Người Công giáo ở Toronto

Nguyễn Ngọc Ngạn

Năm nay, trong khi Canada hân hoan kỷ niệm 150 năm, thì tổng Giáo Phận Công Giáo Toronto cũng vừa long trọng ghi dấu 175 năm thành lập. Ngày khởi đầu mà giáo phận luôn luôn ghi nhớ là 17 tháng 12 năm 1841.

Tưởng cũng nên nhắc lại: Quebec là nơi người Pháp đặt chân đến và chiếm ngụ đầu tiên. Nước Pháp là một nước Công Giáo, cho nên Công Giáo được thong dong phát triển rất nhanh ở Quebec, ngày nay còn để lại biết bao nhiêu ngôi thánh đường. Vùng Ontario thuộc ảnh hưởng của Anh, nên Tin Lành đương nhiên có ưu thế rất lớn, vượt hẳn đạo Công Giáo. Tuy vậy, ngay từ năm 1639 các giáo sĩ Dòng Tên (Jesuits) từ Pháp, đứng đầu là Jean de Brebeuf, đã tìm sang đây chung sống và giảng đạo giữa người thổ dân da đỏ rồi thành lập làng Công Giáo đầu tiên đặt là “Village of Sainte Marie”, nằm trong vùng Mundy’s Bay thuộc Simcoe County. Vùng này về sau được đổi tên thành Midway cho đến ngày nay. Các nỗ lực lớn lao của 8 nhà truyền giáo Dòng Tên giữa khung cảnh giá buốt và thiếu thốn đủ mọi mặt, được giáo sĩ Brebeuf ghi lại tỉ mỉ và gửi về cho Nhà Dòng ở bên Pháp dưới triều vua Louis 14. Nhà Dòng đã in những bức thư ấy ra, chẳng những để làm tài liệu, để khuyến khích các tu sĩ khác, mà còn vì giá trị văn chương hàm chứa trong các bài viết của giáo sĩ Brebeuf, cho đến nay vẫn còn được ca ngợi.

Nhưng chỉ được 10 năm! Làng Công Giáo mà các giáo sĩ Dòng Tên dày công tạo dựng ở Midland phải thiêu hủy hết năm 1649 vì sắp lọt vào tay thổ dân Iroquois. Đám thổ dân này liên kết với người Hòa Lan, hay đúng hơn là bị Hòa Lan xúi giục và được Hòa Lan trang bị vũ khí. Hòa Lan (Netherlands) sau khi tách khỏi Liên Bang Tây Ban Nha, trở thành một quốc gia rất nhỏ bé về diện tích ở Âu Châu. Nhưng Hòa Lan nhanh chóng phát triển về hàng hải. Từ cảng Amsterdam, họ xuất phát tàu bè đi toàn thế giới, từng đến Việt Nam cạnh tranh với Bồ Đào Nha. Bồ chủ trương vừa mở rộng thị trường vừa giảng đạo. Hòa Lan thì nặng về thị trường nhiều hơn. Họ ít chú trọng việc đánh chiếm thuộc địa bởi dân số Hòa Lan ít ỏi, có chiếm được cũng không giữ được!

Mặc dù đa số dân Hòa Lan vẫn theo đạo Công Giáo, nhưng Triều đình thì chọn hẳn Tin Lành, tầm ảnh hưởng của phái Luther và Calvin rất mạnh mẽ. Vào thời ấy Tin Lành và Công Giáo không Hòa thuận như bây giờ, nên vẫn thường xảy ra những xung đột có khi rất nghiêm trọng. Jean de Brebeuf cùng 7 vị giáo sĩ trong nhóm của ông lần lượt bị giết hại vì bảo vệ Đức Tin. Mãi đến năm 1930 thì họ được Giáo Hội phong thánh, gọi là “Canadian Martyrs” (các thánh tử đạo Canada) và lập đền thờ tại Midland, hằng năm đông đảo người từ khắp nơi đến hành hương.

Khi Anh thắng Pháp, chiếm được Canada, Anh Giáo tất nhiên được đặc biệt ưu đãi. Công Giáo giữ một vị trí rất khiêm tốn, ngoại trừ vùng Quebec đông giáo dân. Toàn quyền Lord John Graves Simcoe dành cho Giáo Hội Anh những diện tích đất đai rất rộng lớn. Toronto, hay đúng hơn là vùng York, năm ấy 1802, tổng số Công Giáo chỉ có 170 người. Hai mươi năm sau, đám người ít ỏi này gom góp tiền bạc xây dựng ngôi thánh đường đầu tiên. Đó chính là nhà thờ gạch đỏ St. Paul’s, làm nền móng khởi đầu cho giáo hội Công Giáo Toronto phát triển sau này.

Năm 1841 Giáo phận Toronto được thành lập, nghĩa là tách khỏi giáo phận đầu tiên tại Kingston. Năm sau, giám mục Michael Power được Toà Thánh bổ nhiệm coi sóc Giáo Phận mới này mặc dầu ngài mấy lần từ khước. Tình hình Toronto lúc ấy phức tạp lắm. Về mặt chính trị và xã hội thì có 3 nhóm người liên kết với nhau để thống trị, đó là những người Anh có thế lực từ mẫu quốc, những người Anh Giáo và những người Tin Lành Methodist. Ba nhóm người này tập hợp lại, gọi chung là “Family Compact”. Methodist cũng là một hệ phái của Anh Giáo, khởi đầu do hai anh em ông John và Charles Wesley cùng một người bạn là George Whitefield đề xướng. Cả 3 đang là mục sư Anh Giáo. Lúc ấy, các ông thấy Anh Giáo có vẻ buông lỏng quá, nên các ông muốn phục hồi lại bằng phương pháp tâm linh nghiêm túc hơn. Các ông bị đuổi khỏi nhà thờ, ra đường đứng giảng và thành lập các nhóm nhỏ hết sức tích cực. Mặc dầu lúc đầu bị gọi một cách chế giễu là “trường phái phương pháp” (Methodist) nhưng Methodist mau chóng được nhiều người hưởng ứng, nhất là các bà sùng đạo, nên phát triển rất nhanh ở Anh và ở Mỹ. Tại Toronto, vào thời ấy, phái này kết hợp với Anh Giáo để chống lại Công Giáo (Roman Catholic).

Về mặt nội bộ Công Giáo Toronto lúc ấy thì các vị lãnh đạo phần lớn đều là người nói tiếng Pháp từ vùng Quebec, cho nên các linh mục và giáo dân ở Toronto gặp khá nhiều trở ngại. Chính vì vậy Toà Thánh mới bổ nhiệm Đức Cha Michael Power làm giám mục tiên khởi Giáo phận Toronto.

Giám mục Power sinh ở Halifax năm 1804, là con đầu lòng của một gia đình di dân từ Ái Nhĩ Lan. Ở Halifax ngày ấy có rất đông người Tin Lành và cậu bé Power đã phải làm quen với sự nhịn nhục vì khác biệt tôn giáo. Năm 11 tuổi, cậu được cha mẹ gửi vào chủng viện Montreal. Trở thành linh mục năm mới 22 tuổi, cha Power có lợi thế hơn các tu sĩ khác là thông thạo hai thứ tiếng, giúp cha dễ dàng đi giảng đạo 14 năm ở cả hai vùng Tiếng Pháp hoặc Tiếng Anh.

Khi giáo phận Toronto thành lập, Toà Thánh thấy không ai thích hợp hơn cha Power. Cha được phong giám mục ở tuổi 37 và bổ nhiệm về đây tháng 6 năm 1842. Vừa nhậm chức, ngài ban bố ngay một số luật lệ cho các linh mục trong giáo phận, chẳng hạn như:

– Không đi lang thang ra ngoài giáo xứ của mình.

– Không lấy tiền lệ phí các nghi thức tôn giáo như đám cưới, đám tang v.v…

– Phải ghi chép và lưu giữ hồ sơ của tất cả nghi thức như rửa tội, phép cưới, đám tang v.v…

– Linh mục ra đường phải mặc áo chùng đen cho mọi người nhận thấy mình là linh mục.

Cần nhắc lại, vào thời ấy, tổ chức “Orange Secret Society” thường hay gây hấn rồi công khai tấn công giáo dân và linh mục, nên nhiều người Công Giáo khi ra đám đông không muốn thiên hạ nhận ra mình là người Công Giáo. Orange Society là một hội kín quá khích của Tin Lành thành lập năm 1795, dưới tên của William of Orange, người chủ trương độc tôn Anh Giáo. Vào năm 1834, Hội Kín này đã có đến 14,000 hội viên tại Canada, đa số tập trung ở Toronto. Không khí kỳ thị kéo dài rất lâu, ngày nay sách vở còn ghi lại: Trong khoảng 25 năm từ 1867 đến 1892, Hội Orange đã gây hấn và đánh nhau công khai với người Công Giáo Toronto trên đường phố 22 trận lớn nhỏ! Đáng nhớ hơn cả là ngày hành hương 25 tháng 9 năm 1875, giáo dân các nơi đổ về nhà thờ St. Michael, nhưng người Orangemen trang bị gậy gộc và thậm chí súng đạn, đã ùa ra đường ngăn cản. Đám đông hôm ấy ước lượng khoảng 8,000 người, đã phải đối phó với gạch đá và thậm chí trực tiếp đấm đá lẫn nhau. Đó là một trong những cái khó khăn nhất mà Giám Mục Power phải hết sức tế nhị để hoá giải.

Nhận xét về vị giám mục tiên khởi của Toronto, cha Hogan nói:

– Ngài có thể bị coi là quá cứng rắn, nhưng ngài rất công bằng và tích cực hoạt động, thật xứng đáng là vị chủ chăn của giáo phận.

Khi Đức Cha Power nhậm chức, Toronto chỉ có khoảng 3,000 giáo dân. Thiếu thốn hơn nữa là chỉ có 20 linh mục. Đức cha Power liền viết thư về Ái Nhĩ Lan xin tăng cường các linh mục cho Toronto. Trong khi chờ đợi, Ngài đi thăm viếng giáo dân và nảy ra ý định xây thánh đường St. Michael Cathedral, một cột mốc nền tảng cho Giáo Phận Toronto, khởi công ngày 7 tháng 4 năm 1845, hiện diện cho đến ngày hôm nay và đang được trùng tu với kinh phí 182 triệu dollars.

Trở lại với những tháng ngày khó khăn của giám mục Michael Power, đến năm 1847 toàn giáo phận Toronto vẫn chỉ có 25 linh mục, trong đó 10 vị chỉ thông thạo tiếng Pháp. Giám mục Power quyết định lên đường sang Âu Châu để xin thêm linh mục, đồng thời vận động tài chính cho ngôi thánh đường mới đặt nền móng. Trở về quê nhà, gặp đúng lúc Ái Nhĩ Lan gặp nạn đói toàn quốc vì vụ mùa khoai tây bị sâu hà. Sử sách ngày nay gọi là “Potato famine”. Hàng chục ngàn người Ái Nhĩ Lan ùn ùn di dân qua Bắc Mỹ. Thành phố Toronto lúc ấy có khoảng 20 ngàn người mà dân Ái Nhĩ Lan kéo qua 38,560 người, dừng chân ở đây qua Mùa Hè rồi sẽ tiếp tục hành trình sang Boston và New York.

Nhưng lúc ấy, bệnh dịch sốt ban (typhus) đang lan tràn, nhiều di dân Ái Nhĩ Lan chưa kịp lên đường sang Mỹ thì đã nằm xuống tại Toronto. Đức Cha Power lập ra 12 trạm xá để tiếp cứu họ, nhưng chính Đức Cha lại bị lây bệnh và chết cùng với họ năm 1847. Năm ấy ngài được 42 tuổi.

Như đã nói ở trên, mục đích chuyến đi Âu Châu của Đức Cha Power là để xin viện trợ thêm nhân lực cho giáo phận Toronto. Đáp lại yêu cầu của ngài, 4 nữ tu Loretto (The Blessed Virgin Mary), đứng đầu là sơ Gertrude Fleming 24 tuổi, từ Ái Nhĩ Lan đáp tàu thuỷ ròng rã một tháng rưỡi sang Toronto ngày 16 tháng 9 năm 1847. Mục đích của Đức Cha khi mời các nữ tu là giao cho họ nhiệm vụ dạy học nữ sinh ở Toronto.

Đến Toronto, 4 nữ tu Ái Nhĩ Lan và 1 nữ tu bản xứ, cùng vào trình diện Giám mục Power. Nhưng ngài đang quá bận rộn lo việc cứu giúp người bệnh dịch nên bảo các cô tự tìm chỗ ăn chỗ ở. Mới chỉ có mấy tháng mà di dân Ái Nhĩ Lam tạm trú ở Toronto đã chết mất 865 người rồi! Đức Giám Mục không còn thì giờ để tiếp các nữ tu nữa. Các cô xin ở nhờ nhà giáo dân rồi bắt tay ngay vào công việc. Nhưng thật là đau buồn cho các nữ tu vì qua đây chưa được 2 tuần thì Đức Giám Mục Power đã qua đời!

Các nữ tu lập tức mở lớp học cho nữ sinh, chia làm 2 loại: Miễn phí cho con nhà nghèo và thu phí những gia đình có đủ khả năng. Nhưng điều đáng nói là bản thân các nữ tu không chuẩn bị, hay đúng hơn là không đủ điều kiện để chuẩn bị cho mùa Đông Canada. Chỗ ở nghèo nàn, thiếu cả lò sưởi. Áo quần thì mong manh như ở Ái Nhĩ Lan. Kiếm được bao nhiều tiền các sơ dồn hết vào việc chăm sóc các em trẻ. Sơ Bonaventure Phelan bị lao phổi, mà trời lạnh ngắt, thiếu thuốc men, thiếu dinh dưỡng, cơ thể không đề kháng nổi, nên đến Toronto mới 19 tháng, sơ qua đời ở tuổi 32.

Sơ trưởng đoàn Gertrude Fleming, con một bác sĩ ở Ái Nhĩ Lan, ngày ngày đi bộ đến trường đôi chân lạnh cóng vì không có giày boot. Một thời gian, bàn chân sơ bị nứt nẻ rồi nhiễm trùng, phải cưa bỏ chân bên phải mà thời ấy không có thuốc tê! Cho đến nay, Sơ vẫn được coi là cô giáo đầu tiên của hệ thống trường Công Giáo mà sau này được Chính phủ chấp nhận. Sơ bị sưng phổi, cầm cự được một thời gian rồi mất ở tuổi 29.

Hai tháng sau, Sơ Ignatia Hutchinsun cũng bị sưng phổi và mất ở tuổi 32.

Sơ Magdelen Shea là người thứ tư nằm xuống. Sơ mất vì bệnh tim. Sơ không phải từ Ái Nhĩ Lan mà là người ở Toronto gia nhập nhà dòng tại đây.

Ngày nay, Tổng Giáo Phận Toronto đã có hơn 2 triệu dân, thuộc 225 giáo xứ, mỗi tuần cử hành thánh lễ bằng trên 30 ngôn ngữ khác nhau. (Giáo phận Toronto được Đức Giáo Hòang Pio thứ 9 nâng lên thành Tổng Giáo Phận ngày 18 tháng 3 năm 1870). Tờ Catholic Register cho biết: Khối lượng giáo dân tăng nhanh là nhờ những đợt di dân ồ ạt từ các quốc gia khác. Chẳng hạn như Ái Nhĩ Lan vào năm 1851, từ Ý ở những những năm 1900, từ Bồ Đào Nha vào những năm 1950 và từ Việt Nam vào những năm cuối 1970. Giáo dân tăng nhanh, nhưng giáo phận vẫn nghèo bởi đại đa số những người di dân ấy đều trắng tay khi đến Canada. Người Ý, người Bồ Đào Nha bỏ xứ vì kinh tế lụn bại ở quê nhà. Người Ái Nhĩ Lan thì vì trốn nạn đói. Người Việt thì trốn chế độ Cộng Sản. Có ai mang được gì đâu mà đóng góp cho Giáo phận, ngược lại giáo phận còn phải cứu trợ họ trong bước đầu!

Linh mục Trần Tập, quản nhiệm Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đã lên tiếng ca ngợi sự hiện diện của các giáo xứ sắc tộc vì cho rằng đó là mô hình đa văn hoá, trong đó Thánh Kinh được giảng dạy bằng ngôn ngữ và bằng truyền thống riêng của sắc tộc đó. Cha nói:

“Chúng tôi có rất nhiều người chưa rửa tội đến tham gia dự các nghi thức tôn giáo. Họ sẽ thấy rằng, Công Giáo không phải là tôn giáo lạ và không hề đi ngược lại văn hoá của họ”. (Catholic Register, May 28/2017)

Số lượng giáo xứ tăng nhanh đã đành, còn biết bao nhiêu trường Công Giáo, tu viện, chủng viện, trung tâm Y Tế và nhất là các cơ sở từ thiện của Giáo Phận. Nói cách khác, hôm nay ai cũng có thể nhìn thấy sự hiện diện lớn lao hùng vĩ của Giáo Phận Toronto. Nhưng nếu nhìn lại chặng đường 175 năm qua, bất cứ người Công Giáo nào ở Toronto cũng không khỏi ngậm ngùi nhớ đến những viên gạch đầu tiên được đặt xuống, đã trải qua bao nhiêu chông gai để có ngày hôm nay. Từ các giáo sĩ Dòng Tên bị sát hại ở Midland, rồi Đức Giám Mục Michael Power chết chung với bệnh nhân ở tuổi 42 khi ngài ra sức cứu giúp họ, cho đến các nữ tu Loretto hiến dâng cả cuộc đời cho các trẻ em. Tấm gương sáng mà Đức Giám Mục Power để lại, còn được sử sách ghi chép, là ngoài sự làm việc hết sức cần cù, ngài luôn luôn cố sức hàn gắn những bất Hòa giữa Công Giáo và Tin Lành. Ngài tổ chức cả những buổi barbecue mời người khác tôn giáo đến tham dự. Tuy ước muốn Hòa giải của ngài không thành công ngay ngày ấy, bởi còn rất nhiều người quá khích thuộc cả hai bên. Nhưng dù sao ngài cũng đã mở ra một con đường rõ rệt, bởi ngài là người có viễn kiến, biết nhìn xa, khát khao đạt tới cái đích làm sao để Giáo Phận càng ngày càng lớn mạnh.

Ngài nằm xuống, ai cũng tiếc thương. Đám tang của ngài có hơn 3,000 người đưa tiễn, trong đó có nhiều người không phải là Công Giáo.

Đức Giám Mục Michael Power

Sau Đức Cha Power, Giáo Phận Toronto không có Giám Mục suốt 3 năm. Đến 1850, Toà Thánh mới bổ nhiệm Đức Cha Armand de Charbonnel từ Pháp qua. Ngài xuất thân gia đình quý tộc, có tài sản lớn bên Pháp. Qua nhậm chức Giám Mục Toronto, việc đầu tiên ngài làm là bán đất đai của gia đình ngài bên Pháp để trả món nợ khổng lồ mà giáo phận đang nợ vì xây thánh đường St. Michael’s. Ngài vận động được cả những đóng góp từ bên Mỹ, từ Âu Châu và đặc biệt cả từ vài nhân vật lãnh đạo Tin Lành nổi tiếng như George Brown.

Giám Mục tiên khởi Power, cuộc đời ngắn ngủi nên chỉ đặt nền móng xây dựng Giáo Phận Toronto. Giám mục kế vị de Charbonnel nối tiếp bước đi và phát triển mạnh mẽ các cơ sở tôn giáo, giáo dục, y tế và từ thiện. Nhận nhiệm vụ được một năm, Đức Cha de Charbonnel xin Nhà Dòng bên Philadelphia gửi các nữ tu sang giúp vì giáo dân Toronto lúc ấy vừa nghèo vừa phải đối phó với vấn đề kỳ thị tôn giáo. Năm 1851, Mẹ Bề Trên Delphine Fontbonne cùng với 3 nữ tu (sisters of St.Joseph) lên đường sang Toronto. Suốt 3 năm vật lộn với công việc, Mẹ Bề Trên Fontbonne đã thành lập được một số trường học, viện mồ côi, nhà tạm trú và tu viện. Không may, năm 1855, Toronto lại tái phát dịch bệnh typhus. Mẹ Fontbonne nhiệt tình chăm sóc bệnh nhân nên bị lây nhiễm, rồi cũng giống như Giám Mục Power trước đây, Mẹ chết chung với bệnh nhân. Mẹ mất ngày 7 tháng 2 năm 1856, để lại hơn 50 nữ tu nối tiếp công việc của Mẹ. Các nữ tu này (The sisters of St.Joseph of Toronto) đã góp phần lớn lao trong việc xây dựng St. Michael’s Hospital, bệnh viện St.Joseph và hàng loạt trường học, nhà phục hồi cai nghiện cùng các cơ quan từ thiện.

Cộng đồng giáo dân Công Giáo Việt Nam rước kiệu Cung nghinh Đức Mẹ hôm 10/05/2017, trong ngày hành hương đến Đền các Thánh Tử Đạo Canada (Martyrs’Shrine), Midland. Ảnh: VPY

Năm nay, kỷ niệm 175 năm thành lập giáo phận, Đức Hồng Y Thomass Collins, viết trong là thư ngỏ đăng trên báo The Catholic Register như sau:

“Mãi mãi chúng ta mang món nợ lớn lao đối với những người đi trước chúng ta. Họ đã hy sinh quá nhiều, đã mở rộng tấm lòng quảng đại để vun trồng hạt giống đức tin và để phục vụ các thế hệ kế tiếp. Kỷ niệm 175 năm thành lập Giáo Phận, chúng ta cầu xin Chúa chúc lành cho hành trình đức tin hàng ngày của chúng ta. Ước mong mọi người chúng ta sẽ kế tục cái nền tảng mà Đức Cha Michael Power, cũng như những người nối tiếp ngài, đã dày công xây đắp”.

Nguyễn Ngọc Ngạn

Tháng 8/2017

 

More Stories...