu diệt hẳn nhà Chu, bởi chỉ có Nước mới dập tắt được Lửa! Chính vì vậy vua đầu nhà Tần, tức Tần chính vương, mới tự mãn xưng là Tần Thủy Hoàng. Chữ Thủy tuy có nghĩa là đầu tiên, nhưng cũng có nghĩa là nước.

Thưa ông chủ tịch,

Người xem phong thủy dù ở trình độ sơ đẳng nhất cũng phải biết Thủy –  Hỏa tương khắc, nghĩa là Nước dập tắt Lửa. Thế mà tư thất của ông chủ tịch hậu viên dựa vào dòng sông, tức là nước đã là đủ rồi, bên trái lại đào hồ sen, bên phải dựng các hòn non bộ với giếng phun nước suốt ngày đêm. Thậm chí đến tiền sảnh cũng khơi thêm dòng suối nhân tạo, bắc cầu đi qua. Như thế là cả bốn bề đều có Thủy vây quanh mạng Hỏa của ông chủ tịch! Không biết ai đã cố vấn cho ông chủ tịch, nhưng có lẽ người ấy lầm tưởng hễ cứ nói đến phong thủy là phải cần thật nhiều nước mà không xét đến yếu tố ngũ hành. Như trên tôi đã thưa với ông chủ tịch, Tần Thủy Hoàng dùng hành Thủy mà chế ngự hành Hỏa của nhà Chu. Nhưng Tần Thủy Hoàng lại sai lầm là dùng quá nhiều mầu đen, từ nhung phục triều đình, cờ lọng trong cung, cho đến quân phục binh lính, tất cả đều mầu đen là biểu tượng của hành Thủy. Nghĩa là Tần Thủy Hoàng lạm dụng hành Thủy quá đáng. Lẽ ra phải dùng mầu vàng hay mầu trắng là hành Kim vì Kim sinh Thủy thì mới vững bền. Âu cũng là trời định cho nhà Tần mắc cái khuyết điểm ấy cho nên Tần Thủy Hoàng chỉ truyền được thêm một đời con là Nhị Thế rồi tàn lụi, lưu xú vạn niên!

Nay quan sát tư thất của ông chủ tịch, tôi thấy tứ bề đều có Nước vây quanh, tôi lấy làm lo ngại cho mạng Hỏa của ông chủ tịch, theo cái nhìn chuyên môn của người biết đôi chút về phong thủy!…”

Đọc đến đây, chủ tịch Nhất đang nằm trên ghế bố, bỗng sửng sốt ngồi thẳng lên, buông bức thư xuống bàn, lấy cái gạt tàn đè lên vì gió sông đang thổi vào khá mạnh. Ông ưu tư nhớn nhác nhìn ra dòng sông trước mặt rồi bực bội nghĩ nhanh đến thầy Lâm Quan mà ông đã trả công đến 10 nghìn USD và bao nhiêu quà cáp bồi dưỡng. Rồi ông còn đổ ra hàng đống tiền cho thầy trang trí chung quanh nhà, chấp nhận cho thầy ăn xén, ăn bớt trong mấy xe vật liệu thầy mua về, chấp nhận cho thầy thông đồng chia chác với nhà thầu xây cất. Ông tự hỏi: Lẽ nào một thầy phong thủy có tiếng như Lâm Quan, từng chỉ dẫn cho các đồng chí ở Bộ Chính Trị, mà lại sơ sót đến độ không nhìn ra là Thủy khắc Hỏa! Bởi nếu nhìn ra, thầy đã không xúi ông đào hồ sen, đặt giếng phun nước và khơi thêm dòng suối trước sân nhà! Ông nóng nảy toan gọi điện thoại cho thầy để cật vấn, nhưng ông cố dằn lại và đọc cho xong lá thư.

Ông vói tay lên bàn, lấy điếu thuốc cắm lên môi, run run bật lửa rồi cầm lá thư lên đọc tiếp:

“Thưa ông chủ tịch,

Tuổi Giáp Thìn vốn thuộc vận số “Phục đàm chi long”, tức là rồng ẩn mình trong đầm nước. Nay lại thêm tứ bề đầy nước bao vây thì biết bao giờ rồng mới vươn mình thoát khỏi ao tù! Huống chi sách vẫn có câu “Đa thủy tắc kim trầm”, tức là nước nhiều quá thì vàng sẽ chìm mất! Mong ông chủ tịch để ý xem lại, đừng tự mình làm mất vượng khí của mình. Mệnh Phúc Đăng Hỏa, tức là “lửa đèn chụp”, cũng có nghĩa là lửa chiếu ban đêm mà sách Tàu gọi là “dạ minh chi hỏa”. Lửa ấy vốn đã yếu, nay gặp nhiều nước quá thì có thể bị dập tắt rất dễ dàng…”

Chủ tịch Nhất lại tạm ngưng, toát mồ hôi ngẩng lên thở dài và lại càng bực bội nghĩ tới thầy Lâm Quan.Vừa lúc ấy điện thoại di động reo vang. Ông cầm lên, nhìn thoáng cái I- phone, nhận ra cô thư ký ở văn phòng Ủy Ban. Cô là thư ký riêng và cũng là người tình bán thời gian của ông, tuổi mới ngoài 20, nhưng cứ quen miệng gọi ông là “anh” từ ngày đầu cô vào phỏng vấn. Lúc đầu, lý do chính mà ông tuyển cô là vì cô rất giỏi tiếng Anh, khi phải gặp gỡ những đối tác nước ngoài, ông cần có người thông dịch đáng tin cậy. Rồi các chuyến công tác ngắn ngày xuống các huyện hoặc về họp ở Trung Ương, ông đều dẫn cô đi theo, ở chung khách sạn. Chuyện chung đụng xác thịt diễn ra như một qui luật tự nhiên. Cái khác biệt ở xã hội Việt nam ngày nay là những cô gái đẹp mà người ta thường gọi là “chân dài” cặp kè công khai với các đại gia hay quan chức đã có vợ, là điều diễn ra bình thường mà chính các cô không hề che giấu. Các cô coi đó như là cái mốt thời thượng, một nguyên tắc sống theo châm ngôn: Trời cho tôi đẹp để kiếm tiền! Sự suy đồi của đạo đức không phải ở chỗ người ta phạm tội – vì ở đâu chả có người phạm tội – mà ở chỗ người ta phạm tội nhưng không còn biết áy náy, không còn biết mặc cảm hay ngượng ngùng nữa! Đó mới là điều đáng lo âu!

Bà Nhất cũng biết láng máng chồng mình có đào trẻ. Nhưng bà không bận tâm lắm vì bà là người đồng bóng nửa hư nửa thực, bà tin chồng bà có đi đâu rồi cũng quay về! Cái thái độ ấy thật ra là môt cách xử sự rất khôn ngoan, tuy phải chịu đựng nhưng còn giữ được chồng. Ngày nay trong nước, quan chức và đại gia nghiễm nhiên trở thành chồng chúa vợ tôi, nhiều ông ngang nhiên đem cả vợ bé hay người yêu về nhà ngay trước mặt vợ chính thức mà nhiều bà đắng cay không dám có phản ứng. Làm mạnh thì các ông sẵn sàng chia tay. Đôi khi chính những ông chồng nhẫn tâm ấy chỉ chờ vợ làm mạnh để có cớ bỏ đi, rong chơi vài hôm với người đẹp rồi lại thênh thang quay về! Dưới mắt bà Nhất, chồng bà như thế cũng có thể coi là loại đàng hoàng hiếm có rồi! Ông có ăn vụng thì cũng kín đáo, chưa đến nỗi làm bà mất mặt!

Hôm nay, đang lúc bận tâm về lá thư phong thủy thì cô thư ký gọi, chủ tịch Nhất buồn rầu hỏi:

– Có việc gì không, Dung?

Đầu dây bên kia, cô thư ký đáp:

– Anh ơi! Có ông Thịnh, tổng giám đốc tập đoàn TKB, bảo có hẹn với anh lúc 2 giờ!

Chủ tịch Nhất nhìn đồng hồ thấy đã quá giờ hẹn đến 20 phút nên vội nói:

– Em bảo lão cứ về đi, rồi anh sẽ gọi điện cho lão sau!

Dứt lời, ông cúp phone rồi lại cầm lá thư lên đọc tiếp:

“Xét theo ngũ hành thì Hỏa khắc Kim và nhất là khắc Thủy. Tốt nhất chỉ có hành Mộc là làm lợi cho hành Hỏa. Tư thất của ông chủ tịch được hai điểm tốt: Thứ nhất là làm nhà đúng hướng Nam. Tuổi Giáp Thìn, nam mạng là thuộc quẻ Ly, hướng chính Nam là vượng khí nhất. Thứ hai là sau lưng có dòng sông ít sóng lớn. Chắc ông chủ tịch cũng thừa biết: Thời Pháp thuộc, ông Huyện Sĩ cũng chỉ nhờ làm nhà trên bờ sông Bảo Định, gặp thế đất tốt mà trở thành giàu có cực kỳ. Tôi chắc ông chủ tịch chả mong giàu sang như thế, nhưng lộc trời đang ban cho mình thì mình cần gìn giữ để không phụ lòng trời.

Bàn làm việc của ông chủ tịch nếu nhìn về hướng Đông cũng là đắc địa, sách xưa gọi là hướng thần tài của người Giáp Thìn. Còn chung quanh nhà, cần giảm bớt nước, giảm ngay, càng nhiều càng tốt. Thay vào là trồng nhiều cây xanh bởi vì Mộc sinh Hỏa. Cả nội thất cũng thế: Hỏa khắc Kim cho nên bỏ bớt các đồ dùng kim loại. Giường tủ, bàn ăn, sa- lông tiếp khách, tất cả nên sắm toàn bằng gỗ là hành Mộc, phù trợ cho hành Hỏa của ông chủ tịch. Nói chung, mạng Hỏa của ông chủ tịch cần tránh xa Thủy mà bám lấy Mộc! Như thế mới lâu dài được…”

Ông Nhất buông lá thư, thừ người nhìn mông lung ra bãi cỏ chạy dài thoai thoải xuống mé sông. Toàn thân ông run lên vì giận. Rồi ông lại cầm cái phong bì lên, nhìn vào tên ghi trên góc phong thư và lẩm bẩm nói một mình:

– Trần Quốc Phong! Đây mới đích thực là thầy phong thủy nhiều kinh nghiệm sâu sắc!… Không ngờ cái lão Lâm Quan chỉ nỏ mồm, kiến thức còn thua xa người này!

Nhưng nếu kiến thức lão Lâm Quan kém như thế thì tại sao Hoàng Nga lại tôn làm thầy?

Ông bỏ lá thư trên bàn, lại lấy cái gạt tàn đè lên rồi ngả người ra và nhắm mắt lại để suy ngẫm thêm về những điều vừa nêu ra trong bức thư. Ông lẩm bẩm nói nhỏ như tự nhắc nhở mình:

– Mộc sinh Hỏa. Thủy khắc Hỏa! Chỉ có Mộc mới làm lợi cho người mạng Hỏa!

Ông giật thót mình chưa gì ông đã thấy quá đúng! Tỉnh của ông là một tỉnh trù phú, có cả lâm sản lẫn thủy sản. Bao nhiêu công ty khai thác gỗ mà ông cấp giấy phép, đã mang lại lợi nhuận lớn lao cho họ và dĩ nhiên cho ông. Như thế thì đúng là Mộc sinh Hỏa, hay nói cách khác, ông chỉ hợp với bất cứ thứ gì có liên quan đến hành Mộc.

Trong khi đó, ngành đánh cá càng lụn bại. Vừa dọn vào căn biệt thự này, ngay sau bữa tiệc tân gia linh đình, ông đã phải đối diện với một nỗi khổ tâm và hết sức bực mình: Đoàn tàu đánh cá của ngư dân trong tỉnh, kéo nhau ra khơi, chưa được bao xa đã bị mấy cái tàu Trung Quốc xông tới húc mạnh, đuổi vào bờ và thậm chí còn bắt cả chục ngư dân nhốt trên tàu của họ cả tuần lễ. Vì thể diện ông tức lắm. Tỉnh ủy càng giận điên lên và nhất là các chủ thuyền, các ngư phủ và thân nhân đồng loạt phản ứng. Hằng trăm người tụ tập trước Ty Thủy Sản, giương cao biểu ngữ “Đả đảo Trung Quốc”. Nhưng dù giận Trung Quốc đến đâu ông cũng phải ra lệnh cho công an giải tán biểu tình ngay lập tức. Thậm chí những đứa ngoan cố không chịu về, ông chỉ thị công an thẳng tay đàn áp và bắt nhốt. Mà chẳng phải riêng ở tỉnh ông, bất cứ chỗ nào trên nước Việt Nam, hễ cứ biểu tình phản đối Trung Quốc là chính quyền đều mạnh mẽ dẹp ngay!

Nhiều người dân và nhất là đám nhà báo cứ tưởng vì sợ Trung Quốc mà Nhà Nước Việt Nam triệt để cấm biểu tình, dù là biểu tình để chống thái độ gây hấn của Trung Quốc và để bày tỏ lòng yêu nước Việt Nam!

Thật ra thì không phải. Chính quyền Việt nam không sợ Trung Quốc bằng sợ cho chính họ! Kể từ khi Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan làm sụp đổ giây chuyền hệ thống Cộng Sản toàn cầu, rồi sau đó biết bao nhiêu chính quyền trên thế giới xập tiệm mà khởi đầu chỉ do một cuộc tập trung ôn hòa của quần chúng. Thời nay không phải là thời tuyên chiến bằng súng đạn. Thời buổi internet và cell phone cực kỳ lợi hại vì rất dễ liên lạc và vận động quần chúng tụ tập. Đảng Cộng Sản Việt Nam ý thức rất rõ điều này nên bất cứ cuộc tập họp nào, dù là biểu tình để ủng hộ chính quyền, cũng phải cấm triệt để bởi không ai có thể kiểm soát được đám đông. Các thế lực phản động vẫn đầy rẫy chung quanh, sẵn sàng trà trộn và lái cuộc biểu tình chống Trung Quốc thành mục tiêu chống Đảng và Nhà Nước Việt nam. Đặng Tiểu Bình là người sáng suốt nhất, quyết định đem cả xe tăng để dẹp biểu tình, mặc dầu ông biết chắc đám sinh viên ấy mới trước đó một thời gian ngắn, từng tập trung tại Thiên An Môn để chào đón ông khi ông được Đảng Cộng Sản Trung Quốc phục hồi danh dự và đưa ông lên nắm chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, tức là vai trò có thực quyền nhất của hệ thống lãnh đạo Trung Quốc.

Hôm nay đọc lá thư bất ngờ, chủ tịch Nhất mới bừng tỉnh và chợt nghĩ ra rằng, người khách lạ Trần Quốc Phong nào đó nói đúng: Căn nhà mới này nhiều nước quá, đang làm khổ ông, đang mang bao nhiêu bực bội đến cho ông bởi ông là mạng Hỏa, về lâu về dài sẽ bị Thủy dập tắt! Mới dọn vào đây có 4 tháng mà ông đã nhức đầu vì quá nhiều chuyện phiền toái! Cụ thể là ngư nghiệp không đem lợi cho ông, chỉ còn trông vào lâm sản mà thôi!

Ngư nghiệp của tỉnh bị khựng lại vì sự cản trở của tàu Trung Quốc, còn kéo theo những thiệt hại dây chuyền khác mà ông không ngờ. Hồi mới nhận chức chủ tịch Tỉnh, có người thân xúi ông mở hai hãng nước đá sát bờ biển, cung cấp nước đá cho các hàng quán trong thị xã và nhất là bán nước đá cho đoàn tàu đánh bắt xa bờ, cần phải có nước đá để ướp cá. Mọi tính toán lúc đầu đều đúng cả, khiến ông hứng khởi mua luôn một lúc mấy cái xe tải để phân phối cá từ bến cảng về các chợ và các tiệm ăn lớn trong thị xã. Mọi việc đều xuôi chảy, thu nhập rất cao vì khách hàng sợ uy ông chủ tịch, không ai dám từ chôi. Ông giải thích với vợ:

– Tôi làm là làm cho thằng Hàm với con Phụng, chứ tôi với bà ngày ăn hai bữa, có túng thiếu gì mà phải lao ra kinh doanh! Mai kia chúng nó về, tôi sẽ giao hết cho chúng nó!

Ngừng một chút ông cay đắng tiếp:

– Con Phụng còn biết làm biết ăn, chứ thằng Hàm thì du thủ du thực, mình không bố trí sẵn công việc cho nó thì mai kia nó về, lại phá làng phá xóm, chỉ làm khổ bà với tôi thôi!

Bà Nhất hiểu ra, cảm động về sự chu đáo của chồng, khẽ gật nói nhỏ:

– Ông tính thế là phải. Tôi cũng chỉ lo thằng Hàm thôi!

Ông Nhất hạ giọng nhỏ xuống và thêm:

– Với lại cái ý chính của tôi là tôi muốn chứng minh thu nhập của mình bằng kinh doanh, chứ không phải làm giàu bằng chức vụ chủ tịch Tỉnh! Bà hiểu chưa?

Chủ tịch Nhất quả thực khôn ngoan, nhưng người tính không bằng trời tính. Tàu đánh cá trong tỉnh ông bây giờ chỉ còn loanh quanh sát bờ, khiến cho nhà máy nước đá của ông cũng phải tự giảm năng xuất vì cung đã vượt cầu. Rồi mấy cái xe tải cũng chạy những chuyến hàng rất thưa thớt vì không còn nhiều hải sản như xưa!

Vì đâu mà xảy ra tình trạng này? Chỉ vì ông dọn vào căn nhà mới mà tứ bề đều bị Thủy bao quanh, đang dập tắt dần mạng Hỏa của ông! Ông tự hỏi: Đây chỉ là sự vô tình của lão Lâm Quan hay lão cố ý dùng hành Thủy để dập tắt mạng Hỏa của ông?

Ông đứng dậy, lủi thủi đi lại đầu nhà nhìn ra hồ nước mới thả sen chưa kịp nở hoa. Rồi ông lại vòng qua bên hông bên kia, ngắm khu trang trí toàn là nước mà ông vốn tâm đắc nhất vì quá đẹp và quá lạ! Rồi còn cây cầu Nhật Bản xinh xinh ở mặt tiền nữa! Chả nhẽ mới vừa thiết kế được có mấy tháng, bây giờ lại cho người ta phá hết để trồng toàn cây! Tiền thì ông không tiếc, nhưng làm thế thiên hạ sẽ chê ông phung phí và chắc chắn sẽ có đứa cười ông ngớ ngẩn!

Nghĩ đến dư luận của thiên hạ, ông sực nhớ lại lúc ông dọn vào căn biệt thự này mới được có ba tuần, đã có ngay một bài viết trên mạng, tố giác ông lấy đất của nhà máy Chiến Thắng để xây nhà cho mình, căn nhà mà bài báo gọi là “Ngôi biệt thự siêu khủng của chủ tịch tỉnh Vũ Duy Nhất”.

Bài viết có cái tựa đề hóm hỉnh là “Chủ tịch Vũ Duy Nhất đã chiến thắng nhà máy dệt Chiến Thắng”! Bài viết ấy lan đi thật nhanh khiến người ta ùn ùn kéo đến và lấm lét ngó vào nhà ông! Ông tức lắm. Nhà ông mà dám gọi là “siêu khủng”! Làm chủ tịch Tỉnh không lẽ không có một căn nhà lớn để biểu tượng cho uy quyền và sự giàu sang của đất nước hay sao! Trên thực tế, dinh thự của ông có thấm gì so với các quan chức khác!

Rồi lại thêm một vài blogger viết trên mạng, nhắc lại câu chuyện cũ của Hàm và đặt câu hỏi:

“Pháp luật ở đâu mà cậu công tử con ông chủ tịch tỉnh đánh người gây thương tích, bắt cóc con gái về hãm hiếp, làm cho người ta tự tử chết mà mọi chuyện đều êm xuôi, không xét xử. Giờ lại hạ cánh an toàn ở nước ngoài!”

Chủ tịch Nhất vốn căm thù báo chí bởi cho đó là tàn dư của chủ nghĩa tư bản vô chính phủ. Với ông, truyền thông ngành nào cũng chỉ nên có một chức năng là ca ngợi Đảng mà thôi! Những thằng nhà báo bướng bỉnh cần cho sang Bắc Hàn, sống vời Kim Jung Un để biết thế nào là chủ nghĩa xã hội! Suy nghĩ như vậy, chủ tịch Nhất liền cho công an văn hóa lùng cho bằng được và lôi thằng tác giả bài viết về đồn, đánh một trận gần chết! Ngày ông còn nắm Văn Hóa Thông Tin, ông cũng đã từng là hung thần của các nhà báo, từng đẩy họ vào tù hoặc sai đàn em chơi trò rất bẩn thỉu đối với các cây bút đòi dân chủ và tự do ở xứ này.

Bây giờ nghĩ lại, ông thấy tất cả những chuyện bực mình ấy, hóa ra chỉ vì căn nhà mới có quá nhiều nước, làm cho mạng Hỏa của ông mất dần vượng khí! Càng nghĩ, ông càng tức thầy Lâm Quan và giận lây luôn cả Hoàng Nga vì đã tiến cử lầm người! Ông lấy điện thoại gọi cho thầy, nhưng thầy chỉ để máy nhắn tin. Ông lại kêu cho Hoàng Nga. Đầu dây bên kia vừa có tiếng. A lô, ông sẵng giọng nói ngay:

– Cô Hoàng Nga hả? Cô đang ở đâu đấy? Tôi là Nhất đây!

Biết chủ tịch Nhất vốn có thiện cảm với mình, Hoàng Nga vồn vã reo lên:

– Ôi! Ông chủ tịch! Bất ngờ quá! Tôi đang ở Hải Phòng. Ông chủ tịch gọi, chắc là có tin vui!

Ông chủ tịch Nhất nóng nảy hỏi:

– Thầy Lâm Quan của cô đi đâu mà tôi gọi mãi không được! Nhắn tin cũng chả thèm giả nhời! Cô có liên hệ được với ông ấy thì bảo ông ấy gọi lại cho tôi.

Rồi ông bực mình, đột ngột cúp máy khiến Hoàng Nga rất ngạc nhiên về thái độ trịch thượng của ông!

Lúc ấy Hoàng Nga đang ngồi ăn phở, chờ một bà khách đến đón về nhà để gọi hồn. Thái độ lạnh nhạt đầy ác cảm của chủ tịch Nhất làm cô hết sức thất vọng vì chả hiểu tại sao ông lại thay đổi mau như thế! Cô biết chắc từ ngày cô đem đề tài phong thủy ra bàn luận, cô đã trở thành đồng minh gắn bó của chủ tịch Nhất, nhất là cô đã giới thiệu thầy Lâm Quan cho ông. Thế mà hôm nay gọi điện cho cô, ông chẳng còn một chút thân thiện nào nữa! Bát phở mới ăn được vài miếng, tự dưng cô mất hết hứng thú, đành bỏ dỡ dang. Rõ ràng chủ tịch Nhất đang giận thầy Lâm Quan. Gọi là thầy nhưng thật ra Lâm Quan là anh ruột của cô, hai anh em mỗi người một nghề không vốn, thông đồng làm ăn với nhau, người này tìm khách cho người kia.

Hoàng Nga nóng ruột kêu mấy lần, nhưng Lâm Quan đều không trả lời điện thoại. Cô chán nản thở dài và cứ phân vân tự hỏi: Tại sao chủ tịch Nhất lại mất cảm tình với cô! Thành ra cả cô và chủ tịch Nhất đều bực bội như nhau!

Thơ thẩn bên hòn non bộ một lúc, chủ tịch Nhất rón rén bước lại gần cái hồ chu vi chỉ bằng nửa chiếc chiếu, dưới chân ngọn núi giả. Bức tượng ông Lã Vọng cầm cần câu, bị đổ ngang ra, sắp rớt xuống hồ. Ông khom người dựng ông Lã Vọng lên. Vùa lúc ấy có tiếng điện thoại reo. Ông chùi vội bàn tay ướt vào ống quần rồi rút phone trong túi áo ra. Lại vẫn cô thư ký riêng. Ông dịu dàng hỏi:

– Gì thế Dung?

– Em chỉ nhắc anh, ngày mai có hẹn với bác sĩ Viễn.

Chủ tịch Nhất đáp gọn:

– Anh nhớ!

Rồi ông cúp máy. Nhét phone vào túi áo rồi, chủ tịch Nhất mới giật mình sửng sốt và tự hỏi: 50 năm qua ông không hề bị mọc bướu ở ruột già, thế mà tại sao vừa dọn vào căn nhà này, ông đi soi ruột và phải cắt bỏ đến 4 cục thịt dư!

Thật ra thì có thể đó chỉ là sự trùng hợp tình cờ. Bước vào tuổi 50, ông nghe lời khuyên của bác sĩ và nhất là sự hối thúc của bà vợ, bắt ông phải đi làm colonoscopy. Bác sĩ soi ruột và phát hiện ông có đến 4 cục polyps, phải cắt. Chuyện này rất bình thường ở tuổi 50 trở lên, nhất là nếu trong gia đình ruột thịt đã có người bị. Chủ tịch Nhất không có anh em nên chả biết nhà mình đã có ai bị chưa. Nhưng vì ông đi cầu ra máu nên bác sĩ bắt ông phải thử. Thủ tục làm colonoscopy không có gì nguy hiểm, nhưng ông rất khổ bởi phải nhịn nguyên một ngày và uống quá nhiều thuốc xổ!

Ngày mai ông trở lại để bác sĩ cắt nghĩa thêm. Ông tự hỏi: Phải chăng chỉ vì căn nhà mới này, quá nhiều nước bao phủ, nên ông mới đột ngột mắc bệnh ruột già, đúng như lời cảnh giác trong lá thư vừa nhận được. Ý nghĩ ấy làm ông lại càng hận thầy Lâm Quan!

Đứng dọn dẹp trong bếp nhìn qua cửa sổ, bà Nhất ngạc nhiên thấy ô tô của chồng vẫn còn đậu ngoài sân. Bà lau tay đi nhanh ra cửa sau và hỏi:

– Sao chưa đi làm! Ông định nghỉ luôn chiều nay à?

Nhưng chủ tịch không còn ngồi ở ghế bố. Ông đang buồn rầu đứng quan sát mảnh vườn phong thủy bên hông nhà, cả một công trình tuyệt mỹ mà nay mai lại sắp phải đập đi vì quá nhiều nước!

Thấy trên bàn có lá thư, bà Nhất tò mò cầm ngay lên và lẩm bẩm tự hỏi: Đứa nào viết thư cho chồng bà đây? Rồi bà ngồi xuống ghế, đọc một hơi từ đầu đến cuối. Bà lại cầm luôn cả cái phong bì, nhìn tên người viết trên góc. Vừa lúc ấy, chủ tịch Nhất từ khu vườn bên hông nhà trở lại. Bà giơ lá thư lên và hăm hở nói ngay:

– Tôi chả biết gì về phong thủy. Nhưng ông thầy này mới thật là giỏi! Phân tích có tình có lý. Đâu ra đấy!

Chủ tịch Nhất gật đầu, lững thững đi lại, ngồi xuống bên cạnh vợ. Ông chưa kịp nói gì thì bà lại chì chiết thêm:

– Tôi đã bảo mãi với ông là phải cẩn thận. Đừng có bạ đứa nào cũng rước về nhà rồi gọi nó là thầy! Ông đã thấy chưa? Cái lão Lâm Quan vừa rồi đến giúp ông mấy tháng trời, ông nuôi trong nhà ngày này sang ngày khác. Biết đâu lão chả là thành phần xấu, âm mưu dùng phong thủy để hại ông từ từ. Nó cũng như người dùng bùa ngải, tuy không giết ngay được người khác, nhưng ngấm ngầm làm cho người ta thân bại danh liệt! Rõ đúng là nuôi ong tay áo!’

Chủ tịch Nhất im lặng không cãi, vì rõ ràng là ông đã tin lầm người. Ông nhớ ngay hôm đầu đưa thầy Lâm Quan ra bờ sông, vừa bước xuống xe thầy đã bảo:

– Thế đất này tốt lắm. Chẳng những đời ông sẽ đại phát mà đời con ông cũng sẽ phát lớn về văn chứ không phải võ!

Bây giờ nghĩ lại, chủ tịch Nhất thấy rõ đó chỉ là câu nói nịnh bợ hoặc xỏ xiên của thầy, bởi thằng Hàm lêu lổng như thế thì làm thế nào mà phát về văn được!

Càng nghĩ ông càng bực. Ông quay sang vẫy tay ngoắc người tài xế từ nãy giờ vẫn kiên nhẫn ngồi hút thuốc ở đầu nhà:

– Hữu!

Hữu quăng vội điếu thuốc, chạy lại. Chủ tịch Nhất hỏi:

– Mày còn nhớ lão Lâm Quan không?

Hữu chưa biết thái độ đã đổi thay của chủ tịch Nhất nên thản nhiên đáp:

– Nhớ chứ anh! Thầy Lâm Quan giúp anh thiết kế chung quanh nhà…

Chủ tịch Nhất cắt ngang:

– Mày chạy sang công an thị xã, gặp trung tá Hoài, nói riêng với ông ấy, bảo ông ấy kiểm tra lý lịch lão Lâm Quan xem lão thuộc thành phần nào. Cả con mẹ Hoàng Nga nữa vì hai đứa chúng nó quen nhau! Bảo ông Hoài điều tra xem hai đứa ấy quan hệ với nhau như thế nào? Họ Lâm thì có thể là người Hoa. Biết đâu lão chả là gián điệp của Trung Quốc cài sang đây? Đi đi!

Bà Nhất ngồi bên cạnh chồng, gật đầu tán đồng ngay. Đối với bà Hoàng Nga có thể chỉ là vô tình khi giới thiệu thầy Lâm Quan. Nhưng bản thân lão Lâm Quan thì bà không tin được nữa, vì cứ như nội dung bức thư bà vừa đọc, biết đâu gã chả cố ý dùng phong thủy để hại chồng bà!

Hữu ngơ ngác không hiểu gì nhưng không dám hỏi lại. Mấy tháng thầy Lâm Quan công tác ở đây, được chủ tịch Nhất hết sức trọng vọng, sao bây giờ lại nhắc đến thầy một cách hằn học và ngờ vực như vậy! Hữu toan bước đi thì chủ tịch Nhất lại thêm:

– Cái người viết thư cho tao có còn ngoài cổng không?

Hữu gật đầu đáp nhanh:

– Còn chứ anh! Em bắt lão phải đứng đấy chờ lệnh anh!

Chủ tịch Nhất nói:

– Mày đưa người ta vào đây gặp tao đã, rồi chạy đi gặp trung tá Hoài.

Hữu lại giật mình, tròn mắt nhìn chủ tịch Nhất. Xưa nay chưa bao giờ chủ tịch Nhất chịu tiếp một người lạ mà lại tiếp tại tư gia. Nhưng ông nhắc lại:

– Ra đem ông ấy vào đây! Tao cần hỏi vài câu!

Bà Nhất ngơ ngác hỏi:

– Ai? Ai ở ngoài cổng? Người đưa thư hay sao?

Hữu đáp thay chủ tịch Nhất:

– Chính ông này viết thư cho anh Nhất. Rồi chính ông ấy cầm thư lại đây! Ông ấy ký tên là Trần Quốc Phong.

Bà Nhất hiểu ra, gật đầu hài lòng:

– Ừ! Em ra đưa ông ấy vào đây, chị cũng muốn hỏi ông ấy vài câu. Xem chừng ông ấy giỏi hơn ông trước nhiều!

Hữu không biết người đàn ông lạ ấy viết cái gì trong thư, nhưng chắc không phải là những lời xúc phạm đến chủ tịch Nhất bởi giọng ông nhẹ nhàng lắm, mà ngay cả bà Nhất cũng có cảm tình. Hay đó chỉ là một người bà con xa cách lâu ngày bây giờ đến nhận họ hàng! Hữu vội quay nhanh ra cổng và đưa Phong vào.

Chủ tịch Nhất vẫn nằm trên ghế bố, thấy Phong, mới ngồi thẳng lên và đăm đăm quan sát. Quả đúng như Hữu mô tả, chính ông cũng thấy Phong chẳng những hiền lành mà còn có phong độ trí thức. Huống chi trong thâm sâu ông đã sẵn nể Phong về kiến thức phong thủy rất sâu sắc. Phong cúi đầu chào và giới thiệu:

– Báo cáo ông chủ tịch, tôi là Trần Quốc Phong!

Rồi quay sang bà Nhất, Phong lịch sự nói:

– Xin chào bà! Bà đây chắc là bà chủ tịch?

Bà Nhất mỉm cười gật đầu đáp lễ:

– Vâng! Chào thầy!

Hữu lại lui xa ra theo thói quen không được phép tham gia câu chuyện của “người lớn”. Anh trở lại góc sân lấy xâu chìa khóa rồi cho xe lao ra cổng, sang gặp trung tá Hoài như chỉ thị của chủ tịch Nhất.

Chủ tịch Nhất chỉ cái ghế mây bên cạnh, bảo Phong ngồi rồi dịu dàng nói:

– Tôi vừa xem xong thư của… thầy! Bà nhà tôi cũng đọc qua. Thầy xem phong thủy lâu chưa? Thầy ở đây hay ở đâu mà tôi không biết?

Phong chưa kịp đáp thì chủ tịch Nhất quay đầu vào bếp gọi người làm lấy nước cho Phong. Mặc dầu có gió sông vẫn thổi lên đều đặn, nhưng nhiệt độ buổi xế trưa đang còn gây gắt. Phong thoải mái đáp:

– Thưa ông chủ tịch, thưa bà! Tôi ở xa sang đây thăm người nhà. Tôi nghiên cứu phong thủy lâu rồi, nhưng thú thật là tôi rất kén khách. Nói, xin ông chủ tịch và bà bỏ lỗi cho, không phải ai thuê tôi cũng nhận lời! Có thể nói, tôi tìm khách nhiều hơn là khách tìm tôi! Chẳng hạn như trường hợp ông chủ tịch. Chính tôi tự nguyện tìm đến.

Chủ tịch Nhất đẩy bao thuốc lá về phía Phong nhưng Phong xua tay nói:

– Cảm ơn ông chủ tịch. Tôi không hút thuốc!

Chủ tịch Nhất mỉm cười hỏi:

– Tôi cũng đang thắc mắc! Tại sao thầy lại viết thư cho tôi? Thầy cứ nói thật đi! Động cơ nào, thầy biên thư cho tôi?

Chị người làm trong bếp bưng khay trà mới ra đặt trên bàn, đồng thời thêm một chai nước lạnh vì thấy trời đang nóng. Phong nói cảm ơn rồi tỉ mỉ kể:

– Tôi đi qua nhà ông chủ tịch nhiều lần. Ngay lần đầu tôi đã biết ngoại vi thiết kế hoàn toàn theo phong thủy. Tôi thích lắm, vì tính mỹ thuật rất cao, khác hẳn nhiều căn nhà chỉ chú ý đến phong thủy mà không chú ý đến mỹ thuật, làm cho căn nhà xấu hẳn đi!…

Bà Nhất cười chen vào:

– Xấu thì nói làm gì! Trông quái gở là đằng khác! Chẳng hạn tự dưng sơn nhà mầu vàng hay mầu hồng! Nhưng cái ấy là lỗi ở thầy phong thủy chứ đâu phải ở chủ nhà, có phải thế không thầy?

Phong nhũn nhặn đáp:

– Thưa bà lỗi cả hai!… Nhưng riêng nhà ông chủ tịch thì phải nói là tuyệt đẹp! Cả về mỹ thuật lẫn phong thủy.

Chủ tịch Nhất gật đầu cười hãnh diện:

– Cảm ơn thầy!

Phong bưng tách nước lên và ân cần tiếp:

– Nhưng mãi đến tuần vừa rồi, tôi mới tình cờ phát hiện ông chủ tịch tuổi Giáp Thìn, mạng Hỏa. Tôi giật mình vì thấy quanh nhà ông chủ tịch nhiều nước quá, trái với quy luật ngũ hành. Tôi suy nghĩ mãi không hiểu ai chỉ cho ông chủ tịch. Tôi biết mà không nói thì tôi áy náy trong lòng. Cho nên tôi mới đánh liều viết thư mang lại đây, vì sợ để lâu không có lợi cho ông chủ tịch!

Chủ tịch Nhất buồn rầu ngắt lời:

– Tôi hiểu rồi! Cho đến bây giờ tôi cũng chả biết tại sao ông thầy trước giúp tôi, lại không nhìn ra như thầy. Thầy nói đúng, ngũ hành là nguyên tắc cơ bản mà sao ông ấy không để ý! Ông ấy bảo tôi, nói đến phong thủy là phải có nước!

Bà Nhất chìa bàn tay bảo Phong:

– Thầy uống nước đi! Thầy không quen uống chè thì dùng tạm nước lạnh vậy!

Bà vừa dứt lời thì trong nhà có tiếng phone reo rồi chị người làm chạy ra bảo:

– Thưa bà mời bà vào nghe điện thoại!

Bà Nhất vừa đứng dậy vừa hỏi:

– Ai thế?

– Thưa, bà Mỹ Trang ạ!

Bà Nhất theo người làm vào bếp. Mảnh sân sau chỉ còn lại hai người, Phong uống hớp nước trà rồi tỉ mỉ giải thích:

– Vâng! Thưa ông chủ tịch. Ông hỏi động cơ nào tôi viết thư thì trước hết, đây là căn nhà đẹp nhất thị xã. Có thể nói nhờ căn nhà này mà thị xã đẹp hẳn lên, nhất là khu vực bờ sông. Đẹp mà sạch sẽ! Nhưng thiết kế toàn nước quanh nhà như thế này thì chỉ dành cho người mạng Mộc mà thôi. Vì Thủy sinh Mộc!

Ông chủ tịch Nhất chuyển đề tài hỏi:

– Anh có biết hay nghe tiếng thầy Lâm Quan không?

Phong nhíu mày hỏi lại:

– Xin lỗi ông chủ tịch, thầy gì ạ? Thầy tu hay là thầy giáo?

Câu trả lời chứng tỏ Phong không biết gì về thầy Lâm Quan. Chủ tịch Nhất vội xua tay:

– Thầy Lâm Quan chuyên về phong thủy. Ông ấy chỉ cho tôi đấy!… Nhưng mà thôi! Bỏ qua chuyện ấy đi!…

Tuy nói thế nhưng ông lại thêm bằng giọng nuối tiếc:

– Ông ấy ở đây cả mấy tháng! Tôi chiều chuộng chả thiếu thứ gì! Lại còn giữ độc quyền, không muốn giới thiệu cho người khác vì tưởng ông ấy có tài!

Phong nhíu mày hỏi lại:

– Thầy phong thủy mà lại không hỏi tuổi, hỏi mạng của ông chủ tịch thì lạ quá! Hay ông ấy nghe nhầm chăng?

Chủ tịch Nhất lại nảy ra ý nghĩ ngờ vực giống như bà vợ lúc nãy đã nói: Biết đâu thằng Lâm Quan này chả là thành phần phản động, cố ý dùng phong thủy ám hại mình? Bởi vì về lâu về dài, Thủy sẽ dập tắt Hỏa như Phong nói trong thư! Ông rầu rầu tiếp:

– Đằng nào cũng đã lỡ rồi!… Trong thư, thầy bảo tôi là giảm bớt nước chung quanh nhà, mà phải giảm ngay! Tiền thì tôi không ngại tốn! Nhưng tôi chỉ ngại có một điều là mình mới làm xong, mời mọc bao nhiêu khách đến mừng nhà mới, bây giờ phá hết để giồng cây, người ta cười chết!

Vừa lúc ấy bà vợ từ trong bếp chạy ra. Bà nói điện thoại vội vã bởi đang hao hức theo dõi câu chuyện phong thủy của chồng. Nghe chủ tịch Nhất nói với Phong, bà nhăn mặt chen vào:

– Ông bảo tiền thì không ngại! Ngại chứ sao không ngại! Bỏ ra cả đống tiền, bây giờ thuê người đến phá! Có khác nào cầm nắm tiền châm lửa đốt!

Phong đặt cốc nước, nghiêm trang nói:

– Thưa bà, cũng chả cần phải phá hết đâu. Tôi có cách giúp ông bà chủ tịch!

Chủ tịch Nhất thở phào ngả người ra thành ghế. Ông rút điếu thuốc gắn trên môi, khoan khoái châm lửa rồi nhắc lại những lời mà ông đã nói với thầy Lâm Quan trước đây:

– Vâng thầy cố gắng giúp tôi. Làm lại, có phải tốn phí một tí, thầy cũng đừng ngại, miễn là được việc. Tôi không để thầy thiệt thòi đâu! Cần bao nhiêu công nhân thầy cứ bảo!

Phong biết chủ tịch Nhất đã hoàn toàn tin tưởng ở mình nên anh đề nghị:

– Xin phép ông chủ tịch mình đi tham quan một vòng! Được không ạ?

Chủ tịch Nhất gật đầu toan đứng dậy thì Phong lại đổi ý. Anh ngồi thẳng lên, cúi xuống bàn, cầm cái ly để mô tả cho dễ. Chủ tịch Nhất cũng ngồi thẳng lên, quay lại, chăm chú theo dõi mọi động tác của Phong. Anh nói:

– Hay thôi! Giời còn nắng quá! Ngồi đây cho mát… Tôi định thế này, thưa ông chủ tịch. Thưa bà. Chỉ có cái ao sen hông bên trái là ông chủ tịch sẽ phải bỏ. Nhưng cũng chẳng cần phải đổ đất lấp ao, tốn thì giờ lắm. Ông cho người đóng một tấm ván lớn dày một tí, giống như cái nắp hầm, đậy cái ao lại. Rồi mình đổ đất trồng cỏ lên trên. Thế là xong!

Chủ tịch Nhất hiểu ra, nét mặt rạng rỡ, gật đầu nói:

– Thế mà tôi nghĩ không ra!

Phong tự tin tiếp:

– Rồi tôi sẽ cho giồng một hàng cây xanh làm hàng rào ngăn giữa cái ao cũ với tường nhà, coi như chận hết sức phát huy của Thủy, giống như ngăn nước không cho vào nhà!

Chủ tịch Nhất càng nghe càng thấy cái tài bén nhạy của Phong. Bà Nhất cũng gật gù tán thưởng. Phong lại tiếp:

– Phía hông nhà bên kia, tôi coi như một khu công viên nhỏ, cũng là chỗ đẹp nhất trong sân nhà ông chủ tịch. Tôi đề nghị không thay đổi gì cả!

Bà Nhất ngạc nhiên ngắt lời:

– Cứ để nguyên được hả thầy: Thế thì tôi mừng lắm. Thú thật với thầy, tôi thì chả để ý phong thủy, nhưng mảnh sân ấy thì phải nói là ai cũng thích! Nếu phá đi hết thì tiếc quá!

Phong quay nhìn bà đáp:

– Vâng. Thưa bà, cứ để nguyên vì mảnh sân ấy chính tôi cũng thích nhất quanh nhà ông bà. Phá đi rất uổng! Chỉ cần khóa hết các vòi nước lại. Thế là xong. Khi nào cần, năm thì mười họa, mùa hè chẳng hạn, khi nhà có khách, ông chủ tịch muốn mở nước ban đêm cho đẹp thì cứ việc mở. Một vài tiếng đồng hồ thì không sao! Rồi tôi sẽ giồng thêm vài cây lấy bóng mát và để cho hợp với mạng hỏa của ông chủ tịch.

Những lời của Phong rất hợp ý chủ tịch Nhất. Quả thực khu vườn ấy ông say mê và hãnh diện lắm. Nếu đập ra hết thì quá đau lòng. Phong ngừng lại một chút rồi kết luận:

– Con suối trước nhà cũng không cần phải lấp. Chỉ ngăn dòng nước đừng cho chảy vào mà thôi. Cây cầu Nhật Bản cứ để đấy vì trang trí kiểu ấy rất đẹp cho tiền sảnh. Tôi sẽ đi tham quan một vòng rồi xem chỗ nào cần giồng thêm cây và cây loại gì, tôi sẽ báo cáo với ông chủ tịch!

Chủ tịch Nhật tươi cười hớn hở vì kinh nghiệm và óc sáng tạo của Phong đã giải quyết rất nhanh một công trình đáng lẽ phải phá tan rồi khởi công lại từ đầu. Ông nhìn bà vợ rồi lại nhìn Phong, dịu dàng lặp lại:

– Cám ơn thầy! Thầy định bao giờ thì mình khởi động? Phải công nhận thầy có nhiều sáng kiến rất hay. Thầy giúp tôi, tôi không để thầy thiệt thòi!

Nhân câu nói của chủ tịch Nhất, Phong hạ giọng hỏi:

– Thầy Lâm Quan trước đây giúp ông chủ tịch, ông chủ tịch trả công bao nhiêu?

Chủ tịch Nhất thở dài, chớp mắt kể lể:

– Tôi giao toàn quyền cho ông ấy chỉ đạo, bảo gì tôi cũng nghe, đòi mua gì tôi cũng nhất trí, thành ra tốn lắm! Nhưng lúc ấy tôi chỉ mong được việc cho mình nên chả để ý đến chi phí. Có biết đâu ông ấy ôm của tôi cả đồng tiền mà lại làm hỏng việc! May mà có thầy!

Bà Nhất cũng phụ theo lời chồng:

– Với lại lúc ấy quả thật vợ chồng tôi cũng có hối thúc ông ấy, vì không muốn kéo dài sang tháng mưa. Thành ra ông ấy cần cái gì nhà tôi cũng nhất trí, cần bao nhiêu công nhân, nhà tôi cũng bố trí đầy đủ! Nhà tôi trả bao nhiêu tôi cũng không biết. Riêng tôi, lúc ông ấy chào để ra về, tôi còn dúi cho ông ấy thêm hai triệu nữa để ông ấy đổ săng!

Phong phân vân một chút rồi quay sang nhìn cả hai vợ chồng và run run nói:

– Tôi sẽ giúp ông chủ tịch thiết kế lại cho hợp với mạng Hỏa của ông chủ tịch. Tôi sẽ làm hết khả năng của tôi. Làm đúng ý ông chủ tịch. Nhưng tôi không tính tiền công…

Bà Nhất giật mình cắt ngang

– Thầy không tính tôi cũng phải trả. Ai nỡ để thầy thiệt thòi! Nhà tôi đối với ai cũng rộng rãi như thế! Xin thầy đừng ngại!

Phong xúc động phân trần:

– Thưa bà. Tôi không tính tiền nhưng tôi xin ông chủ tịch một ân huệ! Thú thật: Đấy cũng là động cơ chính thúc đẩy tôi đánh liều đem thư đến gặp ông chủ tịch…

Bà Nhất giật mình nhìn Phong, hỏi lại:

– Ân huệ gì?Thầy cần cái gì, thầy cứ nói. Nhà tôi giúp được thì sẽ giúp thầy!..

Chủ tịch Nhất vội vàng ngăn lời vợ:

– Không phải chuyện gì tôi cũng giúp được đâu! Thầy đừng có đặt hy vọng nhiều ở tôi. Cái gì cũng phải có nguyên tắc, phải nằm trong khuôn khổ pháp lệnh của Nhà Nước, không thể tùy tiện. Nhưng thầy cần gì? Thầy nói thử tôi nghe xem nào!

Phong ngồi thẳng người, hai bàn tay đan lại trên đùi, chậm rãi kể:

– Thưa ông chủ tịch. Thưa bà, Tôi ở dưới huyện Vạn Xuân. Bố tôi là bộ đội phục viên, nhưng đã mất cách đây 15 năm. Các em tôi đều đã có gia đình và ở riêng, nhà chỉ có mình tôi ở với mẹ tôi, nay cụ đã trên 65…

Bà Nhất tò mò ngắt lời:

– Thầy chưa lập gia đình bao giờ hay sao?

Phong nhìn bà gật đầu:

– Thưa vâng! Tôi vẫn sống độc thân bên cạnh mẹ tôi!… Nhà tôi ở sát cạnh trụ sở Công An Xã An Lạc. Cách đây bốn tháng, căn hộ của mẹ tôi được lệnh giải tỏa, vì công an Xã có nhu cầu nới rộng trụ sở, buộc mẹ con tôi phải dọn đi chỗ khác. Khi công an đến đuổi mẹ con tôi, bà cụ vì thương căn hộ đã sống bao nhiêu năm, nên cũng có giằng co và mẹ tôi hơi nặng lời với công an. Hai bên cãi nhau rồi mẹ tôi bị các anh ấy đánh khá đau, trầy trụa hết cả mặt!.. Sau đó bà cụ bị bắt nhốt đến nay đã gần hai tháng… Thưa ông chủ tịch. Thưa bà. Mẹ tôi bị bệnh đau dạ dày đã lâu, đau kinh niên, ăn uống rất khó khăn mà bây giờ nằm trong tù, lo nghĩ quá, tôi sợ có mệnh hệ nào thì cả đời tôi sẽ ấy náy!

Bà Nhất nghe câu chuyện, mủi lòng nghĩ đến mẹ mình đã mất. Còn Phong thì cố nhịn để khỏi bật khóc. Anh cắn răng đổ cho mẹ mình cái tội “nặng lời với công an” chứ thật ra bà chỉ van xin gia hạn cho bà nán lại thêm một thời gian nữa thôi, chờ qua Tết mới dọn đi!

Bà Nhất không biết giải quyết ra sao vì đây là chuyện của chồng bà. Bà chỉ bấm nhẹ vào cánh tay chồng, nhắc ông trả lời Phong. Nhưng chủ tịch Nhất vẫn đăm chiêu ngồi yên. Việc công an đánh người diễn ra thường xuyên trên phạm vi cả nước, không có gì làm ông bận tâm. Lãnh đạo cao cấp như ông, rất ngại can thiệp vào những hành vi sai trái của công an bởi trong thời bình, công an là lực lương chính để bảo vệ sự sống còn của chế độ, cho nên họ có lạm quyền ông cũng quay mặt làm ngơ.

Phong đưa tay quẹt nước mắt rồi khẩn khoản tiếp:

– Tôi không biết cậy nhờ ai, cũng không biết làm cách nào gặp được ông chủ tịch nên đánh liều viết lá thư, hy vọng được ông chủ tịch để mắt đến… Nhà bị giải tỏa đã đành, vì nhu cầu mở rộng đồn công an. Cái ấy tôi đành chịu, không dám làm phiền ông chủ tịch! Nhưng tôi chỉ xin ông chủ tịch đặc ân cho mẹ tôi được về dưỡng bệnh…

Chủ tịch Nhất suốt buổi chiều hôm nay ngồi đọc thư rồi bàn chuyện với Phong, mặc dầu dù công việc tràn ngập ở văn phòng. Đời ông, chỉ có chuyện phong thủy mới lôi kéo được ông kiên nhẫn như vậy. Ông đứng dậy và bảo Phong:

– Thầy viết tên tuổi mẹ thầy, ở xã nào, huyện nào, bị bắt ngày nào, giam ở đâu. Đưa tất cả mọi chi tiết cho tôi. Rồi thầy liên hệ về nhà, bảo người nhà chuẩn bị đến đón mẹ thầy về! Tôi sẽ điện cho công an tỉnh ngay bây giờ!

Phong bồi hồi đứng dậy theo moi trong túi mảnh giấy, trao cho chủ tịch Nhất và nói:

– Thưa, tôi có sẵn tất cả mọi chi tiết đây ạ! Xin cám ơn ông chủ tịch. Cám ơn bà có lòng thương!

Bà Nhất thở phào mừng rỡ vì chính bà cũng thấy tội nghiệp bà mẹ của Phong. Trước khi quay vào nhà, chủ tịch Nhất dặn Phong:

– Tôi phải chạy ra Ủy Ban bây giờ. Sáng mai độ 9 giờ, thầy đến đây. Mình bắt tay vào việc!

Quay sang vợ chủ tịch Nhất dặn:

– Bà nhớ nói với bảo vệ, hễ thấy thầy Phong đến thì mở cửa cho thầy vào!

Phong thở phào bước xuống thềm, hân hoan đi như chạy ra cổng chính. Đầu óc anh vẫn còn lâng lâng như người say rượu bởi không ngờ chủ tịch Nhất giải quyết giúp mình một cách nhanh chóng như vậy.

Bao nhiêu năm nghiên cứu phong thủy, hôm nay lần đầu tiên, anh mới thấy quả thực phong thủy đôi khi cũng có lợi!

Nguyễn Ngọc Ngạn

 

More Stories...