Ngăn bão

Cuối tháng 11, khi mà người Mỹ chỉ lo nghĩ chuẩn bị cho ngày Lễ Tạ ơn với những bữa tiệc linh đình cùng gia đình và bạn bè, người ta quên mất rằng đây cũng là thời điểm kết thúc của mùa bão Đại tây dương. Thế nên mọi người, nhất là những ai sống dọc theo vùng duyên hải phía đông, cũng nên dành một phút để thở phào một cái vì rằng mình đã tai qua nạn khỏi và hình hài vẫn còn nguyên vẹn.
Mùa bão Đại tây dương chính thức chấm dứt vào ngày 30 Tháng 11, và mặc dù sự thiệt hại không ở mức kỷ lục như mấy năm vừa qua nhưng sự tàn phá do những cơn bão để lại trong năm nay có thể nói cũng khá nặng. Tháng 8, bão Dorian đổ vào vùng quần đảo Bahamas và cứ thế quanh quẩn trong khu vực trong suốt ba ngày rồi mới chịu bỏ đi sau khi gây thiệt mạng cho hơn 65 người. Kế đến là Tháng 9, cơn bão nhiệt đới Imelda đã đổ hơn 40 inches nước mưa (khoảng hơn 1 mét) xuống vùng duyên hải của Texas, gây ngập lụt nhiều nơi. Công việc sửa sang những thiệt hại gây ra bởi hai cơn bão này sẽ tốn nhiều tỷ Mỹ kim.
Do thiệt hại về nhân mạng trong mùa bão năm nay khá cao, ý tưởng tìm phương pháp mới để chuyển hướng bão một lần nữa lại được nhiều người đem ra bàn cãi. Và hồi hè vừa qua, được biết Tổng thống Donald Trump đã yêu cầu một số giới chức cao cấp thử xem xét coi có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để chuyển hướng bão cho khỏi đổ vào bờ biển của nước Mỹ. Khái niệm về việc sử dụng vũ khí hạt nhân để ngăn bão đã gây được sự chú ý của nhiều người đến nỗi trang mạng Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) đã phải lên tiếng và đưa ra nhiều lý do phản bác nói rằng ý tưởng đó không nên chút nào. Chỉ nghĩ tới hậu quả do bụi phóng xạ gây ra thôi cũng đủ làm cho nhiều người phải rùng mình phát khiếp lên rồi.
Tìm phương pháp để chuyển hướng đi của một cơn bão lớn mới nghe qua có vẻ là một chuyện khùng điên, nhưng thực ra ý tưởng này đã từng được thử nghiệm một vài lần trước đây. Ngay sau Thế chiến II, nhiều nhà khoa học tin rằng việc kiểm soát thời tiết là việc con người có thể thực hiện được và sẽ thành công, giúp chuyển hướng những cơn bão có tiềm năng gây thiệt hại và đồng thời đưa khối nước mưa khổng lồ của cơn bão qua cho những khu vực đang bị hạn hán.
Gieo hạt trên mây (cloud seeding) là một trong những phương pháp để biến đổi đặc tính của mây và qua đó ngăn cản để bão không thành hình hay cho đi chệch qua một hướng khác. Phương pháp này được phát triển lần đầu tiên vào năm 1946 bởi các nhà nghiên cứu tại công ty General Electric, nhờ qua các cuộc thí nghiệm mà họ nhận thấy rằng khí đá (dry ice) đã khiến cho hơi thở của chính họ biến thành những đám mây và sau đó thành tuyết ngay bên trong những tủ lạnh của công ty. Khí đá hoạt động như một hạt nhân nhân tạo, kích thích nước siêu lạnh ở trong tủ để hình thành những tinh thể tuyết và trong quá trình biến đổi đó đã thải ra một lượng nhiệt tiềm ẩn.
Kỹ thuật trên được các nhà nghiên cứu cho thay đổi đôi chút và sử dụng những tinh thể i-ốt bạc thật nhỏ và hoạt động hiệu quả hơn, không lâu sau đó được cho thử nghiện với mây thật ở trên trời để xem coi có thể tạo được mưa hay không. Kết quả chỉ đạt được một phần, tuy nhiên các dự án kiểm soát thời tiết ở quy mô nhỏ vẫn được tiếp tục, và đặc biệt ở những tiểu bang miền tây khô cằn thì các dự án này được chú ý nhiều hơn cả.
Rồi từ những đám mây nho nhỏ người ta cho thử nghiệm trên bão thật. Tháng 10 năm 1947, các nhà khoa học làm việc trong Dự án Cirrus được tài trợ bởi chính phủ đã lần đầu thử nghiệm biến đổi một cơn bão. Các kết quả thu nhận không những không rõ ràng mà còn gây thêm báo động. Sau khi gieo hạt, cơn bão, lúc đó đang ở phía đông Jacksonville, Florida, liền tức thì thay đổi hướng đi và di chuyển về hướng tây trước khi đổ vào bờ biển của hai tiểu bang Georgia và South Carolina gây nên phản đối dữ dội từ dân chúng. Không biết có phải sự gieo hạt trong mây đã làm thay đổi hướng đi của cơn bão hay không, nhưng cuộc thử nghiệm này làm dấy lên nhiều nghi ngờ về triển vọng kiểm soát thờ tiết của con người trong tương lai.
Mặc dù có nhiều rủi ro, tham vọng có thể kiểm soát một trong những lực thiên nhiên có sức tàn phá mạnh nhất trên trái đất vẫn tạo ra nhiều hấp dẫn. Sau một loạt những cơn bão gây nhiều thiệt hại trong những năm 1954 và 1955, quốc hội Hoa Kỳ đã tài trợ cho nhóm Dự án Nghiên cứu Bão Quốc gia với nhiệm vụ nghiên cứu và điều tra về phương pháp biến đổi bão. Một vài kết quả khả quan từ một thử nghiệm nhỏ trên bão Esther năm 1961 đã mở đường cho sự hợp tác chung của hải quân và Cục Thời tiết Hoa Kỳ với Dự án Stormfury được thành lập.
Các nhà nghiên cứu của dự án tin rằng bức tường ở quanh mắt bão chứa đựng một khối lượng nước siêu lạnh rất lớn. Nếu thả đủ số i-ốt bạc vào đúng vị trí này của cơn bão, họ lý luận rằng có thể khiến cho bức tường quanh mắt bão thải ra đủ lượng nhiệt tiềm ẩn và lượng nhiệt này sẽ trở nên bất ổn định và di chuyển ra ngoài cơn bão. Do định luật về bảo toàn động lượng quay (conservation of angular momentum), chuyển động này sẽ khiến cơn bão chậm lại và yếu dần đi, tựa như trường hợp khi một lực sĩ trượt băng dang rộng hai cánh tay ra ngoài thì vòng quay của người lực sĩ sẽ chậm đi vậy. Người ta quyết định cho thử nghiệm phương pháp này ở một vùng thật an toàn, xa hẳn những khu vực đông dân cư vùng duyên hải để tránh trường hợp bão tạt vào bờ. Năm 1963, nhóm Stormfury quyết định thực hiện hai cuộc thử nghiệm với bão Beulah, mặc dù cơn bão này tương đối nhỏ và con mắt bão cũng không rõ ràng. Lần thử nghiệm đầu, những hạt gieo không nhắm trúng những đám mây lớn, và cơn bão không thay đổi. Lần thứ nhì, gieo hạt trúng mục tiêu và gió giảm khoảng 20%.
Do điều kiện thiếu các cơn bão phù hợp để gieo hạt đã làm cho nỗ lực thử nghiệm phương pháp gieo hạt trên mây bị khựng lại cho mãi đến năm 1969, và các nhà nghiên cứu lúc này cũng đã có thêm kiến thức và hiểu biết của họ về bão. Thay vì tìm cách tạo sự bất ổn trong bức tường quanh con mắt bão, họ chú trọng tới cách thức mới là bơm vào một lượng lớn i-ốt bạc để kích thích sự hình thành một bức tường thứ hai, và bức tường nước nằm ở phía ngoài này sẽ làm yếu đi bức tường nguyên thuỷ quanh mắt bão bằng cách cắt nguồn cung cấp nhiệt và độ ẩm cho nó. Nhiệt và độ ẩm được xem là nguồn năng lượng chính làm tăng sức mạnh của bão. Các nhà nghiên cứu cho thử nghiệm phương pháp này lên bão Debbie năm 1969, thả hơn 1,000 viên i-ốt bạc vào trong bão. Cơn bão dường như có phản ứng, với tốc độ gió giảm đi theo đúng như ước định bởi giả thuyết. Một cơn bão khác cũng được gieo hạt trong chương trình thử nghiệm này là bão Ginger năm 1971, nhưng trung tâm của bão không đủ mạnh, và kết quả không được rõ ràng.
Và như sau này nhiều người đã biết, bão Debbie là đỉnh điểm của Dự án Stormfury. Chương trình này bị ngưng lại trong thập niên 1970 do nhiều lý do, trong đó một phần là vì có ít bão xảy ra trong khu vực của mục tiêu thử nghiệm. Đến nay thì không còn ai theo đuổi ý tưởng khoa học mà trước đây đã từng được nhiều người ủng hộ, đó là tìm cách biến đổi các cơn bão. Thêm một vấn đề nữa của giả thuyết Stormfury là các nhà nghiên cứu nay không còn nghĩ rằng giảm cường độ hay vận tốc gió của bão là điều thực tế và có lợi. Là vì mưa hay triều cường mới là yếu tố gây ra nhiều thiệt hại nhất chứ không phải gió.
Ngoài phương pháp gieo hạt trong mây, trong nhiều năm qua các nhà khoa học còn xem xét tới một vài kỹ thuật khác như: làm nguội nước biển bằng cách kéo những tảng băng ở bắc cực về, làm chậm sự bốc hơi nước trên mặt biển, thay đổi sự cân bằng bức xạ trong môi trường bão bằng cách hấp thụ ánh sáng mặt trời với muội than, thổi tan bão bằng bom khinh khí, và thổi bão qua hướng khác bằng các cối xay gió từ dưới đất.
Có thể nói không một gợi ý nào trong số đó có sức thuyết phục là vì tác giả của những gợi ý kia đã không đánh giá đúng mức về kích thước cũng như sức mạnh của những cơn bão. Một ví dụ, khi bão Andrew đổ vào bờ biển phía nam của Florida năm 1992, chỉ nội con mắt bão và bức tường nước bao quanh mắt đã tàn phá một khu vực rộng 20 dặm. Nhiệt lượng thải ra quanh mắt bão nhiều gấp 5,000 lần mức sản xuất nhiệt và điện lực cộng lại của nhà máy điện nguyên tử Turkey Point ở trong vùng khi mắt bão đi qua. Thế nên, việc xây nhà đúng tiêu chuẩn để đủ khả năng hứng chịu bão, việc sử dụng đất khôn khéo hơn, và việc dự báo thời tiết cho chính xác hơn là những gì con người có thể làm được vào lúc này mặc dù những việc làm này nghe ra có vẻ tầm thường và không có sức lôi cuốn. Nhưng để chế ngự được thiên nhiên vẫn là một công việc vượt quá tầm khả năng của con người hiện nay.

Huy Lâm

You might also like