Thời Báo Vietnamese Newspaper

Ngộ độc

Bài – ảnh: Trần Công Nhung

Ngộ là gặp gỡ, “tha hương ngộ cố tri” (xa quê gặp bạn cũ), “ngộ cố hương”, (gặp lại quê nhà), “hữu duyên thiên lý ngộ…” (có duyên thì xa nghìn dặm cũng gặp nhau). Hội ngộ, tao ngộ, tái ngộ, kỳ ngộ, hạnh ngộ, đốn ngộ…đều là tiếng gợi cho ta những hình ảnh và tình cảm đáng quí. Một nghĩa khác của ngộ là nhầm: Ngộ nhận (nhận nhầm). Trong dân gian, “ngộ” còn có nghĩa đẹp, người Nam thường nói: “Cô gái này ngộ (đẹp) quá ta”. Miền Trung và Bắc không có tiếng ngộ này, có lẽ ngộ (đẹp) xuất xứ từ chữ Hán “đĩnh ngộ” (khôi ngô, đẹp) do người Hoa truyền bá thời Mạc Cửu ở miệt Hà Tiên. Như thế “ngộ” không có gì khiến chúng ta lo lắng. Nhưng, khi nghe “ngộ độc”, thì ai cũng phải giật mình sợ hãi.
Những ai thường theo dõi báo chí, đều biết, ở Việt Nam, ngộ độc xẩy ra hàng ngày. Học sinh ngộ độc, công nhân ngộ dộc, du khách ngộ độc, ngộ độc không phải một hai người mà hàng trăm. Tiệc cưới vừa xong, liên hoan vừa dứt, là kéo nhau vào bệnh viện giải độc. Phần đông người trong nước cho là chuyện bình thường, không có gì khiến họ ngại ngần trong việc ăn uống. Thịt cá rau cải bầy bán từ đường lộ vào trong ngõ ngách, thành phố càng lớn càng đông người, việc ăn uống càng phức tạp, ăn ngày ăn đêm, từ nhà hàng sang trọng đến quán hẻm lù mù, ăn bên rác rưởi cống rãnh, người ta ăn uống tưng bừng ầm ỹ như chơi bóng đá đánh bóng chuyền. Giả sử có ai ôm bụng lăn đùng ra đấy thì người khác vẫn thản nhiên ăn uống. Du khách hẳn là ngạc nhiên về nếp sống của người Việt. Cà phê, bia rượu suốt ngày thì làm việc vào giờ nào? Vậy mà nhà sang xe xịn, đúng là “đất nước anh hùng, nhà nhà anh hùng, người người anh hùng” như “loa đài” thường ca ngợi. Chỉ trừ thầy Ðỗ Việt Khoa (Hà Tây) bảo: “Nhà nhà nói dối, người người nói dối”. (1)
Ngộ độc thức ăn trong thời gian gần đây ngày thêm trầm trọng nên để trấn an công chúng, người ta đẻ ra những từ mới: Rau sạch, rau an toàn… nước sạch, nước an toàn… Nghe buồn cười, hóa ra lâu nay ăn rau bẩn, uống nước dơ. Cái hay của đất nước ta là mỗi khi có sự kiện bất lợi cho tuyên truyền thì bộ phận “tu thư từ” nặn ra thứ tiếng mới để làm đẹp những việc bị dư luận chỉ trích chê bai (2).
Nhiều người Việt ở hải ngoại về thăm nhà, đóng theo từng thùng thực phẩm để đỡ phần nào ngộ độc trong ăn uống. Tôi nghĩ, thế cũng chỉ một hai bữa, đôi ba ngày, chứ đi lại nhiều nơi thì may rủi là chính. Kinh nghiệm bao nhiêu lần đi về, tôi hết sức cẩn thận, tránh hẳn ăn rau tươi, thứ gì cũng nấu thật chín, phở, bún, lẩu…xem ra an toàn, hoa quả chỉ ăn thứ nhà quê còi còi, những quả ổi to như quả bưởi miệt Long Khánh là không dám. Ngày nay ô nhiễm thấm sâu vào máu huyết, tim óc con người, ai cũng thấy quen thuộc với chất độc, quen thuộc với sai trái, không mấy ai nhắc đến lương tri, nghĩ đến lương tâm. Luật pháp chỉ thấy trên khẩu hiệu, và chính người làm luật lại vi phạm luật trước hơn ai. Người “dân chay” phải tự lo các thứ. Nhưng trong một xã hội phát triển như ngày nay, làm sao mọi người không liên quan đến nhau. Và, lúc cần đến nhau mới biết thế nào là thực chất của tổ chức. Ðã có người chua chát bảo: “Nhà thương là nhà tù, cấp cứu là cấp tử…”
Hôm gặp lại người bạn cũ ở Huế, tất nhiên vui mừng, vui mừng mà thiếu “liên hoan” thì chưa trọn nghĩa. Anh đưa tôi đến nhà hàng Quỳnh Hương bên bờ sông Hương cạnh cà phê Vỹ Dạ Xưa. Cảnh trí thơ mộng, bên kia là cồn Hến, đôi ba chiếc đò nép dưới bóng tre nhả khói lam chiều. Tôi đưa thực đơn cho anh bạn. Bò bắp chắm gừng, lẩu lươn ăn bún…nghe cũng hấp dẫn, cần nhất là “an toàn”. Dĩa bò bắp lên bàn, bia Huda rót ra ly, “nào mừng hội ngộ”.
Trời chiều dần ánh sáng gom lại một vệt dài từ trên cao xuống mặt sông, tôi lấy máy bấm mấy cái rồi tiếp tục “chén chú chen anh”. Chuyện vãn chưa vơi, nồi lẩu lên tiếp, ánh sáng ban ngày nhường chỗ cho ngọn đèn chiếu xuống bàn ăn hơi dư sáng, làm giảm đi vẻ êm đềm thơ mộng của dòng sông, cảnh không còn đẹp như lúc chiều. Không bị chói sáng chúng ta có thể thấy mờ mờ mấy con thuyền bên kia sông, lấp lánh ánh đèn…
Tôi sực nhớ điều gì đó, hỏi qua người bạn: “Hình như dạo này ở đâu cũng nói đến ngộ độc thực phẩm” – “Chừ ai cũng chạy theo đồng tiền, họ bán ẩu tả mới có lời, anh ăn bánh nậm coi chừng, họ không làm tôm mô nợ. Tôm là thịt băm nhuộm màu. Nhiều quán đi lấy lại, bán không hết để thiu, hễ có khách là đem hấp nóng lên như bánh mới”. Thế thì cũng khó mà biết được mới cũ.
Lúc gần nửa nồi lẩu, tôi có cảm giác lươn không được tươi, thường lẩu lươn thịt mềm, ngọt và nguyên con hoặc chỉ một hai khúc, đây thịt cứng như lươn khô. Từ ý nghĩ đó tôi cảm thấy không yên tâm, bụng hơi cứng cứng. Tôi gọi bồi bàn thanh toán về ngay khách sạn.
Người bạn cùng phòng hỏi thăm chuyện gặp gỡ, tôi trả lời qua loa rồi đi nằm, vì thấy như có gì đó báo hiệu chuyện chẳng lành. Tôi chuyển bụng rồi đi ngoài, đi mấy lần liền trong vòng 2 tiếng đồng hô. Biết đã bị ngộ độc, tôi uống ngay 2 viên thuốc tiêu chảy cực mạnh, nhưng không ăn thua. Tôi thấm mệt, mồ hôi vã ra như tắm… người bạn lo lắng hỏi: “giờ làm thế nào” – “Em gọi taxi đưa anh đi cấp cứu”. – “Em thấy cấp cứu không ăn thua gì đâu, bố em đã cấp cứu, bác Khôi đã cấp cứu, hay nhờ khách sạn gọi bác sĩ”. Ðã khuya, không bác sĩ nào nhận lời, đành đi nhà thương.
Xe đưa tôi vào phòng cấp cứu bệnh viện trung ương Huế. Ngay cửa vào, một bên văn phòng làm việc, một bên có mấy giường cho bệnh nhân. Người bạn đỡ tôi nằm lên giường rồi lo làm thủ tục. Chẳng ai hỏi tôi điều gì. Thủ tục tiền bạc xong, một y tá dẫn tôi vào bên trong, nơi đây có chừng 20 giường, một người băng bó đầy mình nằm bất động, một ông cụ rên hừ hừ, chẳng rõ bệnh gì. Thì ra giường ngoài làm thủ tục (nếu thủ tục “đầu tiên” không hoàn tất thì ra về luôn), giường trong mới cấp cứu. Nhưng cấp cứu gì mà như phòng trại giam, ngoài hai dãy giường trống trơn, không có gì khác. Người y tá bảo: “Ra ngoài mua cho bác cái gối”, bạn tôi không trả lời, đêm hôm thế này gối chăn đâu, hay bệnh viện có tổ chức “khâu” này.
Người tôi càng lúc càng mệt và khó thở, bụng cứ cứng lên, tôi mong bác sĩ đến khám để giúp tôi “giải độc”. Một toán chừng 5 người, ai nấy mặc áo blouse trắng, tôi mừng, đông người thế chắc họ sẽ khám kỹ. Họ đẩy đến một chiếc bàn nhỏ trên có chiếc máy với nhiều dây điện đỏ vàng. Họ bảo tôi cởi áo banh ngực ra, họ kéo hai ống quần tôi lên rồi dính các đầu dây vào khắp người. Họ cãi nhau về hai màu dây, vàng trên ngực, đỏ dưới chân, dây nào bên phải dây nào bên trái, không ai biết, họ giựt ra gắn vào nhiều lần. Có người càu nhàu: “Răng cái máy ni không có bản chỉ dẫn hè”. Người đã đuối, tôi càng lo cho hoàn cảnh oái oăm, tự nhiên mình thành ra những con chuột, con thỏ trong phòng thí nghiệm. Tôi mong cho các “bác sĩ” suôn sẻ mọi việc. Chỉ là máy EKG (Elctronic cardiology), để làm tâm động đồ, thỉnh thoảng các cô Hương, Cúc ở phòng bác sĩ của tôi vẫn làm, nhanh chóng dễ dàng chứ có khó khăn rắc rối gì, hay cái máy của Việt Nam thuộc loại ưu việt chăng.
(Còn tiếp)
Trần Công Nhung

(1) Trả lời phỏng vấn sau vụ thầy Ðỗ Việt Khoa tố cáo “tiêu cực” ngành giáo dục.
(2) Phu hốt rác (công nhân môi trường), làm thuê nước ngoài (xuất khẩu lao động). Hôm vào khách sạn Hương Lam ở Ðà Nẵng, tôi than phiền mùi thuốc lá, chị bồi phòng trả lời cách tự nhiên: “Khách mới trả phòng cháu chưa kịp xử lý”. Tôi nghe mà giật mình. Nhà trường dạy cho chị nói thế để có “văn hóa” hơn là dùng chữ “dọn dẹp”.

Comments are closed.

error: Content is protected !!