Thời Báo Vietnamese Newspaper

Người con gái Dinh Mười

Trần Công Nhung

Chuyến tàu Sài Gòn Hà Nội về đến ga Ðồng Hới đúng 6 giờ chiều. Trời đã nhạt nắng. Mùa đông hẳn là tối mịt. Sau 75 ngành đường sắt có nhiều thay đổi về mặt hình thức, những nhà ga chính qua các thành phố đều được chỉnh trang xây cất thêm, lại còn trang trí cây cảnh, trông rất mát mắt. Tuy nhiên bên trong vẫn còn nhiều bất cập, từ cách tiếp khách, bán vé, ăn uống, vệ sinh trên tàu… rất luộm thuộm nhếch nhác.
Ra khỏi ga, tôi gọi một xe ôm, anh xe còn trẻ, có vẻ hiền.
Anh biết khách sạn nào tương đối ở được đưa tôi đến.
– Dạ răng chú?
– Khách sạn sạch sẽ, có nước nóng máy lạnh…mà gần trung tâm thành phố.
– Dạ, cháu đưa chú tới khách sạn ni, gần cầu Dài.
Nghe tên cầu Dài tôi đồng ý ngay, bởi đây là nơi tôi có nhiều kỷ niệm thời đi học.
– Vậy đi ngay kẻo tối, à mà anh lấy tôi bao nhiêu?
– Dạ chú cho mười ngàn.
Không hiểu sao anh xe thồ đưa tôi đến khách sạn này. Suốt con đường Quang Trung bao nhiêu là hotel, anh lại chọn khách sạn Vàng Anh. Tôi nghĩ, chắc anh đã hợp đồng đưa khách để có tiền cò. Nhưng không, anh chỉ nhận mười nghìn đồng nơi tôi rồi quay xe đi kiếm mối. Tôi đặt ba lô máy trên vai xuống và đến bên quầy làm thủ tục nhận phòng. Tiếp tân là một cô gái nhỏ nhắn, mặc chiếc áo ngắn tay, hai màu, tóc buộc đuôi gà. Khuôn mặt không đầy, hơi có dạng trái xoan. Nước da đậm đà không phấn sáp. Cô nhìn tôi mỉm cười:
– Chú cho cháu mượn chứng minh để đăng ký công an.
Tôi cúi xuống thọc tay vào túi, toan tìm giấy tờ thì kịp ngẩng lên nhìn vào đôi mắt của cô “Lễ tân”. Tôi vừa chợt nhận ra, dường như trong ánh mắt cô gái có cái gì u ẩn. Một vùng tối mông mênh. Thấy tôi thẳng người nhìn, cô lại cười, cười rất nhẹ. Miệng cười mà mắt vẫn buồn buồn.
Tôi đưa cho cô bản sao passport và visa.
– Mời chú lên phòng 203.
Tôi cảm ơn và nhìn lại đôi mắt cô gái một lần nữa. Người thanh niên phụ dịch mang hành trang của tôi lên phòng. May mà phòng lầu hai. Ði bộ mấy cũng được nhưng mỗi ngày hai bận lên xuống lầu tư, lầu năm, thì có rẻ mấy tôi cũng không màng. Tôi cho như thế vừa mất thì giờ vừa mất sức.
Làm xong công việc tẩy sạch bụi đường là trời sụp tối. Nghe chừng khách sạn không mấy người. Tôi lần xuống phòng khách, uống trà và chuyện vãn cho đỡ nhớ nhà và cũng là dịp tìm hiểu thêm nơi mình đã bỏ đi mấy mươi năm. Tôi hỏi anh nhân viên trực:
– Thường mấy giờ khách sạn đóng cửa?
– Dạ, 12 giờ, chú đi chơi thoải mái.
Tôi quay lại phía cô lễ tân:
– Khách vào đông nhất là khoảng giờ nào hả cháu?
– Thưa chú, từ 4 giờ chiều đến 9 giờ đêm. Nhưng sau 8 giờ là hết khách.
– Vậy cháu phải thức đến 12 giờ?
– Dạ.
Tôi nói chuyện một lúc rồi kết thúc:
– Cảm ơn các cháu, chú lên nghỉ đây.
– Chú không đi chơi phố.
– Chú thường ngủ sớm và dậy rất sớm. Sáng, mấy giờ có thể mở cửa.
– Dạ, chú muốn mấy giờ cũng được.
Từ cửa sổ lầu hai nhìn xuống, thấy một phần con đường Quang Trung, là phố chính nhưng không mấy tấp nập. Sông Nhật Lệ tối đen, dòng sông được đánh dấu bằng ánh đèn lung linh của những thuyền đánh cá. Ðẹp nhất có lẽ hình ảnh chiếc Cầu Dài. Cầu Dài cầu Ngắn hai chiếc cầu đi liền nhau. Ðây là chỗ rẽ của sông Nhật Lệ, một nhánh đi Mỹ Trung, một nhánh lên Long Ðại. Gọi là dài, kỳ thực cầu chưa quá 300m, thân cầu ưỡn cong lên. Những ngọn đèn cao áp nhòe nhoè trong màn sương đêm. Lâu lâu có một người quang gánh, cảnh trở nên mộng ảo. Ðẹp… Những ngày nghỉ học tôi thường vào xóm Câu rủ bạn lên cầu Dài tắm lội, hồi ấy có những ông Tây hay xuống chân cầu bê tửng tảng san hô lên bờ cạy sò ăn tại chỗ. Họ ăn ngon lành nhưng chúng tôi không dám bắt chước.
Tôi đứng nhìn cảnh đêm khá lâu, đoạn phim thời xa xưa quay lại rõ trong tôi, cho đến hình ảnh cuối cùng chấm dứt tôi mới trở vào phòng.
Nằm một lúc vẫn chưa ngủ được, cảm giác tàu chạy, hình ảnh lúc ban ngày cứ lởn vởn mãi, tôi chập chờn cho đến bốn giờ sáng thì tĩnh dậy. Bên ngoài sương dày đặc. Năm giờ, mọi người còn ngon giấc. Tôi gọi anh bảo vệ đang ngủ trong góc phòng khách:
– Phiền anh mở cửa giùm.
– Chú đi sớm rứa.
Ba lô máy trên lưng tôi băng qua đường, đi lên phía cầu, đứng ngắm cảnh thuyền qua lại trên sông mập mờ trong sương sớm. Những chiếc ghe lớn đầy cát hoặc sạn, chẳng hiểu họ lấy từ lúc nào, đã chen nhau sắp lớp dưới bến, ngay chân cầu. Xe tải, xe công nông (Xe chế từ máy cày Trung Quốc) ào tới “bốc hàng”. Quay lại con đường dọc bờ sông, trời đã sáng, đã nom rõ những con thuyền gần bờ. Sương từng lớp đặc, phân cảnh gần xa thành nhiều đợt, chẳng khác gì một bức tranh thủy mạc. Người dân đi đường tò mò đứng lại nhìn tôi đang lom khom chụp ảnh. Ngay sau chỗ tôi đặt chân máy, sát lề đường, một cô gái đang bày thịt heo, bán cho các nhà bán lẻ. Cô có đầu tóc khá dài, trong tư thế ngồi, tóc cô gần chấm đất. Tôi di chuyển máy dần về phía chợ, nhiều hoạt cảnh buổi sáng lạ mắt. Cho đến lúc sương tan, cảnh vật trở lại nguyên hình, tôi xếp chân máy, ba-lô lên vai và đi quanh thành phố.
Thành phố Ðồng Hới nay khang trang hơn mười năm trước nhưng vẫn chưa có cái tấp nập nhộn nhịp của Sài Gòn hay Hà Nội. Không thấy xích lô, xe thồ nhiều. Mờ sáng, xe ôm đã tụ lại trước các khách sạn hoặc đứng các ngã tư đường. Ngày nay xe thồ cũng hợp thời trang hơn. Không còn thồ bằng xe đạp mà xe Dream hay xe Min. Thấy tôi, họ tưởng khách nhỡ đường nên cứ rà theo mời:
– Chú đi mô chú?
– Chú đi xe cháu chở hè.
Tôi vui vẻ trả lời một vài người về sau chỉ lắc đầu. Một câu mà nhắc lại nhiều lần trong lúc mình mãi ngắm cảnh, xem ra cũng mệt. Tôi vòng một vài khu phố rồi về khách sạn, cất đồ đạc, xuống phòng khách. Nếu không có việc gì cần, ít khi tôi nằm trong phòng, phòng chỉ dành cho giấc ngủ.
Khác với trong Nam, các tỉnh miền Bắc thường dùng trà Bắc Thái, trong khách sạn hoặc quán ăn, trà đều ngon. Khách ngồi vào bàn là đã có người đến pha trà. Cô “Lễ Tân” pha bình trà đầu ngày, rót một tách mời tôi:
– Mời chú uống trà.
– Cảm ơn, cô đừng bận tâm.
– Sáng chú đi ngắm cảnh sớm rứa?
– Sương mù quá đẹp, tôi không ngờ gặp được dịp may này. Mấy bữa trước có sương như vầy không cô?
– Dạ không, đây là lần đầu cháu thấy. Sương mù không mặt trời răng chú chụp ảnh được?
– Thế mới đẹp.
Cô gái cúi xuống, cười với vẻ nghi ngờ. Tôi hỏi sang chuyện khác:
– Khách sạn vắng, công việc có vẻ nhàn hỉ.
– Dạ cũng nhiều việc lắm chú à.
Nói xong cô đi vào trong mang ra một mớ khăn lau, khởi sự cho công việc đầu ngày. Bàn ghế, cửa gương tủ kính, hai bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt một nhoáng là xong. Vừa nhấp trà tôi vừa nhìn ra bờ sông, làng mạc ghe thuyền hiện ra lộn xộn không còn huyền ảo như lúc sáng sớm. Lát sau, cô lễ tân xách một bộ ga men đi ra và hỏi tôi:
– Chú muốn ăn sáng chi, cháu mua luôn.
Tôi ngạc nhiên vừa thích thú, đáp ngay:
– Nếu được, mua giùm chú vài trái bắp.
– Chú ăn bắp? Có nhiều món ngon mà rẻ, phở gà, cháo lươn, cháo canh.
Có lẽ cô gái nghĩ tôi tiếc tiền, tôi giải thích:
– Vâng, cảm ơn cháu, nhưng chú rất thích ăn bắp. Bên Mỹ bắp không ngon bằng bắp ta.
– Thật hả chú? Cháu thấy Nho, Táo Mỹ rất ngon, đắt mấy người ta cũng ăn.
– Nhiều khi do ám thị mà ra cả. Xứ ta có cam Xã Ðoài, bưởi Ðoan Hùng, Phúc Trạch, Biên Hòa, xoài Bình Ðịnh, sa bô chê, nhãn hạt tiêu và nhiều thứ khác mà Mỹ không có, hoặc có cũng không sánh bằng.
– Vậy mà cháu cứ tưởng…
Tôi nhìn cô gái tỏ ra thông cảm:
– Nhiều người như thế chứ không riêng cô.
Cô gái quay đi dấu một nụ cười, rồi ra sân đạp xe xuống chợ.

(Còn tiếp)

Trần Công Nhung

Tin sách
Sách Quê hương qua ống kính bộ 16 tập (discount 50% 10 tập đầu) xin liên lạc tác giả:
Nhung Tran
PO.Box 163
Garden Grove, CA. 92842
Tel. (816) 988-5040
email: trannhungcong46@gmail.com

Comments are closed.

error: Content is protected !!