Mưa tháng bảy…

Những cơn mưa sảng khoái đã qua lâu rồi. Những cơn mưa thường bắt đầu bằng con mắt lấm lét nhìn mẹ. Khi người quay đi thì mon men ra đầu hè, thò bàn tay nhỏ xíu hứng giọt mưa mát lạnh. Thuở bé đâu ai biết trong nước mưa mát lạnh có chất gây nghiện khi đã chạm vào nước mưa là chỉ muốn ướt thêm chút nữa, chút nữa. Và cứ thế khi mẹ đã quên để mắt tới đứa con ngổ nghịch vì tuồng cải lương trong máy hát đang hay, đang lâm li, mùi mẫn với Thành Được, Phượng Liên trong vở tuồng “Ông cò quận 9”. Thì ngoài hiên, ông cò con đã ra đến giọt máng xối, thò đôi chân trần tìm cảm giác mạnh, một cảm giác không mấy hồi đã thành cảm khoái. Mưa từ xa xưa đã hoang đàng, ướt được bàn chân thì ướt lên đến gối, đến đùi, ướt tới mép quần xà lỏn; mà cái chân thì không đủ dài để đứng trong hiên nhưng thò ra tới dòng chảy nên lần lần vạt áo ướt luôn. Vuốt mặt mới biết mình đã ướt nửa thân người nên bất chợt quay lại đánh thằng em, thằng bạn hàng xóm một cái để nó xô mình ra mưa thì mới có cớ trả lời mẹ là con bị đẩy ra mưa chứ không tự ý tắm mưa…

Khi hai, rồi ba… tới hết anh em và bạn hàng xóm không còn thằng nào trong hiên thì mưa làm chứng cho những trận banh cãi nhiều hơn đá đi vào lịch sử – lịch sử của một thời đất nước thanh bình có con nít đá banh dưới trời mưa là trò chơi không gì hấp dẫn bằng. Xa xa có chiếc xuồng chăn vịt chòng chành trong mưa xa vắng ngoài bãi sông; có cô bé nhà bên tròn xoe đôi mắt thả chiếc thuyền giấy theo dòng nước ngang sân, cô bé khóc òa khi thằng mắc dịch nào ngang qua đạp chiếc thuyền hoàng tử bẹp lép để trọn đời cô bé cô đơn.

Những cơn mưa không bao giờ dứt trong ký ức nhưng sảng khoái tan biến theo dòng lịch sử tối đen của quê nhà để đàn trẻ nhỏ không về nơi hiên nhà tuổi nhỏ. Bạn bè rồi xa theo quốc biến hưng vong; con thuyền không bến của công chúa lọ lem đã ra khơi tìm tự do nơi chân trời vô định; ông già chăn vịt buồn so một mình ngoài bãi sông năm cũ… Mưa bây giờ không thò tay ra hứng nước mà quẹt vội, nuốt vào những giọt mưa đã thấm tự thuở nào. Nước mắt chảy vào trong là tài sản của người có quê hương đánh mất.

Nơi vùng trời chỉ có hai mùa mưa nắng ấy đã tắm mát bao nhiêu mảnh đời trôi dạt muôn phương mà tự thân mỗi mảnh đời trôi dạt có dịp ngồi nhìn mưa rơi từ phương trời xa lắc chỉ thấy thương thầm biết bao kỷ niệm. Kỷ niệm không làm cho ai lớn lên hung dữ bao giờ khi nó hình thành từ dĩ vãng thân yêu: một xóm làng dân dã, những gương mặt dại khờ, trong sáng thơ ngây từ đôi mắt nghịch ngợm đến những đôi bàn tay không ngơi nghỉ phá làng phá xóm. Những đôi mắt tròn xoe nhìn mưa cười khúc khích, những đôi tay khéo léo xếp thuyền giấy như điềm gở về một cuộc đi xa.

Những ai đã đi xa thật rồi? Những ai đã ra đi không hề trở lại để quê nhà thiếu vắng những bàn tay xây tiếp cuộc đời bình dị của nhiều thế hệ đã bình yên trong phôi pha. Những ai còn tắm mát trong mưa vay mượn trên khắp địa cầu mà thèm khát giọt mưa quê nhà có cái lạnh run của những khi cảm lạnh; có hơi ấm bàn tay của mẹ đặt lên trán con dỗ dành ăn cháo, uống thuốc sau khi đã tẩn cho một trận đòn vì tội tắm mưa mà tiếng gió vi vu của cây roi đã làm nên huyền thoại mẹ.

Đã cả tuần, ngày nào cũng mưa. Mưa sáng lầm lũi đi làm; mưa chiều hoang hoải nhớ; mưa đêm rỉ rả buồn. Mưa bẽ bàng, mưa thui chột một ký ức thân thương để hoài niệm đầy cảm xúc: về. Về đâu khi cơn mưa đã dứt và dòng trôi đã cuốn mất một quê hương thanh bình có bạn bè, anh em tuổi nhỏ.

Mưa vẫn rơi trên miền đất cũ nhưng người già đã khuất, đàn trẻ lưu vong; thanh bình đã vắng bóng từ lâu. Mưa tháng bảy nơi này mù trời, vô định. Mưa không còn là tuổi nhỏ với những trò chơi vô tư nữa. Mưa nơi đây là họa, mưa hòa vào tiếng xe cứu thương, xe cảnh sát, xe cứu hỏa lao đến hiện trường tai nạn giao thông. Tiếng mưa bây giờ không còn vui như tiếng mưa tuổi nhỏ khi những mảnh vỡ trong tâm hồn người đã vô phương ráp lại. Từng mảnh, từng mảnh vỡ chỉ còn là chứng tích đã xa, những ký ức một thời ăn chưa no lo chưa tới, những thành tích phá làng phá xóm chập chờn trong mưa viễn xứ để biết mình nặng tình nặng nghĩa với cây mía, trái ổi, cái trứng ngỗng đã ăn từ mấy mươi năm trước nhưng hương vị một đời không tan.

Quê tôi ruộng vườn nên tuổi nhỏ gắn liền với con sông tắm mát, cây mảng cầu xiêm có ổ kiến to đùng nhưng chẳng trái nào kịp chín với một lũ thích phá phách hơn ăn. Trái mảng cầu sắp chín, còn hơi cưng cứng thì có cả hai vị ngọt và chua. Con gái thích chấm muối ớt nên xui con trai hái trộm còn con trai chỉ thích nhìn con gái chua cay nên bị kiến cắn một thời nhớ nhớ quên quên con nhỏ tham ăn đến cả trứng ngỗng, thế là bầy mưu lập kế gạt bà già Bùi Thược. Hai ông bà không con nên có nhiều thời giờ chăm bón vườn cây ăn trái, nuôi gia súc thật nhiều. Nhưng cây khô không lộc người độc không con, hai ông bà rào giậu ngăn sân với xóm làng còn hơn ấp chiến lược rào cộng sản. Rẫy mía của bà, bà tuốt lá mỗi sáng để những thân cây mía có đủ nắng nên mía nhà bà Bùi Thược danh bất hư truyền từ lớp trẻ này đến lớp trẻ khác là ngọt nhất trong xóm. Bà thường ngồi sổm, nhìn vào rẫy mía vừa thoáng, vừa sạch thì thằng nào trốn trong ấy được? Khi thấy một đọt cây mía còn xanh tươi dưới gốc cây mía khác; nghĩa là có trộm thì bà chửi từ ông làng ông xã xuống tới anh Nhân dân tự vệ không bảo vệ xóm làng. Nhưng vỏ quýt dầy có móng tay nhọn, có anh Nhân dân tự vệ trước khi đăng lính ra trận đã dạy đàn em: bẻ trộm xong một cây mía, bẻ đọt cây mía trộm bỏ lại hiện trường để dễ tẩu thoát là đương nhiên, nhưng không vứt đọt cây mía dưới đất cho bà ấy la làng mà tướt một lá mía tươi, cột cái đọt mía trộm lên thân cây mía kế bên. Thế là ba ngày sau, trong đám đọt mía xanh tươi có cái đọt héo khô thì bà ấy mới chửi, mà chuyện đã ba hôm trước ở xóm làng miền Nam thì đã là chuyện xưa thật là xưa…

Rồi hậu sanh khả úy, đàn em lớn lên kế tục sáng tạo của đàn anh một cách qủy quyệt hơn để diệt trừ ích kỷ, nhỏ nhen của những người sống thiếu tinh thần vị tha, thương người như thể thương thân mà sách Giáo khoa thư đã dạy. Ông bà Bùi Thược nuôi vài con ngỗng dữ hơn cả chó về hai cái giữ: Dữ dằn và giữ của. Hôm có tin tình báo là ngỗng nhà bà Bùi Thược nằm ổ. Con nhỏ tham ăn đã tròn thân như cái trứng. Nó học hiểu từ đâu chẳng biết mà giảng giải tận tường lẫn tận tình cho một đám hữu dõng vô mưu: “ngỗng khôn và dữ như chó nhưng ngỗng sợ rắn hổ hành như chuột sợ mèo. Nhưng rắn hổ hành là rắn độc nên khôn như rắn. Không dễ gì bắt được nó đâu! Tao nghĩ là lấy cọng bạc hà nướng lửa than cho mềm nhũn ra như con rắn, sau đó giã hành lá tha lên thì ngỗng khôn cách mấy cũng bị lừa là rắn hổ hành vô ổ cắp trứng. Ngỗng không chạy thì cũng nằm im chứ sao dám la lên om xòm…?”

Thế là những đôi mắt ếch thán phục quân sư đi học không giỏi nhưng hay chuyện phá làng phá xóm. Quân sư ra dịu kế đến mấy chục năm sau, ngồi nhìn mưa tháng bảy mù trời nơi viễn xứ mà nhớ mùi trứng ngỗng tanh tanh. Nhớ nữ tướng và bốn tên thảo khấu đi cắt cọng bạc hà ở vườn nhà, trốn đến nhà ông Thách là ngôi nhà hoang (ông theo Việt cộng nên loan tin chạy giặc từ miền tây lên Sài gòn ven đô. Xin chính quyền địa phương cấp đất cất nhà. Sau đó đi làm khuân vác ở nhà máy chà Ngọc An, vợ con ở nhà – hòa vào đời sống với xóm làng trong tình đùm bọc của người dân quê miền Nam. Nhưng một tối, cảnh sát chìm đến nhà ông lục soát. Cảnh sát tìm được súng chôn ngoài vườn cùng với truyền đơn của Mặt trận giải phóng miền Nam. Họ đưa ông đi với những tang chứng: Việt cộng nằm vùng. Vài hôm sau, vợ con ông trốn đi lúc nào không ai hay biết! Từ đó, căn nhà ông hoang phế – trở thành nơi tụ tập của đám trẻ phá làng phá xóm.)

Bốn tên thảo khấu ngồi nhìn nữ tướng nướng cọng bạc hà bằng lửa rơm, giã hành lá trong nón sắt của lính rồi tha lên cọng bạc hà làm con rắn hổ hành giả. Đâu vào đó, nữ tướng ơi ới ngoài cửa rào nhà bà Bùi Thược: “bán cho con 5 đồng chầm giuột đi bà Tư ơi!” Đâu dám kêu bà Bùi Thược trước mặt bà. Sau đó, chê mắc chê rẻ, chê chua chê ngọt… để kéo giờ chứ chầm giuộc nhà bà Bùi Thược thì to vừa đúng bằng đồng 5 đồng khía như hoa mai. Khi xanh chua dịu, khi chín hơi vàng và ngọt lịm xương mèo (bao nhiêu mèo hàng xóm lọt vô đất địa của bà đều mang tội bắt gà con nên ông bà làm bẫy mèo để có xác chôn dưới gốc chầm giuộc, gốc khế cho ngọt trái.)

Hai thằng nghi binh vác hai cây cần câu cá rô nhưng không ra ruộng, ra hồ mà cứ lượn tới, lượn lui bên hè nhà bà Bùi Thược, chỗ có cây xoài tượng khêu gợi bởi những trái là trái, trái nào trái nấy như ông tượng làm cho ông Tư (chồng bà) phải nhắc ghế ra ngồi canh. Ông không đến nỗi độc ác như bà vì trái gì rụng thì ông ném qua bờ rào cho cô hồn các đảng chứ không ích kỷ đến độ trái rụng cũng bán nửa giá. Bà đúng là người đàn bà thích tiền, là thứ trẻ con ít khi nào có.

Hai thằng gan dạ anh hùng thì bọc hậu. Thằng mập vạch rào kẽm gai cho thằng ốm chui vô khu chuồng gia súc. Thằng mập thấy rõ vì giữa trưa, con ngỗng nằm ổ đang lim dim ngủ, bỗng ngóc đầu lên định la làng thì thằng ốm lẹ tay liệng con rắn giả lên mình nó. Nó nghe mùi hành từ cọng bạc hà mềm nhũn như con rắn thì rúc đầu vô ổ rơm đọc kinh! Thằng ốm dở đít nó lên… lượm trứng! Chuyến đầu, chuyền ra bờ rào cho thằng mập được hai cái. Thằng ốm quay vô chuyến kế thì con chó bự như con gấu đánh hơi được người xâm nhập khu vực nó chịu trách nhiệm nên nhe răng tấn công chứ không sủa! Thằng ốm con nhà lính nên tính nhà binh. Trong ngặt nghèo, nguy khốn, nó xử sự thông minh và qủa cảm như những bậc anh hùng trong lịch sử: “chạy đi mập! Kệ tao”. Nó tặng cho con chó dữ một chút vải quần xà lỏn còn nó thì đã ngồi nguyên trong lòng ông Tư – đang canh hai thằng nghi binh, ông tưởng bọn nó tính thọc xoài. Ông Tư không thích bồi thường chó cắn con ai nên vội mở cửa rào tống khứ nó đi cho khuất mắt trước khi ai thấy mà có thể trở thành nhân chứng bất lợi cho ông; ông phải chịu tiền chích ngừa chó cắn cho thằng vừa ăn cướp vừa la làng.

Tập đoàn trộm trứng trông cậy vào người không đáng tin tưởng là thằng mập. Nó chạy thân nó còn chưa xong huống hồ còn tha hai qủa trứng, nên về đến sào huyệt (nhà ông Thách) chỉ còn có một. Cái trứng ngỗng bằng hai trứng vịt – nhìn đã thấy ngon. Bọn thảo khấu đi gôm rơn rạ, nữ tướng bắc cái nón sắt giã hành ban nãy lên ba hòn gạch để luộc trứng. Ánh lửa bùng lên tình Lương Sơn Bạc ấm áp thiên thu. Thằng ốm thất thểu trở về với dấu răng chó trên mông như người hùng về từ chiến địa. Nó được nữ tướng hứa cho nửa cái trứng khi đã luộc chín, còn lại chia đều cho mấy đứa còn lại. Nhưng nó làm cho bạn bè nhớ nó mãi là nó chỉ chịu chia đều, mỗi đứa cắn một miếng, xoay tua…

Lửa tàn, trứng vỡ. Bữa tiệc tuổi thơ không trọn vẹn khi bà Bùi Thược xách cây chổi chà đi lùng thảo khấu. Một thân già hom hem với cái khăn mỏ qụa trên đầu, áo nâu, quần đáy lá nem đem từ xứ thượng vào Nam-không giống ai. Cả gương mặt đấu tố-đằng đằng sát khí của bà; lòng tiếc của tăng lực cho đôi chân bước vội trên đường làng. Bà vừa đi vừa chửi như vào Nam để chửi. Chửi như Chí Phèo, bà vừa đi vừa chửi từ cao tằng tổ thủy, thúc bá đệ huynh đến cô nhi tỷ muội của xóm làng miền Nam làm thôn xóm bất bình. (Cái giá bà phải trả cho sự thiếu khoan dung là khi ông Tư mất. Đám tang người già mà hàng xóm le hoe như đám ma thằng hủi). Và hôm ấy, bà cũng đâu có thắng! Bất ngờ xông vô sào huyệt thảo khấu-tả xung hữu đột. Nhưng mãnh hổ nan địch quần hùng. Bọn thảo khấu rút ra sông, lội băng qua gò. Bữa tiệc mới thật sự bắt đầu trong căn chòi vịt khi hoàng hôn đã tắt trên sông.

Hương vị trứng ngỗng hôm ấy với phần mình không đủ nhét kẽ răng nhưng thơm ngọt một đời lưu lạc. Tuổi nhỏ và bạn bè là hơi ấm theo chân người tha phương khi gió mưa đầy trời. Nhất là mưa tháng bảy trên vùng trời mãn kiếp không quen. Mưa ở đâu cũng là mưa nhưng mưa nơi này ngồi nhớ nơi kia thì chỉ có người tha phương mới thấm. Bạn bè nay đâu? Xóm làng xa lắc nhạt nhòa trong mưa tháng bảy nơi này.

Phan

More Stories...